81.
KINH NIỆM THÂN[1]
Tôi
nghe như vầy.
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Ương-kì[2],
cùng với đại chúng Tỳ-kheo đi qua A-hòa-na[3],
trú xứ của Kiền-ni[4].
Bấy
giờ đêm tàn, trời sáng, Đức Thế Tôn đắp y ôm bát vào
A-hòa-na để khất thực. Sau buổi ăn trưa, Đức Thế Tôn
thu cất y bát, rửa tay chân, vắt Ni-sư-đàn lên vai, đi đến
một khu rừng, vào trong rừng đó, đến dưới một gốc cây,
trải Ni-sư-đàn và ngồi kiết già.
Lúc
bấy giờ một số đông các Tỳ-kheo sau giờ ăn trưa, tụ
họp tại giảng đường, cùng thảo luận vấn đề này:
“Này
chư Hiền, Đức Thế Tôn thật kỳ diệu thay, hy hữu thay!
Sự tu tập niệm thân[5]
được phân biệt, được quảng bá, được hiểu biết tột
cùng, được quán sát tột cùng, được tu tập tột cùng,
được thủ hộ và đối trị tột cùng, khéo sung mãn, khéo
thực hành, ở trong một tâm. Phật tuyên bố niệm thân có
đại quả báo, được con mắt, có con mắt thấy đệ nhất
nghĩa”.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn từ chỗ tĩnh tọa, bằng thiên nhĩ thanh
tịnh, nghe xa hơn người, Ngài biết các Tỳ-kheo sau giờ ăn
trưa tụ họp tại giảng đường, cùng bàn luận vấn đề
này, “Này chư Hiền, Đức Thế Tôn thật kỳ diệu thay, hy
hữu thay! Sự tu tập niệm thân được phân biệt, được
quảng bá, được hiểu biết tột cùng, được quán sát tột
cùng, được tu tập tột cùng, được thủ hộ và đối trị
tột cùng, khéo sung mãn, khéo thực hành, ở trong một tâm.
Phật tuyên bố niệm thân có đại quả báo, được con mắt,
có con mắt thấy đệ nhất nghĩa”.
Sau
khi Đức Thế Tôn nghe như vậy, vào lúc xế, từ chỗ tĩnh
tọa đứng dậy, Ngài đến giảng đường, trải chỗ ngồi
trước chúng Tỳ-kheo.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn hỏi các Tỳ-kheo:
“Các
ngươi cùng nhau vừa bàn luận việc gì? Vì việc gì mà tụ
tập tại giảng đường?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, Tỳ-kheo chúng con sau giờ ăn trưa, tụ họp tại
giảng đường, cùng bàn luận về vấn đề này: ‘Này chư
Hiền, Đức Thế Tôn thật kỳ diệu thay, hy hữu thay! Sự
tu tập niệm thân được phân biệt, được quảng bá, được
hiểu biết tột cùng, được quán sát tột cùng, được tu
tập tột cùng, được thủ hộ và đối trị tột cùng, khéo
sung mãn, khéo thực hành, ở trong một tâm. Phật tuyên bố
niệm thân có đại quả báo, được con mắt, có con mắt thấy
đệ nhất nghĩa’. Bạch Thế Tôn, chúng con vừa cùng nhau
bàn luận vấn đề vấn đề như vậy. Vì vấn đề này mà
tụ họp tại giảng đường”.
Đức
Thế Tôn lại hỏi các Tỳ-kheo:
“Ta
đã nói như thế nào về tu tập niệm thân, phân biệt, quảng
bá, được đại quả báo?”
Lúc
ấy các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, Thế Tôn là gốc của Pháp, là chủ của Pháp, Pháp
do Thế Tôn. Kính mong Thế Tôn giảng thuyết. Chúng con sau khi
nghe xong sẽ được hiểu biết nghĩa lý rộng rãi”.
Đức
Phật nói:
“Các
ngươi hãy lắng nghe, hãy khéo suy nghĩ. Ta sẽ phân biệt nghĩa
ấy cho các ngươi nghe”.
Các
Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy, lắng nghe.
