82.
KINH CHI-LY-DI-LÊ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại thành Vương xá, trong rừng Trúc,
vườn Ca-lan-đa.
Bấy
giờ một số đông các Tỳ-kheo sau giờ ăn trưa, có ít việc
cần làm nên tụ họp ngồi ở giảng đường để quyết định
sự tranh luận. Tức là bàn luận những vấn đề về pháp
luật, về lời Phật dạy[2].
Lúc bấy giờ Tỳ-kheo Chất-đa-la Tượng Tử[3]
cũng hiện diện trong chúng.
Trong
khi một số đông các Tỳ-kheo đang bàn luận những vấn đề
về Pháp Luật, về lời Phật dạy, thì ngay trong lúc đang
bàn luận ấy, Tỳ-kheo Chất-đa-la Tượng Tử không đợi cho
các Tỳ-kheo nói pháp xong, mà cứ nói xen ào vào, lại không
có thái độ cung kính, không quan sát cẩn thận để thưa hỏi
các bậc Tỳ-kheo Thượng tôn Trưởng lão.
Bấy
giờ, Tôn giả Đại Câu-hi-la[4]
cũng có mặt trong chúng, nói với Tỳ-kheo Chất-đa-la Tượng
Tử rằng:
“Hiền
giả nên biết, trong khi một số đông Tỳ-kheo đang nói những
vấn đề về Pháp Luật và về lời Phật dạy này, thì Hiền
giả chớ nói xen vào ở khoảng giữa. Đợi các Tỳ-kheo nói
xong, nhiên hậu Hiền giả mới nói. Hiền giả hãy có thái
độ cung kính và quán sát cẩn thận để thưa hỏi các bậc
Tỳ-kheo Thượng tôn Trưởng lão. Chớ đem sự không cung kính,
không khéo quán sát để thưa hỏi các ngài”.
Khi
đó, bạn bè quen thân của Tỳ-kheo Chất-đa-la Tượng Tử
hiện có trong chúng, nói với Tôn giả Đại Câu-hi-la rằng:
“Này
Hiền giả Đại Câu-hi-la, ngài chớ nặng lời quở trách Tỳ-kheo
Chất-đa-la Tượng Tử. Lý do vì sao? Vì Tỳ-kheo Chất-đa-la
Tượng Tử có giới đức, đa văn, trông giống như người
giải đãi nhưng không cống cao, ngã mạn. Này Hiền giả Đại
Câu-hi-la, bất cứ lúc nào, các Tỳ-kheo làm việc gì, thì
Tỳ-kheo Chất-đa-la Tượng Tử đều có thể giúp đỡ cả”.
Tôn
giả Đại Câu-hi-la khi ấy nói với bạn bè quen thuộc của
Tỳ-kheo Chất-đa-la Tượng Tử rằng:
“Này
chư Hiền, nếu không biết tâm của kẻ khác thì đừng vội
nói là người ấy xứng đáng hay không xứng đáng. Lý do vì
sao? Vì hoặc có một người lúc ở trước Đức Thế Tôn
và trước các bậc phạm hạnh Thượng tôn Trưởng lão, khả
tàm, khả quý, khả ái, khả kính, thì người ấy khéo léo
thủ hộ, nhưng sau đó, khi không còn ở trước Đức Thế
Tôn và trước các bậc phạm hạnh Thượng tôn Trưởng lão
khả tàm, khả quý, khả ái, khả kính, thì người ấy thường
cùng với bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao, bàn tán ồn
ào đủ chuyện. Người ấy thường cùng với bạch y tụ họp,
cười cợt, cống cao, bàn tán ồn ào đủ chuyện, rồi tâm
sanh tham dục. Tâm sanh tham dục rồi thì thân nhiệt, tâm nhiệt[5].
Thân nhiệt, tâm nhiệt rồi thì xả giới, bỏ đạo.
“Này
chư Hiền, giống như con bò vào trong ruộng lúa của người,
người giữ ruộng bắt được, hoặc lấy tay cột, hoặc nhốt
trong chuồng. Này chư Hiền, nếu có người nói rằng: ‘Con
bò này không vào ruộng lúa của người khác nữa đâu’.
