80.
KINH CA-HI-NA[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng,
vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ, A-na-luật-đà cũng ở tại nước Xá-vệ, trong núi Sa-la-la
nham[2].
Lúc ấy đêm đã qua, trời sáng, Tôn giả A-na-luật-đà mang
y, cầm bát vào thành Xá-vệ khất thực. Tôn giả A-nan cũng
vào buổi sáng đắp y mang bát vào thành Xá-vệ khất thực.
Tôn giả A-na-luật-đà gặp Tôn giả A-nan cùng đi khất thực.
Sau khi gặp, Tôn giả A-na-luật-đà hỏi:
“Này
Hiền giả A-nan, nên biết, ba y của tôi đã rách nát hết.
Này Hiền giả, nay đây có thể nhờ các Tỳ-kheo may y hộ
cho tôi không?”
Tôn
giả A-nan im lặng nhận lời Tôn giả A-na-luật-đà, hứa sẽ
nhờ.
Bấy
giờ, Tôn giả A-nan khất thực, sau khi vào Xá-vệ, ăn xong,
sau buổi trưa, rửa tay chân, lấy Ni-sư-đàn vắt lên vai, tay
cầm chìa khóa cửa, đến khắp các phòng gặp các Tỳ-kheo,
liền nói rằng:
“Thưa
các thầy, hôm nay qua núi Sa-la-la nham may y cho Tôn giả A-na-luật-đà”.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe lời Tôn giả A-nan, thảy đều đến
Sa-la-la nham để may y cho Tôn giả A-na-luật-đà.
Lúc
ấy, Đức Thế Tôn gặp Tôn giả A-nan tay cầm chìa khóa cửa,
đến khắp các phòng. Sau khi gặp, Ngài hỏi:
“A-nan,
ông vì việc gì tay cầm chìa khóa cửa, đến khắp các phòng?”
Tôn
giả A-nan bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, con nay nhờ các Tỳ-kheo may y cho Tôn giả A-na-luật-đà”.
Đức
Thế Tôn bảo rằng:
“A-nan,
sao ông không thỉnh Như Lai may y cho A-na-luật-đà?”
Khi
ấây, Tôn giả A-nan liền chắp tay hướng về Đức Thế Tôn
bạch rằng:
“Cúi
mong Thế Tôn qua núi Sa-la-la nham may y cho Tôn giả A-na-luật-đà”.
Đức
Thế Tôn im lặng nhận lời.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn dẫn Tôn giả A-nan qua núi Sa-la-la nham,
ngồi trước mặt chúng Tỳ-kheo. Lúc ấy trong núi Sa-la-la nham
có tám trăm Tỳ-kheo và Đức Thế Tôn cũng ngồi chung may y
cho Tôn giả A-na-luật-đà.
Lúc
đó, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên cũng có trong chúng. Bấy
giờ Đức Thế Tôn bảo:
“Đại
Mục-kiền-liên, Ta có thể vì A-na-luật-đà trải rộng khuôn
khổ tấm y, cắt rọc rồi khâu may lại thành y”.
Lúc
đó, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên từ chỗ ngồi đứng dậy,
trịch vai hữu, chắp tay hướng về Đức Thế Tôn mà bạch
rằng:
“Cúi
mong Đức Thế Tôn trải rộng khuôn khổ tấm y, các vị Tỳ-kheo
sẽ cùng nhau cắt rọc, khâu vá, may chung lại thành y”.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn liền vì Tôn giả A-na-luật-đà trải rộng
khuôn khổ tấm y, các vị Tỳ-kheo cùng nhau cắt rọc, khâu
vá, may chung lại. Ngay trong ngày hôm ấy may xong ba y cho Tôn
giả A-na-luật-đà. Đức Thế Tôn lúc ấy biết ba y của Tôn
giả A-na-luật-đà đã may xong, liền bảo rằng:
“A-na-luật-đà,
ông hãy nói pháp Ca-hi-na cho các Tỳ-kheo nghe. Ta đang đau lưng
muốn nghỉ một lúc”.