Đức
Phật nói[6]:
“Tỳ-kheo
tu tập niệm thân như thế nào? Tỳ-kheo khi đi thì biết mình
đang đi, đứng thì biết mình đang đứng, ngồi thì biết
mình đang ngồi, nằm thì biết mình đang nằm, ngủ thì biết
mình đang ngủ. Như vậy, Tỳ-kheo tùy thân hành mà biết đúng
như thật như vậy. Tỳ-kheo như thế, sống cô độc, viễn
ly, tâm không phóng dật, tu hành tinh tấn, đoạn trừ các tai
hoạn của tâm và được định tâm[7].
Được định tâm rồi thì biết trên như thật[8].
Ấy là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo biết rõ mình[9]
khi vào, khi ra, khéo quán sát phân biệt, khi co, lúc duỗi, khi
cúi, lúc ngước; nghi dung chững chạc, khoác Tăng-già-lê ngay
ngắn và ôm bát chỉnh tề; đi đứng, ngồi, nằm, ngủ, thức,
nói năng, im lặng, đều biết rõ như thực. Như vậy, Tỳ-kheo
tùy thân hành mà biết đúng như thật như vậy. Tỳ-kheo như
thế, sống cô độc, viễn ly, tâm không phóng dật, tu hành
tinh tấn, đoạn trừ các tai hoạn của tâm và được định
tâm. Được định tâm rồi thì biết trên như thật. Ấy là
Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo khi sanh niệm
ác, bất thiện, liền bằng niệm thiện pháp để đối trị,
đoạn trừ, tiêu diệt, tĩnh chỉ. Như người thợ mộc hoặc
học trò thợ mộc kéo thẳng dây mực, búng thẳng lên thân
cây, rồi dùng búa bén mà đẽo cho thẳng. Cũng vậy, Tỳ-kheo
khi sanh niệm ác bất thiện, liền niệm thiện pháp để đối
trị, đoạn trừ, tiêu diệt, tĩnh chỉ. Như vậy, Tỳ-kheo
tùy theo thân hành mà biết trên như thật. Tỳ-kheo như thế,
sống cô độc, viễn ly, tâm không phóng dật, tu hành tinh tấn,
đoạn trừ các tai hoạn của tâm và được định tâm. Được
định tâm rồi thì biết trên như thật. Ấy là Tỳ-kheo tu
tập niệm thân.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo răng ngậm
khít lại, lưỡi ấn lên trên khẩu cái, dùng tâm trị tâm,
đối trị, đoạn trừ, tiêu diệt, tĩnh chỉ. Như hai lực
sĩ bắt một người yếu mang đi khắp nơi, tự do đánh đập;
cũng vậy, Tỳ-kheo răng ngậm khít lại, lưỡi ấn lên khẩu
cái, dùng tâm trị tâm, đối trị, đoạn trừ, tiêu diệt,
tĩnh chỉ. Như vậy, Tỳ-kheo tùy theo thân hành mà biết trên
như thật. Tỳ-kheo như thế, sống cô độc, viễn ly, tâm không
phóng dật, tu hành tinh tấn, đoạn trừ các tai hoạn của
tâm và được định tâm. Được định tâm rồi thì biết
trên như thật. Ấy là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo-niệm hơi
thở vào thì biết niệm hơi thở vào; niệm hơi thở ra thì
biết niệm hơi thở ra; thở vào dài thì biết thở vào dài,
thở ra dài thì biết thở ra dài; thở vào ngắn thì biết
thở vào ngắn, thở ra ngắn thì biết thở ra ngắn. Học toàn
thân thở vào, học toàn thân thở ra. Học thở vào thân hành
tĩnh chỉ, học thở ra khẩu hành tĩnh chỉ. Như vậy, Tỳ-kheo
tùy theo thân hành mà biết trên như thật. Tỳ-kheo như thế,
sống cô độc, viễn ly, tâm không phóng dật, tu hành tinh tấn,
đoạn trừ các tai hoạn của tâm và được định tâm. Được
định tâm rồi thì biết trên như thật. Ấy là Tỳ-kheo tu
tập niệm thân.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo có hỷ lạc
do ly dục nhuần thấm thân, phổ biến sung mãn. Khắp trong
thân thể, hỷ lạc sanh do ly dục, không đâu không có. Như
người hầu tắm, bỏ bột tắm[10]
đầy chậu, nước hòa thành bọt, nước thấm vào thân, phổ
biến sung mãn, không đâu không có. Cũng vậy, Tỳ-kheo có hỷ
lạc do ly dục nhuần thấm vào thân, phổ biến sung mãn, khắp
trong thân thể hỷ lạc sanh do ly dục, không đâu không có.
