83.
KINH TRƯỞNG LÃO THƯỢNG TÔN THỤY MIÊN[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Bà-kì-sấu[2],
ở rừng Bố trong núi Ngạc, trong vườn Lộc dã[3].
Bấy
giờ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên ở tại nước Ma-kiệt-đà,
trong làng Thiện tri thức[4].
Lúc ấy, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên sống riêng một mình
nơi yên tĩnh, ngồi tĩnh tọa tư duy nhưng mắc phải chứng
buồn ngủ. Đức Thế Tôn ở xa biết Tôn giả Đại Mục-kiền-liên
sống riêng một mình nơi yên tĩnh, ngồi tĩnh tọa tư duy và
mắc phải chứng buồn ngủ. Đức Thế Tôn biết như vậy,
Ngài liền như vậy mà nhập định[5].
Do định như vậy, trong khoảnh khắc, như người lực sĩ co
duỗi cánh tay, từ Bà-kì-sấu, rừng Bố trong núi Ngạc, trong
vườn Lộc dã, Đức Thế Tôn bỗng biến mất khỏi chỗ đó,
qua đến nước Ma-kiệt-đà, thôn Thiện tri thức, trước mặt
Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, rồi Đức Thế Tôn xuất định
và nói rằng:
“Này
Đại Mục-kiền-liên, ngươi đang đắm trước thụy miên.
Này Đại Mục-kiền-liên, ngươi đang đắm trước thụy miên[6].”
Tôn
giả Đại Mục-kiền-liên bạch Thế Tôn:
“Quả
thật vậy, bạch Đức Thế Tôn”.
Phật
lại nói:
“Này
Đại Mục-kiền-liên, nếu như sở tướng[7]
nào gây buồn ngủ, ngươi chớ tu tập tướng ấy và cũng
đừng phát triển[8]
nó. Như vậy, thụy miên mới có thể được diệt trừ.
“Nếu
thụy miên của ngươi không diệt trừ, thì này Đại Mục-kiền-liên,
hãy theo giáo pháp đã được nghe, tùy theo đó mà thọ trì,
quảng bá và tụng đọc. Như vậy thụy miên mới có thể
được diệt trừ.
“Nếu
thụy miên của ngươi không diệt trừ, thì này Đại Mục-kiền-liên,
hãy theo giáo pháp đã được nghe, tùy theo đó mà thọ trì,
rồi diễn rộng ra cho người khác nghe. Như vậy thụy miên
mới có thể được diệt trừ.
“Nếu
thụy miên của ngươi không diệt trừ, thì này Đại Mục-kiền-liên,
hãy theo giáo pháp đã được nghe, tùy theo đó mà thọ trì,
tâm suy niệm, tâm suy tư. Như vậy, thụy miên mới có thể
được diệt trừ.
“Nếu
thụy miên của ngươi không diệt trừ, thì này Đại Mục-kiền-liên,
hãy dùng hai tay day[9]
hai lỗ tai. Như vậy, thụy miên mới có thể được diệt
trừ.
“Nếu
thụy miên của ngươi không diệt trừ, thì này Đại Mục-kiền-liên,
hãy lấy nước lạnh rửa mặt và dội ướt thân thể. Như
vậy, thụy miên mới có thể được diệt trừ.
“Nếu
thụy miên của ngươi không diệt trừ, thì này Đại Mục-kiền-liên,
hãy đi ra ngoài thất, xem khắp bốn phương, ngước nhìn các
vì sao. Như vậy, thụy miên mới có thể được diệt trừ.
“Nếu
thụy miên của ngươi không diệt trừ, thì này Đại Mục-kiền-liên,
hãy đi ra ngoài thất, đến khoảng đất trống phía đầu
thất mà kinh hành, thủ hộ các căn, tâm an trụ bên trong,
khởi hậu tiền tưởng[10].
Như vậy, thụy miên mới có thể được diệt trừ.
“Nếu
thụy miên của ngươi không diệt trừ, thì này Đại Mục-kiền-liên,
hãy bỏ con đường đang kinh hành, đến đầu con đường ấy,
trải Ni-sư-đàn, ngồi kiết già. Như vậy, thụy miên mới
có thể được diệt trừ.