Tôn
giả A-na-luật-đà bạch rằng:
“Xin
vâng, bạch Thế Tôn”.
Khi
ấy, Đức Thế Tôn xếp chồng bốn lớp y Uất-đa-la-tăng
để trải lên giường, gấp y Tăng-già-lê làm gối, nằm hông
bên phải, hai chân chồng lên nhau, khởi quang minh tưởng, thường
tác khởi tư tưởng nơi chánh niệm chánh trí.
Lúc
đó Tôn giả A-na-luật-đà bảo các Tỳ-kheo:
“Này
chư Hiền, xưa kia, lúc tôi chưa xuất gia học đạo, nhàm tởm
cảnh sanh, già, bệnh, chết, khóc than, áo não, buồn tủi,
lo lắng, muốn đoạn trừ cái khối đau khổ lớn lao này.
“Này
chư Hiền, khi đã nhàm tởm, tôi quán sát như vầy: ‘Đời
sống tại gia hết sức chật hẹp, đầy bụi bặm. Xuất gia
học đạo, rộng rãi bao la. Ta nay sống tại gia bị kềm tỏa
trong sự xiềng xích, không được trọn đời tu các phạm
hạnh. Ta hãy từ bỏ những tài vật ít, và tài vật nhiều,
từ bỏ thân tộc ít và thân tộc nhiều, cạo bỏ râu tóc,
mặc áo ca-sa, chí tín, từ bỏ gia đình, sống không gia đình,
xuất gia học đạo.
“Này
chư Hiền, sau đó tôi từ bỏ những tài vật ít, và tài vật
nhiều, từ bỏ thân tộc ít và thân tộc nhiều, cạo bỏ
râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, từ bỏ gia đình, sống không
gia đình, xuất gia học đạo.
“Này
chư Hiền, khi tôi đã xuất gia học đạo, từ bỏ dòng họ
rồi, thọ pháp Tỳ-kheo, tu hành cấm giới, thủ hộ Tùng giải
thoát. Tôi lại khéo léo nhiếp phục các oai nghi lễ tiết,
thấy tội nhỏ nhặt thường ôm lòng lo sợ, thọ trì thập
giới.
“Này
chư Hiền, tôi xa lìa sát hại, đoạn trừ sát hại, vất bỏ
dao gậy, có tàm có quý, có tâm từ bi, lợi ích tất cả,
ngay đến cả côn trùng nhỏ nhặt. Với việc sát sanh, tôi
đã đoạn trừ tâm đó.
“Này
chư Hiền, tôi đã xa lìa sự lấy của không cho, đoạn trừ
sự lấy của không cho, chỉ lấy những gì được cho, vui
nơi việc lấy vật đã đuộc cho, thường ưa bố thí, hoan
hỷ không keo kiết, không mong cầu báo đáp. Với sự lấy
của không cho, tâm tôi đã đoạn trừ.
“Này
chư Hiền, tôi đã xa lìa phi phạm hạnh, siêng năng tu phạm
hạnh, tinh cần tịnh diệu, thanh tịnh không ô uế, lìa dục,
đoạn dâm. Với việc phi phạm hạnh, tâm tôi đã đoạn trừ.
“Này
chư Hiền, tôi xa lìa nói láo, nói lời chân thật, thích sự
chân thật, an trụ nơi chân thật không di động, thay đổi,
mọi người đều tin theo, không dối gạt thế gian. Với lời
nói láo, tâm tôi đã đoạn trừ.
“Này
chư Hiền, tôi xa lìa lời nói hai lưỡi, đoạn trừ lời nói
hai lưỡi, thực hành không nói hai lưỡi, không phá hoại người
khác; không nghe lời người này đem nói lại với người kia
để phá hoại người này; không nghe lời người kia đem nói
lại với người này để phá hoại người kia. Ai chia rẽ
thì muốn làm cho hòa hiệp, ai hòa hiệp thì làm cho hoan hỷ;
không bè đảng, không ham thích bè đảng, không rêu rao bè
đảng. Với lời nói hai lưỡi, tâm tôi đã đoạn trừ.