Như vậy, Tỳ-kheo tùy theo thân hành mà biết trên như thật.
Tỳ-kheo như thế, sống cô độc, viễn ly, tâm không phóng
dật, tu hành tinh tấn, đoạn trừ các tai hoạn của tâm và
được định tâm. Được định tâm rồi thì biết trên như
thật. Ấy là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo có hỷ lạc
do định sanh nhuần thấm thân, phổ biến sung mãn. Khắp trong
thân thể, hỷ lạc do định sanh không đâu không có. Cũng
như suối trên núi trong sạch không nhơ, nước từ bốn phương
chảy đến, đổ vào một cách tự nhiên, tức thì đáy suối
nước tự phun lên, chảy tràn ra ngoài, thấm ướt cả núi,
phổ biến sung mãn, không đâu không có. Cũng vậy, Tỳ-kheo
có hỷ lạc do định sanh nhuần thấm thân, phổ biến sung
mãn. Khắp trong thân thể, hỷ lạc do định sanh không đâu
không có. Như vậy, Tỳ-kheo tùy theo thân hành mà biết trên
như thật. Tỳ-kheo như thế, sống cô độc, viễn ly, tâm không
phóng dật, tu hành tinh tấn, đoạn trừ các tai hoạn của
tâm và được định tâm. Được định tâm rồi thì biết
trên như thật. Ấy là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo có lạc do
ly hỷ thấm nhuần thân, phổ biến sung mãn. Khắp trong thân
thể, lạc do ly hỷ không đâu không có. Như các thứ sen xanh,
hồng, đỏ, trắng sanh ra từ nước, lớn lên trong nước,
ở dưới đáy nước, rễ, cọng, hoa, lá đều nhuần thấm,
phổ biến sung mãn, không đâu không có. Cũng vậy, Tỳ-kheo
có lạc do ly hỷ nhuần thấm vào thân, phổ biến sung mãn;
khắp trong thân thể, lạc do ly hỷ không đâu không có. Như
vậy, Tỳ-kheo tùy theo thân hành mà biết trên như thật. Tỳ-kheo
như thế, sống cô độc, viễn ly, tâm không phóng dật, tu
hành tinh tấn, đoạn trừ các tai hoạn của tâm và được
định tâm. Được định tâm rồi thì biết trên như thật.
Ấy là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo ở trong thân
này biến mãn với tâm thanh tịnh[11],
ý cởi mở, thành tựu an trụ; ở trong thân này với tâm thanh
tịnh, không chỗ nào là không biến mãn. Như có một người
trùm một cái áo dài bảy hay tám khuỷu tay, từ đầu đến
chân, không chỗ nào là không phủ kín; cũng vậy, Tỳ-kheo
ở trong thân này, biến mãn với tâm thanh tịnh, ý cởi mở,
thành tựu an trụ; ở trong thân này với tâm thanh tịnh, không
chỗ nào là không biến mãn. Như vậy, Tỳ-kheo tùy theo thân
hành mà biết trên như thật. Tỳ-kheo như thế, sống cô độc,
viễn ly, tâm không phóng dật, tu hành tinh tấn, đoạn trừ
các tai hoạn của tâm và được định tâm. Được định
tâm rồi thì biết trên như thật. Ấy là Tỳ-kheo tu tập niệm
thân.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo-niệm quang
minh tưởng[12],
khéo thọ, khéo trì, nhớ rõ điều niệm; như phía trước,
phía sau cũng vậy; như phía sau, phía trước cũng vậy[13];
ngày cũng như đêm, đêm cũng như ngày; dưới cũng như trên,
trên cũng như dưới. Như vậy, tâm không điên đảo, tâm không
bị ràng buộc, tâm tu quang minh, không khi nào còn bị bóng
đen che lấp. Như vậy, Tỳ-kheo tùy theo thân hành mà biết
trên như thật. Tỳ-kheo như thế, sống cô độc, viễn ly,
tâm không phóng dật, tu hành tinh tấn, đoạn trừ các tai hoạn
của tâm và được định tâm. Được định tâm rồi thì
biết trên như thật. Ấy là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo quán sát tướng[14],
khéo tiếp thu, khéo ghi nhớ, khéo được tư niệm bởi ý.