Người kia nói như vậy có đúng chăng?”
“Không
đúng. Vì sao? Vì nếu con bò bị trói kia, hoặc làm đứt,
hoặc làm sút sợi dây trói, hoặc nhảy ra khỏi chuồng, nó
cũng lại vào trong ruộng lúa của người khác như trước,
chứ không khác gì cả”.
“Này
chư Hiền, hoặc có một người lúc ở trước Đức Thế Tôn
và trước các bậc phạm hạnh Thượng tôn Trưởng lão khả
tàm, khả quý, khả ái, khả kính thì người ấy khéo léo
thủ hộ. Nhưng sau đó, khi không còn ở trước Đức Thế
Tôn và trước các bậc phạm hạnh Thượng tôn Trưởng lão
khả tàm, khả quý, khả ái, khả kính, thì người ấy thường
cùng với bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao, bàn tán ồn
ào đủ chuyện, rồi thì tâm sanh tham dục, tâm sanh ham muốn,
rồi thì thân nhiệt, tâm nhiệt. Thân nhiệt tâm nhiệt rồi
thì xả giới, bỏ đạo. Này chư Hiền, đó gọi là có một
người.
“Lại
nữa, này chư Hiền, hoặc có một người vừa được Sơ thiền;
được Sơ thiền rồi, người ấy liền an trú chứ không mong
cầu thêm, không mong được những gì chưa được, không mong
thu hoạch những gì chưa thu hoạch, không mong tác chứng những
gì chưa tác chứng. Người ấy, sau đó thường cùng với bạch
y tụ họp, cười cợt, cống cao, bàn tán ồn ào đủ chuyện.
Người ấy thường cùng với bạch y tụ họp, cười cợt,
cống cao, bàn tán ồn ào đủ chuyện rồi thì tâm sanh tham
dục. Tâm sanh tham dục rồi thì thân nhiệt, tâm nhiệt. Thân
nhiệt tâm nhiệt rồi thì xả giới, bỏ đạo.
“Này
chư Hiền, như lúc mưa to, hồ ao trong thôn xóm đều đầy
nước. Có người trước khi chưa mưa, thấy trong hồ ao đó
có cát, đá, cỏ cây, một vài loại giáp trùng, cá, rùa, ểnh
ương và các loài thủy tánh khác, lúc bơi qua, lúc bơi lại,
lúc rượt chạy, lúc đứng yên. Nhưng sau khi trời mưa, ao
hồ đầy nước, người đó không còn thấy như thế nữa.
Chư Hiền, nếu người kia nói như thế này: ‘Trong hồ ao
kia nhất định không thể nào thấy lại được cát, đá,
cỏ cây, một vài loại giáp trùng, cá, rùa, ểnh ương và
các loài thủy tánh khác, lúc bơi qua, lúc bơi lại, lúc rượt
chạy, lúc đứng yên’. Người ấy nói như vậy có đúng
chăng?”
“Không
đúng. Vì sao? Vì hồ ao đầy nước kia, hoặc voi uống, ngựa
uống, lạc đà, bò, lừa, heo, nai, trâu uống, hoặc người
lấy dùng, gió thổi, mặt trời rọi, thì nước sẽ cạn.
Người kia khi nước đầy hồ ao không thấy cát, đá, cỏ
cây, một vài loại giáp trùng, cá, rùa, ểnh ương và các
loài thủy tánh khác, lúc bơi qua, lúc bơi lại, lúc rượt
chạy, lúc đứng yên, nhưng sau khi nước đã cạn rồi thì
vẫn thấy như cũ”.
“Cũng
vậy, này chư Hiền, hoặc có một người vừa được Sơ thiền;
được Sơ thiền rồi, người ấy liền an trụ chứ không
mong cầu thêm, không mong được những gì chưa được, thu
hoạch những gì chưa thu hoạch, tác chứng những gì chưa tác
chứng. Sau đó người ấy thường cùng với bạch y tụ họp,
cười cợt, cống cao, bàn tán ồn ào đủ chuyện. Người
ấy thường cùng với bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao,
bàn tán ồn ào đủ chuyện rồi thì tâm sanh tham dục. Tâm
sanh tham dục rồi thì thân nhiệt, tâm nhiệt. Thân nhiệt,
tâm nhiệt rồi thì xả giới, bỏ đạo. Này chư Hiền, đó
gọi là có một người.