“Này
chư Hiền, tôi xa lìa lời nói thô ác, đoạn trừ lời nói
thô ác. Nếu có lời nói mà ngôn từ thô ác, hung hăng, tiếng
dữ trái tai, mọi người không vui, mọi người không mến,
khiến cho người khác khổ não, không được an định, thì
tôi đoạn trừ lời nói ấy. Nếu có lời nói mà trong trẻo,
hòa thuận, mềm mỏng, xuôi tai, đáng mến, khiến cho người
khác an lạc, ngôn từ đầy đủ rõ ràng, không làm người
sợ, khiến họ được an tịnh; nói những lời như vậy. Với
lời nói thô ác, tâm tôi đã đoạn trừ.
“Này
chư Hiền, tôi xa lìa lời nói thêu dệt, đoạn trừ lời nói
thêu dệt, nói lời hợp thời, lời chân thật, đúng pháp,
đúng nghĩa, nói lời tịch tĩnh và ưa nói lời tịch tĩnh,
hợp theo việc, hợp theo thời, dạy dỗ khéo léo, quở trách
khéo léo. Với lời nói thêu dệt, tâm tôi đã đoạn trừ.
“Này
chư Hiền, tôi xa lìa sự buôn bán, đoạn trừ sự buôn bán,
vất bỏ dụng cụ đong lường, cái đấu, cái hộc; không
nhận lãnh hàng hóa, không buộc trói người, không mong bẻ
đấu đong lường, không vì lợi nhỏ mà xâm lấn dối gạt
người khác. Với sự buôn bán, tâm tôi đã đoạn trừ.
“Này
chư Hiền, tôi xa lìa việc nhận lãnh quả phụ, đồng nữ,
đoạn trừ việc nhận lãnh quả phụ, đồng nữ. Với việc
nhận lãnh quả phụ, đồng nữ, tâm tôi đã đoạn trừ.
“Này
chư Hiền, tôi xa lìa việc nhận lãnh tôi tớ, đoạn trừ
việc nhận lãnh tôi tớ. Với việc nhận lãnh tôi tớ, tâm
tôi đã đoạn trừ.
“Này
chư Hiền, tôi xa lìa việc nhận lãnh voi, ngựa, bò, dê; đoạn
trừ việc nhận lãnh voi, ngựa, bò, dê. Với việc nhận lãnh
voi, ngựa, trâu, dê, tâm tôi đã đoạn trừ.
“Này
chư Hiền, tôi xa lìa việc nhận lãnh gà, heo, đoạn trừ việc
nhận lãnh gà, heo. Đối với việc nhận lãnh gà, heo, tâm
tôi đã đoạn trừ.
“Này
chư Hiền, tôi xa lìa việc nhận lãnh ruộng vườn, tiệm quán,
đoạn trừ việc nhận lãnh ruộng vườn, tiệm quán. Với
việc nhận lãnh ruộng vườn, tiệm quán, tâm tôi đã đoạn
trừ.
“Này
chư Hiền, tôi xa lìa việc nhận lãnh lúa, mè, đậu còn sống
chưa chín; đoạn trừ việc nhận lãnh lúa, mè, đậu còn sống
chưa chín. Với việc nhận lãnh lúa, mè, đậu còn sống chưa
chín, tâm tôi đã đoạn trừ.
“Này
chư Hiền, tôi xa lìa rượu, đoạn trừ rượu. Với việc
uống rượu, tâm tôi đã đoạn trừ.
“Này
chư Hiền, tôi xa lìa giường lớn, cao rộng; đoạn trừ giường
lớn cao rộng. Với việc giường cao lớn rộng, tâm tôi đã
đoạn trừ.
“Này
chư Hiền, tôi xa lìa tràng hoa, anh lạc, phấn sáp, thơm tho,
bôi xoa thân thể; đoạn trừ tràng hoa, anh lạc, phấn sáp,
thơm tho, bôi xoa thân thể. Với tràng hoa, anh lạc, phấn sáp,
bôi xoa, thơm tho thân thể, tâm tôi đã đoạn trừ.