“Nếu
thụy miên của ngươi không diệt trừ, thì này Đại Mục-kiền-liên,
hãy trở vào thất, gấp tư y Ưu-đa-la-tăng, trải trên giường,
gấp Tăng-già-lê làm gối, nằm hông bên phải, hai chân chồng
lên nhau, khởi minh tưởng[11],
lập chánh niệm chánh trí và luôn luôn khởi ý tưởng muốn
trỗi dậy[12].
Này Đại Mục-kiền-liên, đừng ham lạc thú giường nệm,
đừng ham lạc thú ngủ nghỉ, đừng ham tài lợi, đừng đắm
trước danh dự[13].
Lý do vì sao? Vì Ta nói: ‘Tất cả pháp không thể hợp hội’,
và cũng nói, ‘Có thể hợp hội’.
“Này
Đại Mục-kiền-liên, Ta nói pháp gì không thể hợp hội?
Này Đại Mục-kiền-liên, nếu pháp đạo và tục mà cùng
hợp hội thì Ta nói pháp này không thể hợp hội. Này Đại
Mục-kiền-liên, nếu pháp đạo và tục mà cùng hợp hội
thì có nhiều điều phải nói. Nếu có nhiều điều phải
nói thì có trạo cử[14].
Nếu có trạo cử thì tâm không tịch tĩnh. Này Đại Mục-kiền-liên,
nếu tâm không tịch tĩnh thì tâm rời xa định. Này Đại
Mục-kiền-liên, do đó Ta nói là không thể hợp hội.
“Này
Đại Mục-kiền-liên, Ta nói pháp gì có thể cùng hợp hội?
Này Đại Mục-kiền-liên, ở nơi rừng vắng kia[15],
Ta nói pháp này có thể cùng hợp hội: núi rừng, dưới cây,
chỗ an tĩnh không nhàn, núi cao, hang đá, vắng bặt âm thanh,
viễn ly, không ác, không người, có thể tùy thuận mà tĩnh
tọa. Này Đại Mục-kiền-liên, Ta nói pháp này có thể cùng
hợp hội.
“Này
Đại Mục-kiền-liên, nếu ngươi đi vào làng khất thực,
hãy nhàm tởm sự lợi lộc, nhàm tởm sự cúng dường, cung
kính. Đối với lợi lộc, cúng dường, cung kính, tâm ngươi
đã phát khởi sự nhàm tởm rồi mới vào làng khất thực.
“Này
Đại Mục-kiền-liên, đừng đem ý cao đại mà vào làng khất
thực. Vì sao? Vì nhà trưởng giả có công việc gì đó, Tỳ-kheo
đến khất thực khiến trưởng giả không chú ý. Tỳ-kheo
liền nghĩ rằng: ‘Ai phá hoại ta ở nhà trưởng giả[16]?
Vì sao? Vì ta vào nhà trưởng giả khất thực mà trưởng giả
không chú ý”. Nhân đó sanh ưu sầu, nhân ưu sầu mà sanh
trạo cử, nhân trạo cử mà tâm không tịch tĩnh, nhân tâm
không tịch tĩnh nên tâm rời xa định.
“Này
Đại Mục-kiền-liên, khi ngươi thuyết pháp, đừng vì tranh
luận. Nếu có tranh luận thì có nhiều lời, nhân nhiều lời
mà có trạo cử, nhân trạo cử mà tâm không tịch tĩnh, nhân
tâm không tịch tĩnh nên tâm rời xa định.
“Này
Đại Mục-kiền-liên, khi ngươi thuyết pháp đừng nói to,
nói mạnh, như sư tử. Này Đại Mục-kiền-liên, khi ngươi
thuyết pháp hãy hạ ý mà thuyết pháp, không ráng sức, tiêu
diệt sức, dẹp bỏ sức, hãy thuyết pháp bằng sự không
dùng cường lực, như sư tử[17].
“Này
Đại Mục-kiền-liên, hãy học như vậy”.