Như người ngồi quán sát kẻ nằm, người nằm quán sát kẻ
ngồi. Cũng vậy, Tỳ-kheo quán sát tướng[15],
khéo tiếp thu, khéo ghi nhớ, khéo được tư niệm bởi ý.
Như vậy, Tỳ-kheo tùy theo thân hành mà biết trên như thật.
Tỳ-kheo như thế, sống cô độc, viễn ly, tâm không phóng
dật, tu hành tinh tấn, đoạn trừ các tai hoạn của tâm và
được định tâm. Được định tâm rồi thì biết trên như
thật. Ấy là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo tùy theo những
chỗ trong thân, tùy theo tính chất tốt xấu, từ đầu đến
chân, quán thấy thảy đều đầy dẫy bất tịnh. Tức là,
trong thân này có tóc, lông, móng, răng, da dày, da non, thịt,
gân, xương, tim, thận, gan, phổi, ruột già, ruột non, lá lách,
dạ dày, phân[16],
não và não căn, nước mắt, mồ hôi, nước mũi, nước miếng,
mủ, máu, mỡ, tủy, đờm giải, nước tiểu. Như một cái
bồn chứa đủ loại hạt giống, ai có mắt sáng thì thấy
rõ ràng, ‘Đây là hạt lúa, gạo; kia là hạt cải, cỏ, rau’.
Cũng vậy, Tỳ-kheo tùy theo những chỗ trong thân, tùy theo tính
chất tốt xấu, từ đầu đến chân, quán thấy thảy đều
đầy dẫy bất tịnh. Tức là, trong thân này có tóc, lông,
móng, răng, da dày, da non, thịt, gân, xương, tim, thận, gan,
phổi, ruột già, ruột non, lá lách, dạ dày, phân, não và
não bộ, nước mắt, mồ hôi, nước mũi, nước miếng, mủ,
máu, mỡ, tủy, đờm giải, nước tiểu. Như vậy, Tỳ-kheo
tùy theo thân hành mà biết trên như thật. Tỳ-kheo như thế,
sống cô độc, viễn ly, tâm không phóng dật, tu hành tinh tấn,
đoạn trừ các tai hoạn của tâm và được định tâm. Được
định tâm rồi thì biết trên như thật. Ấy là Tỳ-kheo tu
tập niệm thân.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo quán các giới
trong thân rằng ‘Trong thân này của ta có địa giới, thủy
giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới’. Như
gã đồ tể mổ bò, lột hết bộ da, trải lên mặt đất,
phân thành sáu đoạn. Cũng vậy, Tỳ-kheo quán các giới trong
thân rằng: ‘Trong thân này của ta có địa giới, thủy giới,
hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới’. Như vậy,
Tỳ-kheo tùy theo thân hành mà biết trên như thật. Tỳ-kheo
như thế, sống cô độc, viễn ly, tâm không phóng dật, tu
hành tinh tấn, đoạn trừ các tai hoạn của tâm và được
định tâm. Được định tâm rồi thì biết trên như thật.
Ấy là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo quán xác chết
mới chết, từ một, hai ngày đến sáu, bảy ngày, đang bị
quạ, diều bươi mổ, sài lang cấu xé; hoặc đã được hỏa
thiêu hay đã được chôn lấp, đang bị rữa nát hư hoại.
Quán sát rồi, tự so sánh: ‘Thân ta cũng thế, đều có những
trường hợp này, không sao tránh khỏi’. Như vậy, Tỳ-kheo
tùy theo thân hành mà biết trên như thật. Tỳ-kheo như thế,
sống cô độc, viễn ly, tâm không phóng dật, tu hành tinh tấn,
đoạn trừ các tai hoạn của tâm và được định tâm. Được
định tâm rồi thì biết trên như thật. Ấy là Tỳ-kheo tu
tập niệm thân.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo như đã từng
thấy trong nghĩa địa, hài cốt sắc xanh, rửa nát, bị chim
thú ăn một nửa, xương cốt nằm rải rác trên mặt đất.