“Này
chư Hiền, tôi xa lìa ca múa, xướng hát, xem nghe; đoạn trừ
ca múa, hát xướng, xem nghe. Với việc ca múa, hát xướng,
xem nghe, tâm tôi đã đoạn trừ.
“Này
chư Hiền, tôi xa lìa việc nhận lãnh vàng bạc quý báu, đoạn
trừ việc nhận lãnh vàng bạc quý báu. Với việc nhận lãnh
vàng bạc quý báu, tâm tôi đã đoạn trừ.
“Này
chư Hiền, tôi xa lìa việc ăn quá giờ ngọ, đoạn trừ việc
ăn quá giờ ngọ; ăn một lần, không ăn đêm, học ăn đúng
thời. Với việc ăn quá giờ ngọ, tâm tôi đã đoạn trừ.
“Này
chư Hiền, tôi đã thành tựu thánh giới tụ này, lại học
theo hạnh hết sức tri túc, y chỉ đủ để che thân, ăn chỉ
đủ để nuôi thân, đi đến đâu đều mang theo y bát, đi
không luyến nhớ, như chim ưng mang theo đôi cánh bay lượn
trên không trung. Này chư Hiền, tôi cũng vậy, đi đến đâu
đều mang theo y bát, không luyến nhớ.
“Này
chư Hiền, tôi đã thành tựu thánh giới tụ này và hết sức
tri túc. Tôi lại học giữ gìn các căn, thường niệm sự
khép kín, niệm tưởng muốn minh đạt, thủ hộ niệm tâm
mà được thành tựu, hằng muốn khởi ý. Khi mắt thấy sắc,
không chấp thủ sắc tướng, không đắm sắc vị; vì sự
phẫn tránh[3]
mà thủ hộ căn con mắt, trong tâm không sanh tham lam, ưu não,
ác bất thiện pháp, vì thú hướng đến kia[4],
nên thủ hộ căn con mắt. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân,
khi ý biết pháp không chấp thủ pháp tướng, không đắm pháp
vị; vì sự phẫn tránh mà thủ hộ ý căn, trong tâm không
sanh tham lam, ưu não, ác bất thiện pháp, vì thú hướng đến
kia, nên thủ hộ ý căn.
“Này
chư Hiền, tôi đã thành tựu thánh giới tụ này, hết sức
tri túc và giữ gìn các căn. Tôi lại học chánh tri khi ra,
khi vào[5],
khéo quán sát phân biệt[6];
co duỗi, cúi ngước, nghi dung chững chạc; khéo mang Tăng-già-lê
và các y bát; đi, đứng, ngồi, nằm, ngủ, thức, nói năng
hay im lặng đều có chánh tri.
“Này
chư Hiền, khi tôi đã thành tựu thánh giới tụ này và hết
sức tri túc, gìn giữ các căn, chánh trí xuất nhập. Tôi lại
học hạnh viễn ly, cô độc một mình, ở chỗ vô sự, hoặc
đến dưới gốc cây, nơi an tĩnh trống vắng, núi sâu, hốc
đá, đất trống, hoặc ở trong núi rừng, hoặc ở nơi gò
trũng.
“Này
chư Hiền, khi tôi đã đến chỗ vô sự, hoặc dưới gốc
cây, nơi an tĩnh không nhàn, trải Ni-sư-đàn, ngồi kiết già,
chánh thân chánh nguyện[7],
hướng niệm nội tâm[8],
đoạn trừ tâm tham lam, tâm không tranh cãi[9],
thấy tài vật và các nhu dụng sinh sống của người khác
mà không khởi lòng tham muốn, muốn khiến về mình. Tôi đối
vớùi sự tham lam, tâm đã tịnh trừ. Cũng vậy, sân nhuế,
thụy miên, trạo hối, đoạn nghi trừ hoặc, đối với các
thiện pháp không có do dự. Tôi đối với sự nghi hoặc, tâm
đã tịnh trừ.
