84.
KINH VÔ THÍCH[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa Bệ-xá-li, ở tại Câu lâu đài quán,
bên bờ ao Di hầu[2].
Các
đệ tử danh đức Trưởng lão Thượng tôn như các ngài Già-la,
Ưu-bệ Giá-na, Hiền Thiện, Hiền Hoạn, Da-xá, Thượng Xứng[3];
các Tỳ-kheo danh đức Trưởng lão Thượng tôn như vậy cũng
tựu tại Bệ-xá-li, ở Cao lâu đài quán, bên ao Di hầu và
đều ở bên cạnh nhà lá của Phật. Các người Lệ-xế[4]
ở thành Bệ-xá-li nghe Đức Thế Tôn trụ tại Bệ-xá-li,
nơi Cao lâu đài quán, bên bờ ao Di hầu, liền nghĩ rằng,
“Chúng ta hãy phát đại như ý túc, khởi oai đức của bậc
vua chúa, lớn tiếng rao truyền rồi ra khỏi thành Bệ-xá-li,
qua đến chỗ Phật cúng dường kính lễ”.
Lúc
bấy giờ các đại đệ tử danh đức Trưởng lão Thượng
tôn nghe người Lệ-xế thành Bệ-xá-li phát đại như ý túc,
khởi oai đức của bậc vua chúa, lớn tiếng rao truyền rồi
ra khỏi thành Bệ-xá-li, qua đến chỗ Phật cúng dường kính
lễ, liền nghĩ rằng: ‘Âm thanh là gai nhọn đối với thiền’.
Đức Thế Tôn cũng nói rằng: ‘Âm thanh là gai nhọn đối
với thiền’. Chúng ta hãy qua rừng Ngưu giác Sa-la[5],
nơi ấy không náo loạn, sống viễn ly cô độc, ẩn dật nơi
thanh vắng mà tĩnh tọa”.
Rồi
các đại đệ tử danh đức Trưởng lão Thượng tôn đi qua
rừng Ngưu giác Sa-la, nơi ấy không não loạn, sống viễn ly
cô độc, ẩn dật nơi thanh vắng mà tĩnh tọa để tư duy.
Bấy
giờ, rất nhiều người Lệ-xế thành Bệ-xá-li phát đại
như ý túc, khởi oai đức của bậc vua chúa, lớn tiếng rao
truyền, rồi ra khỏi thành Bệ-xá-li, qua đến chỗ Phật cúng
dường kính lễ. Hoặc có người Lệ-xế thành Bệ-xá-li cúi
lạy chân Phật rồi ngồi xuống một bên, hoặc có người
chào hỏi Phật rồi ngồi xuống một bên, hoặc có người
chắp tay hướng về Phật rồi ngồi xuống một bên, hoặc
có người ở xa thấy Phật rồi im lặng ngồi xuống.
Khi
những người Lệ-xế thành Bệ-xá-li đã ngồi xong đâu đấy,
Đức Thế Tôn thuyết pháp cho họ nghe, khuyến phát khát ngưỡng,
thành tựu hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng phương tiện thuyết
pháp cho họ nghe, khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan
hỷ rồi, Đức Thế Tôn ngồi im lặng.
Những
người Lệ-xế thành Bệ-xá-li, sau khi đã được Đức Thế
Tôn thuyết pháp, khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan
hỷ, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, cúi lạy chân Phật,
nhiễu quanh ba vòng rồi ra về.
Sau
khi những người Lệ-xế thành Bệ-xá-li đi chẳng bao lâu,
bấy giờ Đức Thế Tôn hỏi các Tỳ-kheo rằng:
“Các
Trưởng lão Thượng tôn đại đệ tử đã đến nơi nào?”