Tỳ-kheo thấy rồi, tự so sánh, ‘Thân ta cũng thế, đều
có những trường hợp này, không sao tránh khỏi’. Như vậy,
Tỳ-kheo tùy theo thân hành mà biết trên như thật. Tỳ-kheo
như thế, sống cô độc, viễn ly, tâm không phóng dật, tu
hành tinh tấn, đoạn trừ các tai hoạn của tâm và được
định tâm. Được định tâm rồi thì biết trên như thật.
Ấy là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo như đã từng
thấy ở trong nghĩa địa, thây chết không còn da thịt, máu,
mà chỉ còn gân nối liền với xương. Thấy rồi, tự so sánh,
‘Thân ta cũng thế, đều có những trường hợp này, không
sao tránh khỏi’. Như vậy, Tỳ-kheo tùy theo thân hành mà biết
trên như thật. Tỳ-kheo như thế, sống cô độc, viễn ly,
tâm không phóng dật, tu hành tinh tấn, đoạn trừ các tai hoạn
của tâm và được định tâm. Được định tâm rồi thì
biết trên như thật. Ấy là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo như đã từng
thấy trong nghĩa địa, xương rời từng đốt, tản mác khắp
nơi, xương chân, xương đùi, xương đầu gối, xương bắp
vế, xương sống, xương vai, xương cổ, xương sọ, mỗi thứ
một nơi. Thấy rồi tự so sánh, ‘Thân ta cũng thế, đều
có những trường hợp này, không sao tránh khỏi’. Như vậy,
Tỳ-kheo tùy theo thân hành mà biết trên như thật. Tỳ-kheo
như thế, sống cô độc, viễn ly, tâm không phóng dật, tu
hành tinh tấn, đoạn trừ các tai hoạn của tâm và được
định tâm. Được định tâm rồi thì biết trên như thật.
Ấy là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo như đã từng
thấy ở trong nghĩa địa, xương trắng như vỏ ốc, xanh như
lông chim bồ câu, đỏ như màu máu, mục nát, bể vụn. Thấy
rồi tự so sánh, ‘Thân ta cũng thế, đều có những trường
hợp này, không sao tránh khỏi’. Như vậy, Tỳ-kheo tùy theo
thân hành mà biết trên như thật. Tỳ-kheo như thế, sống
cô độc, viễn ly, tâm không phóng dật, tu hành tinh tấn, đoạn
trừ các tai hoạn của tâm và được định tâm. Được định
tâm rồi thì biết trên như thật. Ấy là Tỳ-kheo tu tập niệm
thân.
“Nếu
có vị nào tu tập niệm thân như vậy, quảng bá như vậy,
các thiện pháp kia toàn bộ đều ở trong đó, gọi là Đạo
phẩm pháp[17].
Nếu Vị ấy có tâm biến mãn, ý cởi mở, giống như đại
hải, các con sông nhỏ kia đều đổ vào biển. Nếu tu tập
niệm thân như vậy, quảng bá như vậy, các thiện pháp kia
toàn bộ đều ở trong đó, gọi là Đạo phẩm pháp.
“Nếu
có Sa-môn, Phạm chí nào không chánh lập an trụ niệm thân,
sống với tâm nhỏ hẹp[18],
vị ấy nếu Ma Ba-tuần muốn lợi dụng thì có thể lợi dụng
được. Vì sao? Vì Sa-môn, Phạm chí kia trống không, không
có niệm thân. Giống như một cái bình, bên trong trống không,
không có nước, đặt ngay ngắn trên mặt đất, nếu có người
đem nước đến đổ vào trong bình thì Tỳ-kheo nghĩ sao? Bình
ấy như vậy có chứa nước được hay không?”
Tỳ-kheo
đáp:
“Bạch
Thế Tôn, có thể được. Vì sao? Vì bình trống không, không
có nước, đặt ngay ngắn trên mặt đất cho nên chứa nước
được”.
“Cũng
vậy, nếu có Sa-môn, Phạm chí nào không chánh lập an trụ
niệm thân, sống với tâm nhỏ hẹp, vị ấy nếu ma Ba-tuần
muốn lợi dụng thì có thể lợi dụng được. Vì sao? Vì
Sa-môn, Phạm chí kia trống không, không có niệm thân.