“Này
chư Hiền, tôi đã đoạn trừ năm triền cái làm cho tâm ô
uế, tuệ yếu kém; ly dục, ly ác bất thiện cho đến chứng
đắc Tứ thiền, thành tựu và an trụ.
“Này
chư Hiền, tôi đã được định tâm như vậy, thanh tịnh không
ô uế, không buồn phiền, nhu nhuyến, khéo an trụ, được
tâm bất động, học chứng nghiệm Như ý túc trí thông.
“Này
chư Hiền, tôi đã được vô lượng Như ý túc; đó là, phân
một thành nhiều, hợp nhiều thành một, một thời trụ một,
có tri có kiến, không trở ngại bởi vách đá, chẳng khác
nào đi giữa hư không, vào đất như vào nước, đi trên nước
như đi trên đất, ngồi kiết già mà bay lên không trung như
chim bay. Ngay mặt trời này, mặt trăng này có đại như ý
túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai
thần, tôi sờ bắt được, thân tôi cao đến Phạm thiên.
“Này
chư Hiền, khi tôi đã được định tâm như vậy, thanh tịnh,
không tạp uế, không buồn phiền, nhu nhuyến, khéo an trụ,
được tâm bất động, tôi học chứng nghiệm Thiên nhĩ trí
thông. Này chư Hiền, tôi dùng thiên nhĩ nghe âm thanh loài người
và không phải loài người, gần xa, hay và không hay.
“Này
chư Hiền, khi tôi đã được định tâm như vậy, thanh tịnh
không ô uế, nhu nhuyến, khéo an trụ, được bất động tâm,
tôi học chứng nghiệm Tha tâm trí thông. Này chư Hiền, chúng
sanh khác suy nghĩ, hành động, tôi dùng tha tâm trí biết được
tâm của họ đúng như thật. Tâm có dục, tôi biết đúng
như thật là tâm có dục. Tâm không dục, tôi cũng biết đúng
như thật là tâm không dục. Nếu có giận, có nghi, không giận,
không nghi, có uế, không uế, định tâm, tán loạn, cao thấp,
lớn nhỏ, tu hay không tu, định hay không định, tôi đều
biết đúng như thật. Không có tâm giải thoát, tôi biết không
có tâm giải thoát. Có tâm giải thoát tôi cũng biết đúng
như thật có tâm giải thoát.
“Này
chư Hiền, tôi đã được định tâm như vậy, thanh tịnh không
ô uế, không buồn phiền, nhu nhuyến, khéo an trụ, được
tâm bất động, tôi học Ức túc mạng trí thông. Này chư
Hiền, có hạnh nghiệp, có tướng mạo, tôi đều nhớ xưa
kia trải qua vô lượng, nào là một đời, hai đời, trăm đời,
ngàn đời, thành kiếp, hoại kiếp, vô số thành hoại kiếp.
Chúng sanh đến đó, đã từng sanh chỗ đó, tên họ như vậy,
danh tự như vậy, sống như vậy, ăn uống như vậy, chịu
khổ được vui như vậy, sống lâu như vậy, sống lâu rồi
chết như vậy, chết đây sanh kia, chết kia sanh đây. Tôi sanh
chỗ này, họ như vậy, tên như vậy, sống như vậy, ăn uống
như vậy, chịu khổ như vậy, vui sướng như vậy, sống lâu
như vậy, sống lâu rồi chết như vậy.
“Này
chư Hiền, tôi đã được định tâm như vậy, thanh tịnh không
ô uế, không buồn phiền, nhu nhuyến, khéo an trụ, được
tâm bất động, tôi học Sanh tử trí thông. Này chư Hiền,
tôi dùng thiên nhãn thanh tịnh, nhìn xa hơn người, thấy chúng
sanh này lúc chết lúc sanh, sắc đẹp sắc xấu, vi diệu hoặc
không vi diệu, qua lại chỗ thiện, chỗ bất thiện, tùy chỗ
tạo nghiệp của chúng sanh này mà thấy họ đúng như thật.