“Lại nữa, này chư Hiền, hoặc có một người được đệ
Nhị thiền; được đệ Nhị thiền rồi, người ấy liền
an trụ chứ không mong cầu thêm, không mong được những gì
chưa được, thu hoạch những gì chưa thu hoạch, tác chứng
những gì chưa tác chứng. Sau đó người ấy thường cùng
với bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao, bàn tán ồn ào
đủ chuyện, rồi thì sanh tâm tham dục. Tâm sanh tham dục rồi
thì thân nhiệt, tâm nhiệt. Thân nhiệt, tâm nhiệt rồi liền
xả giới bỏ đạo.
“Này
chư Hiền, như lúc mưa to, đất bụi ở nơi ngã tư đường
đều thành bùn. Này chư Hiền, nếu có người nói như thế
này: ‘Bùn ở nơi ngã tư đường này nhất định không khô
ráo, không thể trở lại thành bụi đất được nữa’. Người
ấy nói như vậy có đúng chăng?”
“Không
đúng. Vì sao? Vì ngã tư đường này hoặc voi đi, ngựa đi,
lạc đà, bò, lừa, heo, nai, trâu và người đi, gió thổi,
mặt trời rọi, thì con đường kia bùn sẽ khô và khô rồi
sẽ trở thành đất bụi trở lại”.
“Cũng
như vậy, này chư Hiền, hoặc có người được đệ Nhị
thiền; được đêï Nhị thiền rồi, người ấy liền an trụ
không mong cầu thêm, không mong được những gì chưa được,
thu hoạch những gì chưa thu hoạch, tác chứng những gì chưa
tác chứng. Sau đó người ấy thường cùng với bạch y tụ
họp, cười cợt, cống cao, bàn tán ồn ào đủ chuyện. Người
ấy thường cùng với bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao,
bàn tán ồn ào đủ chuyện rồi thì tâm sanh tham dục. Tâm
sanh tham dục rồi thì thân nhiệt, tâm nhiệt. Thân nhiệt,
tâm nhiệt rồi thì xả giới, bỏ đạo. Này chư Hiền, đó
gọi là có một người.
“Này
chư Hiền, lại nữa, hoặc có một người được đệ Tam
thiền; được đệ Tam thiền rồi, người ấy liền an trụ
chứ không mong cầu thêm, không mong được những gì chưa được,
thu hoạch những gì chưa thu hoạch, tác chứng những gì chưa
tác chứng. Sau đó người ấy thường cùng với bạch y tụ
họp, cười cợt, cống cao, bàn tán ồn ào đủ chuyện. Người
ấy thường cùng với bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao,
bàn tán ồn ào đủ chuyện rồi thì tâm sanh tham dục. Tâm
sanh tham dục rồi thì thân nhiệt, tâm nhiệt. Thân nhiệt,
tâm nhiệt rồi thì xả giới, bỏ đạo.
“Này
chư Hiền, như nước suối, nước hồ lặng trong, ngang bờ
đứng yên, không xao động và cũng không có sóng. Này chư
Hiền, nếu có người nói như thế này: ‘Nước suối, nước
hồ kia nhất định không bao giờ xao động và nổi sóng nữa’.
Người ấy nói như vậy có đúng chăng?”
“Không
đúng. Vì sao? Vì hoặc ở phương Đông gió lớn chợt thổi
đến làm cho nước trong hồ xao động nổi sóng. Cũng vậy,
phương Nam, phương Tây, phương Bắc, gió lớn chợt thổi đến
làm cho nước trong hồ xao động nổi sóng”.
“Cũng
như vậy, này chư Hiền, hoặc có một người được đệ
Tam thiền; được đệ Tam thiền rồi, người ấy liền an
trụ chứ không mong cầu thêm, không mong được những gì chưa
được, thu hoạch những gì chưa thu hoạch, tác chứng những
gì chưa tác chứng. Sau đó người ấy thường cùng với bạch
y tụ họp, cười cợt, cống cao, bàn tán ồn ào đủ chuyện.