“Nếu
có Sa-môn, Phạm chí nào chánh lập an trụ niệm thân, sống
với tâm vô lượng, vị ấy nếu ma Ba-tuần muốn lợi dụng,
nhất định không thể được. Vì sao? Vì Sa-môn, Phạm chí
kia không trống không, có niệm thân. Giống như có một cái
bình, bên trong chứa đầy nước, đặt ngay ngắn trên mặt
đất, nếu có người đem nước đến đổ vào trong bình,
thì Tỳ-kheo nghĩ sao? Bình ấy như vậy có chứa nước nữa
không?”
Tỳ-kheo
đáp:
“Bạch
Thế Tôn, không thể được. Vì sao? Vì bình ấy nước đã
đầy rồi, đặt ngay ngắn trên mặt đất, cho nên không chứa
nước được nữa”.
“Cũng
vậy, nếu có Sa-môn, Phạm chí nào chánh lập an trụ niệm
thân, sống với tâm vô lượng, vị ấy nếu ma Ba-tuần muốn
lợi dụng, nhất định không thể được. Vì sao? Vì Sa-môn,
Phạm chí kia không trống không, có niệm thân.
“Nếu
có Sa-môn, Phạm chí nào không chánh lập an trụ niệm thân,
sống với tâm nhỏ hẹp, vị ấy nếu Ma Ba-tuần muốn lợi
dụng thì có thể lợi dụng được. Vì sao? Vì Sa-môn, Phạm
chí kia trống không, không có niệm thân. Giống như người
lực sĩ khiêng hòn đá to, nặng, quăng vào trong vũng bùn thì
Tỳ-kheo nghĩ sao? Hòn đá có bị lún vào bùn không?”
Tỳ-kheo
đáp:
“Bạch
Thế Tôn, hòn đá bị lún vào bùn. Vì sao? Vì bùn lầy mà
đá nặng, cho nên chắc chắn phải lún vào”.
“Cũng
vậy, nếu có Sa-môn, Phạm chí nào không chánh lập an trụ
niệm thân, sống với tâm nhỏ hẹp, vị ấy nếu ma Ba-tuần
muốn lợi dụng thì có thể lợi dụng được. Vì sao? Vì
Sa-môn, Phạm chí kia trống không, không có niệm thân.
“Nếu
có Sa-môn, Phạm chí nào chánh lập an trụ niệm thân, sống
với tâm vô lượng, vị ấy nếu ma Ba-tuần muốn lợi dụng,
nhất định không thể được. Vì sao? Vì Sa-môn, Phạm chí
kia không trống không, có niệm thân. Giống như người lực
sĩ cầm một trái cầu nhẹ bằng lông, ném vào một cánh cửa
đóng kín, thì Tỳ-kheo nghĩ sao? Cánh cửa kia có nhận cầu
chăng?”
Tỳ-kheo
đáp:
“Bạch
Thế Tôn, không thể nhận. Vì sao? Vì trái cầu thì nhẹ mà
cánh cửa đứng thẳng, không thể nhận được”.
“Cũng
vậy, nếu có Sa-môn, Phạm chí nào chánh lập an trụ niệm
thân, tâm vô lượng, vị ấy nếu ma Ba-tuần muốn lợi dụng,
nhất định không thể được. Vì sao? Vì Sa-môn, Phạm chí
kia không trống không, có niệm thân.
“Nếu
có Sa-môn, Phạm chí nào không chánh lập an trụ niệm thân,
sống với tâm nhỏ hẹp, vị ấy nếu Ma Ba-tuần muốn lợi
dụng thì có thể lợi dụng được. Vì sao? Vì Sa-môn, Phạm
chí kia trống không, không có niệm thân. Giống như người
tìm lửa, lấy củi khô làm mồi, rồi dùng dùi khô mà dùi
thì Tỳ-kheo nghĩ sao? Người kia làm như vậy có tìm thấy
lửa không?”
Tỳ-kheo
đáp:
“Bạch
Thế Tôn, người kia tìm thấy lửa. Vì sao? Vì người kia lấy
dùi khô mà dùi củi khô, cho nên chắc chắn tìm thấy lửa”.
“Cũng
vậy, nếu có Sa-môn, Phạm chí nào không chánh lập an trụ
niệm thân, tâm nhỏ hẹp, vị ấy nếu ma Ba-tuần muốn lợi
dụng thì có thể lợi dụng được. Vì sao? Vì Sa-môn, Phạm
chí kia trống không, không có niệm thân.
