85.
KINH CHÂN NHÂN[1]
Tôi
nghe như vầy.
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng,
vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Ta
sẽ nói cho các ngươi nghe về pháp chân nhân, và pháp không
phải chân nhân[2].
Hãy lắng nghe, hãy khéo tư niệm”.
Các
Tỳ-kheo thọ giáo lắng nghe.
Phật
nói:
“Thế
nào là pháp không phải chân nhân? Ở đây có một người
thuộc dòng dõi hào quý, xuất gia học đạo và những người
khác thì không như vậy. Người ấy nhân vì dòng dõi hào quý
mà quý mình khinh người. Đó gọi là pháp không phải chân
nhân. Pháp chân nhân xét nghĩ như thế này: ‘Ta không phải
nhân bởi dòng dõi hào quý mà đoạn trừ được dâm, nộ,
si. Hoặc có người nào đó không phải dòng dõi hào quý mà
xuất gia học đạo, thực hành pháp như pháp, tùy thuận pháp,
hướng đến pháp và thứ pháp[3],
do đó mà được cúng dường, cung kính’. Như vậy, vị này
thú hướng sự chứng đắc pháp chân đế nhưng không quý
mình, không khinh người. Đó gọi là pháp chân nhân.
“Lại
nữa, hoặc có người đoan chánh, khả ái, những người khác
không được như vậy. Người kia nhân vì mình đoan chánh,
khả ái mà quý mình khinh người. Đó gọi là pháp không phải
chân nhân. Pháp chân nhân xét nghĩ như thế này: ‘Ta không
phải do vẻ đoan chánh khả ái này mà đoạn trừ được dâm,
nộ, si. Hoặc có người nào đó không đoan chánh khả ái nhưng
thực hành pháp như pháp, tùy thuận pháp, hướng pháp, thứ
pháp, do đó được cúng dường cung kính’. Như vậy vị này
thú hướng sự chứng đắc pháp chân đế, nhưng không quý
mình khinh người. Đó gọi là pháp chân nhân.
“Lại
nữa, hoặc có một người hùng biện, luận giỏi, những người
khác không được như vậy. Người kia nhân vì hùng biện,
luận giỏi mà quý mình khinh người. Đó gọi là điều của
kẻ không phải chân nhân. Pháp chân nhân xét nghĩ như thế
này: ‘Ta không phải do tài hùng biện, luận giỏi này mà
đoạn trừ được dâm, nộ, si. Hoặc có người nào đó không
có tài hùng biện, luận giỏi, nhưng người ấy thực hành
pháp như pháp, tùy thuận pháp, hướng pháp, thứ pháp, do đó
mà được cúng dường cung kính’. Như vậy, vị này thú hướng
sự chứng đắc pháp chân đế, nhưng không quý mình, không
khinh người. Đó gọi là pháp chân nhân.
“Lại
nữa, hoặc có người thuộc hàng Trưởng lão, quen biết với
vua, nổi tiếng với mọi người và có đại phước, những
người khác không được như vậy. Người kia nhân vì là Trưởng
lão, vì quen biết với vua, vì nổi tiếng với mọi người
và có đại phước mà quý mình khinh người. Đó gọi là pháp
không phải chân nhân. Pháp chân nhân xét nghĩ như thế này:
‘Ta không phải do Trưởng lão, không phải do quen biết với
vua, nổi tiếng với mọi người và có đại phước mà đoạn
trừ được dâm, nộ, si. Hoặc có người nào đó không phải
là Trưởng lão, không quen biết với vua, không nổi tiếng
với mọi người và cũng không có đại phước, nhưng người
ấy thực hành pháp như pháp, tùy thuận pháp, hướng pháp,
thứ pháp, do đó mà được cúng dường cung kính’. Như vậy,
vị này thú hướng sự chứng đắc pháp chân đế, nhưng không
quý mình, không khinh người. Đó gọi là pháp chân nhân.
“Lại
nữa, hoặc có người tụng kinh, trì luật, học A-tỳ-đàm[4],
thuộc làu A-hàm[5],
học nhiều kinh sách, người khác không được như vậy. Người
kia nhân vì thuộc làu A-hàm, học nhiều kinh sách nên quý mình
khinh người. Đó gọi là pháp không phải chân nhân. Pháp chân
nhân xét nghĩ như thế này: ‘Ta không phải do thuộc làu A-hàm,
học nhiều kinh sách mà đoạn trừ được dâm, nộ, si. Hoặc
có người nào đó không thuộc làu A-hàm, cũng không học nhiều
kinh sách, nhưng người ấy thực hành pháp như pháp, tùy thuận
pháp, hướng pháp, thứ pháp, do đó mà được cúng dường
cung kính’. Như vậy, vị này thú hướng sự chứng đắc
pháp chân đế, nhưng không quý mình, không khinh người. Đó
gọi là pháp chân nhân.
“Lại
nữa, hoặc có người mặc y phấn tảo, nhiếp ba pháp phục,
trì y bất mạn[6],
người khác không được như vậy. Người kia nhân vì trì
y bất mạn nên quý mình khinh người. Đó gọi là pháp không
phải chân nhân. Pháp chân nhân xét nghĩ như thế này: ‘Ta
không phải do trì y bất mạn này mà đoạn trừ được dâm,
nộ, si. Hoặc có người nào đó không trì y bất mạn nhưng
thực hành pháp như pháp, tùy thuận pháp, hướng pháp, thứ
pháp, do đó mà được cúng dường cung kính’. Như vậy, vị
này thú hướng sự chứng đắc pháp chân đế, nhưng không
quý mình, không khinh người. Đó gọi là pháp chân nhân.