Người ấy thường cùng với bạch y tụ họp, cười cợt,
cống cao, bàn tán ồn ào đủ chuyện rồi thì tâm sanh tham
dục. Tâm sanh tham dục rồi thì thân nhiệt, tâm nhiệt. Thân
nhiệt, tâm nhiệt rồi thì xả giới, bỏ đạo. Này chư Hiền,
đó gọi là có một người.
“Lại
nữa, này chư Hiền, hoặc có một người được đệ Tứ
thiền; được đệ Tứ thiền rồi, người ấy liền an trụ
chứ không mong cầu thêm, không mong được những gì chưa được,
thu hoạch những gì chưa thu hoạch, tác chứng những gì chưa
tác chứng. Sau đó người ấy thường cùng với bạch y tụ
họp, cười cợt, cống cao, bàn tán ồn ào đủ chuyện. Người
ấy thường cùng với bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao,
bàn tán ồn ào đủ chuyện rồi thì tâm sanh tham dục. Tâm
sanh tham dục rồi thì thân nhiệt, tâm nhiệt. Thân nhiệt,
tâm nhiệt rồi thì xả giới, bỏ đạo.
“Này
chư Hiền, ví như cư sĩ hoặc con cư sĩ ăn đồ ăn vi diệu,
sau khi ăn uống no nê đầy bụng rồi thì những món ăn mà
họ đã ăn trước kia, bây giờ không còn muốn ăn nữa. Này
chư Hiền, nếu có lời nói như thế này: ‘Cư sĩ hoặc con
của cư sĩ nhất định không bao giờ muốn ăn lại nữa’.
Người ấy nói như vậy có đúng chăng?” “Không đúng. Vì
sao? Vì cư sĩ hoặc con của cư sĩ kia qua một đêm đã thấy
đói, thì những gì khi no bụng họ không muốn ăn, bây giờ
lại có thể ăn như trước”.
“Cũng
vậy, này chư Hiền, hoặc có một người được đệ Tứ
thiền; được đệ Tứ thiền rồi, người ấy liền an trụ
chứ không mong cầu thêm, không mong được những gì chưa được,
thu hoạch những gì chưa thu hoạch, tác chứng những gì chưa
tác chứng. Sau đó người ấy thường cùng với bạch y tụ
họp, cười cợt, cống cao, bàn tán ồn ào đủ chuyện. Người
ấy thường cùng với bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao,
bàn tán ồn ào đủ chuyện rồi thì tâm sanh tham dục. Tâm
sanh tham dục rồi thì thân nhiệt, tâm nhiệt. Thân nhiệt,
tâm nhiệt rồi thì xả giới, bỏ đạo. Này chư Hiền, đó
gọi là có một người.
“Lại
nữa, này chư Hiền, hoặc có một người được Vô tưởng
tâm định[6];
được vô tưởng tâm định rồi thì người ấy liền an trụ,
không mong cầu thêm, không mong được những gì chưa được,
thu hoạch những gì chưa thu hoạch, tác chứng những gì chưa
tác chứng. Sau đó người ấy thường cùng với bạch y tụ
họp, cười cợt, cống cao, bàn tán ồn ào đủ chuyện. Người
ấy thường cùng với bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao,
bàn tán ồn ào đủ chuyện rồi thì tâm sanh tham dục. Tâm
sanh tham dục rồi thì thân nhiệt, tâm nhiệt. Thân nhiệt,
tâm nhiệt rồi thì xả giới, bỏ đạo.
“Này
chư Hiền, ví như ở một khu rừng vắng, người ta nghe tiếng
dế kêu[7].