Nếu chúng sanh nào thành tựu ác hạnh về thân, ác hạnh về
khẩu, ác hạnh về ý, phỉ báng Thánh nhân, tà kiến, thành
tựu nghiệp tà kiến, thì chúng sanh ấy, bởi nhân duyên này,
khi thân hoại mạng chung, chắc chắn đến chỗ ác, sanh vào
địa ngục. Nếu chúng sanh nào thành tựu diệu hạnh về thân,
diệu hạnh về khẩu và diệu hạnh về ý, không phỉ báng
Thánh nhân, chánh kiến, thành tựu nghiệp chánh kiến, thì
chúng sanh ấy, bởi nhân duyên này, khi thân hoại mạng chung,
chắc chắn sanh lên cõi thiện, sanh lên thiên giới.
“Này
chư Hiền, tôi với định tâm như vậy, thanh tịnh, không ô
uế, không phiền nhiệt, nhu nhuyến, khéo an trụ, chứng đắc
tâm bất động, bèn hướng đến sự tác chứng lậu tận
trí thông. Tôi liền biết như thật rằng: ‘Đây là Khổ’,
‘Đây là Khổ tập’, ‘Đây là Khổ diệt’, ‘Đây là
Khổ diệt đạo’. Cũng biết như thật: ‘Đây là lậu’,
‘Đây là lậu tập’, ‘Đây là lậu diệt’, ‘Đây là
lậu diệt đạo’. Tôi đã biết như vậy, thấy như vậy
rồi, tâm giải thoát dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Giải
thoát rồi liền biết là mình đã giải thoát, biết như thật
rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần
làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’.
“Này
chư Hiền, nếu Tỳ-kheo nào phạm giới, giới bị vỡ, giới
bị khuyết, giới bị thủng, giới tạp uế, giới đen, mà
muốn nương tựa nơi giới, an lập nơi giới, lấy giới làm
thang leo lên tòa nhà vô thượng tuệ, lên lầu gác chánh pháp,
nhất định không có điều đó.
“Này
chư Hiền, ví như cách thôn không xa, nhà lớn, nhà nhỏ, lầu
cao, lầu thấp, trong đó có một cái thang, nếu người nào
đến cầu xin, leo lên nhà gác đó, nhưng nếu không leo lên
nấc thang thứ nhất mà muốn leo lên nấc thang thứ hai thì
không thể được. Nếu không leo lên nấc thang thứ hai, thứ
ba, thứ tư mà lên đến nhà gác cũng không thể được. Này
chư Hiền, cũng như thế, nếu có Tỳ-kheo nào phạm giới,
giới bị vỡ, giới bị khuyết, giới bị thủng, giới tạp
uế, giới đen, mà muốn nương tựa nơi giới, an lập nơi
giới, lấy giới làm thang leo lên tòa nhà vô thượng tuệ,
lầu gác chánh pháp, nhất định không có điều đó.
“Này
chư Hiền, nếu có Tỳ-kheo nào không phạm giới, giới không
bị vỡ, giới không bị khuyết, giới không bị thủng, giới
không tạp uế, giới không đen, nếu muốn nương tựa nơi
giới, an lập nơi giới, lấy giới làm thang leo lên tòa nhà
vô thượng tuệ, lầu gác chánh pháp, điều đó chắc chắn
có.
“Này
chư Hiền, như cách thôn không xa có ngôi nhà gác, trong đó
có một cái thang, hoặc có mười nấc thang hay mười hai nấc
thang. Nếu có người muốn cầu xin, muốn được leo lên nhà
gác đó, nếu leo lên nấc thứ nhất của thang ấy rồi, muốn
leo lên nấc thứ hai thì chắc chắn có thể được. Nếu leo
lên nấc thứ hai, rồi muốn leo lên nấc thức ba, thứ tư
thì chắc chắn có thể được. Này chư Hiền, cũng như thế,
nếu có Tỳ-kheo nào không phạm giới, giới không bị vỡ,
giới không bị khuyết, giới không bị thủng, giới không
tạp uế, giới không đen, muốn nương tựa nơi giới, an lập
nơi giới, lấy giới làm thang leo lên tòa nhà vô thượng tuệ,
lầu gác chánh pháp, chắc chắn có điều đó.