“Nếu
có Sa-môn, Phạm chí nào chánh lập an trụ niệm thân, sống
với tâm vô lượng, vị ấy nếu ma Ba-tuần muốn lợi dụng,
nhất định không thể được. Vì sao? Vì Sa-môn, Phạm chí
kia không trống không, có niệm thân. Giống như người tìm
lửa, lấy củi ướt làm mồi, rồi dùng dùi ướt mà dùi,
thì Tỳ-kheo nghĩ sao? Người kia làm vậy có tìm thấy lửa
không?”
Tỳ-kheo
đáp:
“Bạch
Thế Tôn, người kia không tìm thấy lửa. Vì sao? Vì người
kia lấy cái dùi ướt mà dùi gỗ ướt, cho nên không tìm thấy
lửa”.
“Cũng
vậy, nếu có Sa-môn, Phạm chí nào chánh lập an trụ niệm
thân, tâm vô lượng, vị ấy nếu ma Ba-tuần muốn lợi dụng,
nhất định không thể được. Vì sao? Vì Sa-môn, Phạm chí
kia không trống không, có niệm thân.
“Tu
tập niệm thân như vậy, quảng bá như vậy, nên biết có
mười tám công đức[19].
Những gì là mười tám công đức?
“Tỳ-kheo
có thể nhẫn nại những sự đói, khát, nóng, lạnh, muỗi
mòng, ruồi nhặng, gió nắng bức bách, hay gậy đánh, tiếng
dữ cũng có thể nhẫn nại. Thân bị bệnh tật hết sức
đau đớn, gần như tuyệt vọng, những điều không xứng ý
đều có thể kham nhẫn. Đây là đức tánh thứ nhất khi tu
tập niệm thân như vậy, quảng bá như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo kham nhẫn điều không vui thích hoan lạc. Nếu
sanh điều không hoan lạc thì tâm nhất định không dính trước.
Đây là đức tánh thứ hai khi tu tập niệm thân như vậy,
quảng bá như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo kham nhẫn sự sợ hãi. Nếu sợ hãi phát sanh
thì tâm nhất định không dính trước. Đây là đức tánh
thứ ba khi tu tập niệïm thân như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo sanh ba ác niệm: dục niệm, nhuế niệm, hại
niệm. Nếu ba ác niệm phát sanh, tâm nhất định không dính
trước. Đây là đức tánh thứ tư, thứ năm, thứ sáu và
thứ bảy[20]
khi tu tập niệm thân như vậy, quảng bá như vậy.
“Lại
nữa Tỳ-kheo ly dục, ly pháp ác bất thiện, cho đến chứng
đắc đệ Tứ thiền, thành tựu an trụ. Đây là đức tánh
thứ tám khi tu tập niệm thân như vậy, quảng bá như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo đã diệt tận ba kết sử, chứng quả Tu-đà-hoàn,
không còn đọa vào ác pháp, nhất định đến chánh giác,
chỉ còn thọ sanh tối đa bảy đời nữa. Sau bảy lần qua
lại thiên thượng, nhân gian sẽ chứng đắc khổ biên. Đây
là đức tánh thứ chín khi tu tập niệm thân như vậy, quảng
bá như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo đã diệt tận ba kết sử, dâm, nộ, si đã mỏng,
chỉ còn qua lại một lần thiên thượng nhân gian. Sau một
lần qua lại sẽ chứng đắc khổ biên. Đây là đức tánh
thứ mười khi tu tập niệm thân như vậy, quảng bá như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo đã diệt tận năm hạ phần kết sử, sanh vào
nơi kia rồi nhập Niết-bàn, được pháp bất thối, không
trở lại đời này. Đây là đức tánh thứ mười một khi
tu tập niệm thân như vậy, quảng bá như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo nếu có tịch tĩnh giải thoát[21],
ly sắc, chứng đắc vô sắc, định như vậy[22],
tự thân tác chứng, thành tựu an trụ, rồi bằng trí tuệ
và quán sát để vĩnh viễn đoạn trừ các lậu. Đây là đức
tánh thứ mười hai, mười ba, mười bốn, mười lăm, mười
sáu, mười bảy[23]
khi tu tập niệm thân như vậy, quảng bá như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo chứng đắc Như ý túc, Thiên nhĩ, Tha tâm trí,
Túc mạng trí, Sanh tử trí, các lậu đã tận diệt, chứng
đắc vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Ngay trong đời
này mà tự tri, tự giác, tự tác chứng, thành tựu an trụ;
biết một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh
đã thành, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’.