Bấy
giờ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên từ chỗ ngồi đứng dậy,
trịch áo vai phải, chắp tay hướng Phật, bạch rằng:
“Bạch
Đức Thế Tôn, thế nào là vị Tỳ-kheo đến chỗ cứu cánh,
cứu cánh bạch tịnh, cứu cánh phạm hạnh và cứu cánh phạm
hạnh cùng tột?”
Đức
Thế Tôn bảo:
“Này
Đại Mục-kiền-liên, Tỳ-kheo khi đã thọ lạc, cảm thọ
khổ, cảm thọ không lạc không khổ, vị ấy ở nơi các cảm
thọ này mà quán vô thường, quán hưng suy, quán đoạn, quán
vô dục, quán diệt, quán xả. Sau khi ở nơi các cảm thọ
này mà quán vô thường, quán hưng suy, quán đoạn, quán vô
dục, quán diệt, quán xả, vị ấy không chấp thủ đời này[18],
do không chấp thủ đời này mà không bị nhọc nhằn, do không
bị nhọc nhằn nên nhập Niết-bàn, biết một cách như thật
rằng: ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều đáng
làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’.
“Này
Đại Mục-kiền-liên, như vậy là Tỳ-kheo được đến chỗ
cứu cánh, cứu cánh bạch tịnh, cứu cánh phạm hạnh và cứu
cánh phạm hạnh cùng tột”.
Phật
thuyết như vậy. Tôn giả Đại Mục-kiền-liên nghe Phật thuyết,
hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Tương đương Pāli A.7.58 Pacalāyamāna-sutta. Biệt dịch DTK.47.
[2]
Bà-kì-sấu 婆奇廋.
Pāli: Bhaggesu, giữa những người Bhagga.
[3]
Ngạc sơn Bố lâm Lộc dã viên 鱷山怖林鹿野園.
Pāli: Suṃsumāragire bhesakāḷāvane migadāye, trong núi Cá sấu,
rừng Khủng bố, chỗ nuôi hươu.
[4]
Thiện tri thức thôn 善知識村.
Pāli: Kallavāḷamuttagāma. Ngài Đại Mục-kiền-liên ở đây
ngay sau khi vừa xuất gia. Kinh này được nói vào lúc này.
Bảy ngày sau đó, Ngài đắc quả A-la-hán.
[5]
Như kỳ tượng định.
[6]
Pāli: pacalāyati, ngủ gật.
[7]
Sở tướng 所相,
ở đây, đề mục thiền định. Pāli: saññā, tưởng.
[8]
Quảng bá 廣布.
Pāli: bahulīkaroti, tu tập nhiều.
[9]
Hán: môn mô 捫摸
(mằn mò). Pāli: ubho kaṇṇasotāni āviñcheyyasi, ngươi hãy
vặn (hay kéo?) hai lỗ tai.
[10]
Hậu tiền tưởng 後前想,
quán tưởng sau lưng như là trước mặt. Pāli: Pacchāpuresaññī.
[11]
Minh tưởng 明想hay
quang minh tưởng, lấy các loại ánh sáng để làm đề mục,
tập trung tư tưởng trên đó. Pāli: Ālokasaññā, đề cập
đến sau khi ngắm các ngôi sao không thành công.
[12]
Dục khởi tưởng 欲起想.
Pāli: uṭṭhānasaññā.
[13]
Trong bản Pāli, câu này dành cho hành giả tự tâm niệm lúc
nằm, tức những điều suy niệm của phép dục khởi tưởng.
[14]
Điệu 掉,
ở đây cử chỉ tháy máy không yên. Pāli: uddhacca.
[15]
Vô sự xứ.
[16]
No.47: ai đã nói gì với cư sĩ đó? Bởi vì ta vào nhà mà
cư sĩ đó không chịu nói chuyện với ta.
[17]
No.47: hãy như sư tử luận.
[18]
Bất thọ thử thế 不受此世.
Pāli: na kiñci loke upādiyati, không chấp thủ bất cứ cái gì
ở trên đời.