“Này
chư Hiền, tôi nương tựa nơi giới, an lập nơi giới, lấy
giới làm thang leo lên tòa nhà vô thượng tuệ, lầu gác chánh
pháp, với phương tiện như quán sát ngàn thế giới.
“Này
chư Hiền, như người có mắt đứng trên lầu cao, với phương
tiện nhỏ, nhìn khoảng đất trống phía dưới, thấy ngàn
ụ đất. Này chư Hiền, tôi cũng như vậy, nương tựa nơi
giới, an lập nơi giới, lấy giới làm thang leo lên tòa nhà
vô thượng tuệ, lầu gác chánh pháp, với phương tiện nhỏ
thấy ngàn thế giới.
“Này
chư Hiền, như con voi lớn của vua, hoặc có bảy báu, hoặc
giảm tám, lấy lá đa-la mà che đi, như tôi che phủ nơi lục
thông này.
“Này
chư Hiền, đối với sự chứng đắc của tôi về Như ý túc
trí thông, nếu có gì nghi ngờ thì cứ hỏi tôi, tôi sẽ trả
lời.
“Này
chư Hiền, đối với Thiên nhĩ thông của tôi, nếu có điều
gì nghi ngờ thì cứ hỏi tôi, tôi sẽ trả lời.
“Này
chư Hiền, đối với Tha tâm trí thông của tôi, nếu có điều
gì nghi ngờ thì cứ hỏi tôi, tôi sẽ trả lời.
“Này
chư Hiền, đối với Túc mạng ý thông của tôi, nếu có điều
gì nghi ngờ thì cứ hỏi tôi, tôi sẽ trả lời.
“Này
chư Hiền, đối với Sanh tử trí thông của tôi, nếu có điều
gì nghi ngờ thì cứ hỏi tôi, tôi sẽ trả lời.
“Này
chư Hiền, đối với Lậu tận trí thông của tôi, nếu có
điều gì nghi ngờ thì cứ hỏi tôi, tôi sẽ trả lời”.
Bấy
giờ Tôn giả A-nan bạch rằng:
“Bạch
Tôn giả A-na-luật-đà, nay đây đang tập hợp ngồi trong núi
Sa-la-la nham gồm có tám trăm Tỳ-kheo và Đức Thế Tôn để
may y cho Tôn giả A-na-luật-đà. Nếu đối với Tôn giả A-na-luật-đà
có điều gì nghi ngờ về sự chứng đắc Như ý túc trí thông
thì vị ấy cứ hỏi, Tôn giả A-na-luật-đà sẽ trả lời.
Nếu đối với Tôn giả A-na-luật-đà có điều gì nghi ngờ
về sự chứng đắc Thiên nhãn trí thông thì vị ấy cứ hỏi,
Tôn giả A-na-luật-đà sẽ trả lời. Nếu đối với Tôn giả
A-na-luật-đà có điều gì nghi ngờ về Tha tâm trí thông thì
vị ấy cứ hỏi, Tôn giả A-na-luật-đà sẽ trả lời. Nếu
đối với Tôn giả A-na-luật-đà có điều gì nghi ngờ về
Túc mạng trí thông thì vị ấy cứ hỏi, Tôn giả A-na-luật-đà
sẽ trả lời. Nếu đối với Sanh tử trí thông, có điều
gì nghi ngờ thì cứ hỏi, Tôn giả A-na-luật-đà sẽ trả
lời. Có điều gì nghi ngờ về Lậu tận trí thông thì cứ
hỏi, Tôn giả A-na-luật-đà sẽ trả lời. Nhưng trong một
thời gian dài, chúng tôi đã dùng tâm biết được tâm của
Tôn giả A-na-luật-đà đúng như Tôn giả A-na-luật-đà nói:
Ngài có đại Như ý túc, có đại oai đức, có đại phước
hựu, có đại oai thần”. Khi ấy Đức Thế Tôn chỗ đau
đã bớt và được an ổn, Ngài liền trở dậy ngồi kiết
già. Sau khi ngồi, Đức Thế Tôn khen Tôn giả A-na-luật-đà:
“Lành
thay! Lành thay! A-na-luật-đà, ông đã nói pháp Ca-hi-na cho các
Tỳ-kheo nghe. Này A-na-luật-đà, ông lại nói pháp Ca-hi-na cho
các Tỳ-kheo nghe. Này A-na-luật-đà, ông thường nói pháp Ca-hi-na
cho các Tỳ-kheo nghe”.