Khi vua hoặc đại thần ngủ đêm tại khu rừng vắng đó,
bấy giờ người ta nghe nào là tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng
xe cộ, tiếng đi bộ, tiếng trống, tiếng trống cơm, tiếng
trống múa, tiếng múa, tiếng hát, tiếng đàn cầm, tiếng
ăn uống, chứ không nghe tiếng dế kêu như trước tại khu
rừng này nữa. Này chư Hiền, nếu có lời nói như thế này:
‘Khu rừng kia nhất định không bao giờ nghe được tiếng
dế kêu nữa’. Người ấy nói như vậy có đúng chăng?”
“Không
đúng. Vì sao? Vì vua hoặc đại thần ấy qua đêm, trời sáng
rồi đều trở về. Nếu chỗ đó vì nghe các tiếng voi, ngựa,
xe cộ, đi bộ, tiếng ốc, tiếng trống, trống cơm, trống
múa, tiếng múa, ca, tiếng đàn, ăn uống nên không nghe tiếng
dế kêu, nhưng khi họ đã đi rồi thì nghe lại như cũ”.
“Cũng
vậy, này chư Hiền, có một người được Vô tưởng tâm
định; được Vô tưởng tâm định rồi liền an trụ chứ
không mong cầu thêm, không mong được những gì chưa được,
thu hoạch những gì chưa thu hoạch, tác chứng những gì chưa
tác chứng. Sau đó người ấy thường cùng với bạch y tụ
họp, cười cợt, cống cao, bàn tán ồn ào đủ chuyện. Người
ấy thường cùng với bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao,
bàn tán ồn ào đủ chuyện rồi thì tâm sanh tham dục. Tâm
sanh tham dục rồi thì thân nhiệt, tâm nhiệt. Thân nhiệt,
tâm nhiệt rồi thì xả giới, bỏ đạo. Này chư Hiền, đó
gọi là có một người”.
Bấy
giờ Tỳ-kheo Chất-đa-la Tượng Tử sau đó chẳng bao lâu xả
giới, bỏ đạo. Bạn bè quen thân của Tỳ-kheo Chất-đa-la
Tượng Tử nghe ông xả giới bỏ đạo, qua đến chỗ Tôn
giả Đại Câu-hi-la, đến nơi rồi, bạch rằng:
“Bạch
Tôn giả Đại Câu-hi-la, ngài biết rõ tâm của Tỳ-kheo Chất-đa-la
Tượng Tử hay nhờ các việc khác mà biết? Lý do vì sao? Vì
nay Tỳ-kheo Chất-đa-la Tượng Tử đã xả giới bỏ đạo”.
Tôn
giả Đại Câu-hi-la bảo các bạn bè quen thân kia rằng:
“Này
chư Hiền, việc ấy phải như vậy. Lý do vì sao? Vì do không
biết như thật, không thấy như chân nên xảy ra như vậy”.
Tôn
giả Đại Câu-hi-la thuyết như vậy, các Tỳ-kheo nghe Tôn giả
dạy xong, hoan hỷ phụng hành[8].
Chú
thích
[1]
Tương đương Pāli A .6.60. Hatthīariputta-sutta.
[2]
Bản Pāli: abhidhammakatha, đề tài Abhidhamma.
[3]
Chất-đa-la Tượng Tử 質多羅象子.
Pāli: Citta-Hathisāriputta.
[4]
Đại Câu-hi-la 大拘絺羅.
Pāli: Mahā-koṭṭhika, một trong số các đại đệ tử xuất
sắc nhất của Phật, có khả năng phân tích (paṭissambhidappattānam).
Ngài sinh trong một gia đình Bà-la-môn giàu có ở Sāvathi.
[5]
Pāli: rāgo cittam anuddhaṃsati, tham dục làm bại hoại tâm.
[6]
Vô tưởng tâm định 無想心定;
đây chỉ vô tướng tâm định. Bản Tống chép là tướng 相.
Pāli: animitta cetosamādhi.
[7]
Nguyên Hán: Chi-ly-di-lê trùng 支離彌梨虫.
Pāli: cīrika-sadda (hoặc cīriḷika-sadda, tên kinh bản Hán âm
từ từ này), tiếng dế kêu.
[8]
Bản Pāli còn có đoạn kết: Phật tiên đoán Tượng Tử sẽ
xuất gia trở lại và sẽ đắc quả A-la-hán. Lời tiên đoán
đúng.