Các
Tỳ-kheo bạch:
“Bạch
Thế Tôn, các Trưởng lão Thượng tôn đại đệ tử khi nghe
những người Lệ-xế thành Bệ-xá-li phát đại như ý túc,
khởi oai đức của bậc vua chúa, lớn tiếng rao truyền rồi
ra khỏi thành Bệ-xá-li, qua đến chỗ Phật cúng dường kính
lễ. Các ngài nghĩ rằng: ‘Âm thanh là gai nhọn đối với
thiền’, Đức Thế Tôn cũng nói rằng: ‘Âm thanh là gai nhọn
đối với thiền’. Chúng ta hãy đi qua rừng Ngưu giác Sa-la,
ở đó không náo loạn, sống viễn ly cô độc, ẩn dật nơi
thanh vắng mà tĩnh tọa tư duy. Bạch Thế Tôn, các Trưởng
lão Thượng tôn đại đệ tử đều đi đến nơi đó”.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn nghe xong, khen rằng:
“Lành
thay! Lành thay! Nếu là Trưởng lão Thượng tôn đại đệ
tử, nên nói như thế này: ‘Âm thanh là gai nhọn đối với
thiền’. Đức Thế Tôn cũng nói: ‘Âm thanh là gai nhọn đối
với thiền’. Vì sao? Vì quả thật Ta có nói như vậy: ‘Âm
thanh là gai nhọn đối với thiền. Phạm giới là gai nhọn
đối với trì giới. Trang sức thân thể là gai nhọn đối
với thủ hộ các căn. Tịnh tướng là gai nhọn đối với
tu tập bất tịnh[6].
Sân nhuế là gai nhọn đối với tu tập từ tâm. Uống rượu
là gai nhọn đối với xa lìa uống rượu. Thấy nữ sắc là
gai nhọn đối với phạm hạnh. Âm thanh là gai nhọn đối
với nhập Sơ thiền. Giác quán là gai đối với nhập đệ
Nhị thiền. Hỷ là gai nhọn đối với nhập đệ Tam thiền.
Hơi thở ra, hơi thở vào là gai nhọn đối với nhập đệ
Tứ thiền. Sắc tưởng là gai nhọn đối với nhập Không
xứ. Không tưởng là gai nhọn đối với nhập Thức xứ. Thức
tưởng là gai nhọn đối với nhập Vô sở hữu xứ. Tưởng
tri là gai nhọn đối với nhập Tưởng tri diệt định.
Lại
cũng có ba loại gai nhọn khác; gai nhọn dục, gai nhọn nhuế
và gai nhọn ngu si. Với ba loại gai này, bậc lậu tận A-la-hán
đã đoạn trừ, đã biết rõ, đã nhổ sạch cội rễ, tuyệt
diệt không còn sanh, ấy là bậc A-la-hán không bị gai chích,
bậc A-la-hán xa lìa gai chích, bậc A-la-hán không gai, lìa gai”.
Phật
thuyết như vậy. Các vị Tỳ-kheo nghe Phật thuyết, hoan hỷ
phụng hành.
Chú
thích
[1]
Bản Hán, quyển 21, Tương đương Pāli A. 10.72 Kantaka-suttaṃ.
[2]
Xem cht.4 kinh 217. Pāli: Mahāvane kuṭāgārasālāyam.
[3]
Già-la 遮羅,
Ưu-bá 優簸,
Già-la 遮羅,
Hiền Thiện 賢善,
Hiền Hoạn 賢患,
Da-xá 耶舍,
Thượng Xứng 上稱.
Pāli: Cāla, Upacāla, Kukkuṭa, Kaḷimbha, Nikaṭa, Kaṭissa.
[4]
Lệ xế 麗掣.
Pāli: Licchavī, một bộ tộc rất có thế lực trong thời Phật,
là những người Khattiya, và tướng mạo khá đẹp nên có
lần Đức Phật so sánh với chư Thiên Tāvatiṃsa (Tam thập
tam).
[5]
Xem cht.3 kinh 184.
[6]
Nguyên Hán: ố lộ 惡露.