“Lại
nữa, hoặc có người thường đi khất thực, cơm chỉ ngang
bằng năm thăng, chỉ khất thực hạn cuộc nơi bảy nhà, chỉ
ăn một bữa, quá giờ ngọ không uống nước trái cây[7],
người khác không được như vậy. Người kia nhân vì quá
giờ ngọ không uống nước trái cây mà quý mình khinh người.
Đó gọi là pháp không phải chân nhân. Pháp thượng nhân xét
nghĩ như thế này: ‘Ta không phải do sự quá giờ ngọ không
uống nước trái cây này mà đoạn trừ được dâm, nộ, si.
Hoặc có người nào đó không dứt bỏ sự quá giờ ngọ uống
nước trái cây, nhưng người ấy thực hành pháp như pháp,
tùy thuận pháp, hướng pháp, thứ pháp, do đó mà được cúng
dường cung kính’. Như vậy, vị này thú hướng sự chứng
đắc pháp chân đế, nhưng không quý mình, không khinh người.
Đó gọi là pháp chân nhân.
“Lại
nữa, hoặc có người ở chỗ rừng vắng sơn lâm, dưới gốc
cây, hoặc ở núi cao hay nơi đất trống, hoặc nơi gò mả,
hoặc có thể biết thời; người khác không được như vậy.
Người kia nhân vì biết thời mà quý mình khinh người. Đó
không phải là pháp chân nhân. Pháp chân nhân xét nghĩ như
thế này: ‘Ta không phải do sự biết thời này mà đoạn
trừ được dâm, nộ, si. Hoặc có người nào đó không biết
thời nhưng người ấy thực hành pháp như pháp, tùy thuận
pháp, hướng pháp, thứ pháp, do đó mà được cúng dường
cung kính’. Như vậy, vị này thú hướng sự chứng đắc
pháp chân đế, nhưng không quý mình, không khinh người. Đó
gọi là pháp chân nhân.
“Lại
nữa, hoặc có người vừa được Sơ thiền; người kia nhân
vì được Sơ thiền mà quý mình khinh người. Đó gọi là
pháp không phải chân nhân. Pháp chân nhân xét nghĩ như thế
này: ‘Về Sơ thiền, Đức Thế Tôn nói là vô lượng chủng
loại, nếu có kế chấp thì gọi là ái[8]
vậy. Do đó người ấy được cúng dường cung kính’. Như
vậy, vị này thú hướng sự chứng đắc pháp chân đế, nhưng
không quý mình, không khinh người. Đó gọi là pháp chân nhân.
“Lại
nữa, hoặc có người được đệ Nhị, đệ Tam, đệ Tứ
thiền; được Không xứ, Thức xứ, Vô sở hữu xứ, Phi hữu
tưởng phi vô tưởng xứ, người khác không được như vậy.
Người kia nhân vì được phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ
nên quý mình khinh người. Đó gọi là pháp không phải chân
nhân. Pháp chân nhân xét nghĩ như thế này: ‘Phi hữu tưởng
phi vô tưởng, Đức Thế Tôn nói là vô lượng chủng loại,
nếu có kế chấp thì gọi đó là ái, do đó người ấy được
cúng dường cung kính’. Như vậy, vị này thú hướng sự
chứng đắc pháp chân đế, nhưng không quý mình, không khinh
người. Đó gọi là pháp chân nhân.
“Các
ngươi hãy nhận biết pháp chân nhân và pháp không phải chân
nhân. Sau khi biết được pháp thượng nhân và pháp không phải
chân nhân rồi, hãy dứt bỏ pháp không phải chân nhân và
hãy học pháp chân nhân”.
Giàu,
đẹp trai, nói giỏi,
Trưởng
lão, tụng nhiều kinh,
Y,
thực, tu núi, thiền,
Sau
cùng bố vô sắc.
“Các
ngươi nên học như vậy”.
Phật
thuyết như vậy, các Tỳ-kheo nghe Đức Phật thuyết, hoan hỷ
phụng hành.
Chú
thích
[1]
Tương đương Pāli M. 113. Sappurisa-suttaṃ. Biệt dịch, No.48.
[2]
Chân nhân pháp 真人法;
No.18: hiền giả. Pāli: Sappurisa-dhamma, chân nhân pháp, thiện
nhân pháp thiện sĩ pháp.
[3]
Hành pháp như pháp, tùy thuận ư pháp, hướng pháp thứ pháp
行法如法隨順於法向法次法.
Pāli: dhammānudhamma-paṭṭpanno sāmicīpaṭṭipannoanudhammacāri;
là người thực hành pháp và tùy pháp, thực hành chân chính,
có hành vi tùy thuận pháp.
[4]
A-tỳ-đàm 阿毗曇;
thường chỉ Luận tạng. Pāli: abhidhamma.
[5]
Nguyên trong bản: A-hàm-mộ 阿含慕,
thường chỉ Kinh tạng. Pāli: āgama.
[6]
Bất mạn y 不慢衣.
Pāli: amāna-cīvara, y không kiêu mạn, hay amanāpa-cīvara, y xấu
xí?
[7]
Bất ẩm tương 不飲漿.
[8]
Ái 愛;
Tống-Nguyên-Minh: thọ (chấp thủ). Pāli: paṭhamajjhānasamāpattiyā
pi kho atammayatā, sự chứng đạt Sơ thiền được nói là có
tánh không tham luyến.