Đây là đức tánh thứ mười tám khi tu tập niệm thân như
vậy, quảng bá như vậy.
“Tu
tập niệm thân như vậy, quảng bá như vậy, nên biết, có
mười tám công đức này[24].”
Phật
thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan
hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Tương đương Pāli M.119 Kāyagatāsati-suttaṃ.
[2]
Ương-kỳ 鴦祁.
Pāli: Aṅga.
[3]
A-hòa-na 阿那.
Có lẽ Pāli laø Āpaṇa, một ngôi làng Bà-la-môn, một thị
trấn trong xứ Anguttarāpa thuộc vương quốc Aṅga (Ương-kỳ).
[4]
Kiền ni 犍尼có
lẽ Pāli là Kaniya, một đạo sĩ bện tóc (Jatila) ở tại Āpaṇa,
được nói đến trong M.9: Sela-sutta. Bản Pāli nói: Phật tại
Sāvatthi.
[5]
Niệm thân 念身.
Pāli: kāyagatāsati, thân hành niệm.
[6]
Từ đây trở xuống, như kinh số 98. Xem các chú thích ở kinh
đó.
[7]
Pāli: ye gehasitā sarasaṃkappā te pahīyanti... ajjhattam eva cittaṃ
santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhīyati; đoạn những
niệm tưởng tư duy liên hệ thế tục... nội tâm an lập,
an trụ, chuyên nhất, nhập định.
[8]
Tri thượng như chân 知上如真;
không rõ ý.
[9]
Nguyên Hán: chánh tri 正知.
Pāli: saṃpajāna, nhận thức cụ thể (mình đang làm gì).
[10]
Hán: tháo đậu 澡豆,
người Trung Quốc thời cổ nghiền đậu thành bột, trộn
với thuốc, làm bột tắm. Từ này dùng để chỉ bột tắm
trong kinh Phật. Pāli: nahāniya-cuṇṇa.
[11]
Thanh tịnh tâm 清淨心,
chỉ xả niệm thanh tịnh (Pāli: upekkhā-sati-pārisuddhiṃ); ở
đây nói về thiền thứ tư. Pāli: so imam eva kāyaṃ parisuddhena
cetasā pariyodātena pharitvā, vị ấy làm thấm nhuần thân nay
với tâm thuần tịnh trong sáng.
[12]
Quang minh tưởng 光明想;
niệm tưởng về ánh sáng. Bản Pāli không đề cập.
[13]
Nghĩa là quán trước mặt thấy như là sau lưng và ngược
lại. Xem kinh số 85.
[14]
Quán tướng 觀相.
Bản Pāli không đề cập.
[15]
Quán tướng 觀相.
Bản Pāli không đề cập.
[16]
Đoàn phấn 摶糞;
bản Tống-Minh 腨
bản Nguyên 揣.
[17]
Đạo phẩm pháp 道品法;
không phải 37 phẩm trợ đạo. Pāli: Dhamma-vijjābhāgiyā.
[18]
Du hành thiểu tâm 遊行少心;
được hiểu là sống với tâm không biến mãn bởi thân hành
niệm.
[19]
Bản Pāli nói có mười: dasānisaṃsā, mười điều lợi ích.
[20]
Bản Cao-li ghi các số năm, sáu, bảy. Bản Minh, sau thứ tư,
không ghi các số này.
[21]
Nguyên Hán: tức giải thoát 息解脫;
(Pāli: santa-vimokkha); chỉ định từ sắc giới vuợt qua sắc
để nhập vô sắc, an trụ nơi tịch tĩnh giải thoát. Xem các
kinh 26, 51. Bản Pāli không đề cập.
[22]
Như kỳ tượng định.
[23]
Các số này kể theo bản Cao-li. Bản Minh chỉ nêu số mười
hai.
[24]
Thực sự chỉ có 10, bằng con số trong bản Pāli, chỉ khác
chi tiết.