Khi
ấy Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Này
các Tỳ-kheo, các ông hãy vâng thọ Ca-hi-na pháp, đọc tụng,
tu tập Ca-hi-na pháp, khéo giữ Ca-hi-na pháp. Vì sao? Vì Ca-hi-na
pháp cùng tương ưng với pháp, là căn bản phạm hạnh, đưa
đến sự thông suốt, đưa đến giác ngộ, đưa đến Niết-bàn.
Nếu có người con nhà dòng dõi, cạo bỏ râu tóc, mặc áo
ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất
gia học đạo thì hãy chí tâm vâng thọ Ca-hi-na pháp. Vì sao?
Vì Ta không thấy trong quá khứ các Tỳ-kheo may y như vậy,
như A-na-luật-đà Tỳ-kheo. Cũng như trong vị lai và hiện tại
các Tỳ-kheo may y như vậy, như Tỳ-kheo A-na-luật-đà. Vì sao?
Vì hôm nay tám trăm Tỳ-kheo cùng ngồi nơi núi Sa-la-la nham
và Thế Tôn cũng có trong đó, may y cho Tỳ-kheo A-na-luật-đà.
Như vậy, Tỳ-kheo A-na-luật-đà có đại như ý túc, có đại
oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần”.
Phật
thuyết như vậy. Tôn giả A-na-luật-đà và các Tỳ-kheo sau
khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Ca-hi-na, theo âm Pāli hay Sanskrit, kaṭṭhina, thì nên đọc là
ca-thi-na, nhưng đây đọc theo thói quen.
[2]
Sa-la-la nham sơn 娑羅邏巖山.
Chưa rõ địa danh này.
[3]
Vị phẫn tránh cố 謂忿諍故;
vì sự phẫn nộ và tranh cãi. Pāli: yatvādhikaraṇam enam…,
do nguyên nhân gì mà… Trong bản Hán, adhikaraṇa, nguyên nhân,
được hiểu là sự tranh cãi.
[4]
Thú hướng bỉ cố 趣向彼故;
Pāli: (akusalā dhammā) anvāssaveyyṃ, (các pháp bất thiện) có
thể khởi lên (trôi chảy vào tâm).
[5]
Chánh tri xuất nhập 正知出入;
Pāli: abhikkante paṭikkante saṃpajānakārī, tỉnh giác (biết
mình đang làm gì) khi đi tới đi lui.
[6]
Thiện quán phân biệt; Pāli: ālokite vilokite saupajānakārī,
tỉnh giác khi nhìn trước nhìn sau.
[7]
Chánh thân chánh nguyện 正身正願;
Pāli: ujuṃ kāyaṃ paṇidhāya, ngồi thẳng lưng. Bản Hán,
paṇidhāya, sau khi đặt để, được hiểu là paṇidhāna: ước
nguyện.
[8]
Phản niệm bất hướng 反念不向;
Pāli: parimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā, dựng chánh niệm ngay
trước mặt (hệ niệm tại tiền).
[9]
Tâm vô hữu tránh 心無有諍;
Pāli: vigatābhijjhena cetasā vharati, sống với tâm tư không tham
lam.