79.
KINH HỮU THẮNG THIÊN[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng,
vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ, Tiên Dư Tài Chủ[2]
bảo một người sứ:
“Ngươi
hãy đến chỗ Đức Phật, thay ta cúi đầu đảnh lễ dưới
chân Đức Thế Tôn và thưa hỏi Ngài: Thánh thể có khang cường,
an vui, không bệnh, đi đứng dễ dàng, khí lực bình thường
chăng? Hãy nói như vầy: ‘Tiên Dư Tài Chủ cúi lạy dưới
chân Phật, thưa hỏi Thế Tôn: Thánh thể có khang cường,
an vui, không bệnh, đi đứng dễ dàng, khí lực bình thường
chăng?’ Ngươi đã thay ta thăm hỏi Phật rồi, hãy đến chỗ
Tôn giả A-na-luật-đà[3],
cũng thay mặt ta cúi lạy dưới chân Tôn giả, rồi thăm hỏi
rằng: ‘Tiên Dư Tài Chủ cúi lạy dưới chân Tôn giả A-na-luật-đà
và thưa hỏi Tôn giả: Thánh thể có khang kiện, an vui, không
bệnh, đi đứng dễ dàng, thoải mái, nhẹ nhàng, khí lực
bình thường chăng? Tiên Dư Tài Chủ cung thỉnh Tôn giả A-na-luật-đà,
tất cả bốn vị, ngày mai cùng đến thọ trai’. Nếu ngài
nhận lời, thưa thêm rằng: ‘Bạch Tôn giả, Tiên Dư Tài
Chủ nhiều công việc, nhiều bổn phận, làm các việc cho
vua, giải quyết việc thần tá[4].
Cúi xin Tôn giả vì lòng thương xót, cùng tất cả bốn vị
nữa, ngày mai đến nhà Tiên Dư Tài Chủ’.”
Lúc
ấy người sứ nghe lời Tiên Dư Tài Chủ dạy xong, đi đến
chỗ Phật, cúi lạy dưới chân Ngài, đứng qua một bên mà
bạch rằng:
“Bạch
Đức Thế Tôn, Tiên Dư Tài Chủ cúi lạy dưới chân Phật,
thăm hỏi Thế Tôn: Thánh thể có khang kiện, an vui, không bệnh,
đi đứng thoải mái nhẹ nhàng, khí lực bình thường chăng?”
Bấy
giờ Đức Thế Tôn bảo người sứ:
“Mong
rằng Tiên Dư Tài Chủ an ổn, khoái lạc. Mong rằng trời,
người, A-tu-la, Càn-thát-bà, La-sát và tất cả loài khác an
ổn khoái lạc.
Khi
ấy, người sứ nghe lời Phật dạy, khéo ghi nhớ, cúi lạy
dưới chân Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi lui ra. Đi đến chỗ
Tôn giả A-na-luật-đà cúi lạy dưới chân, ngồi qua một
bên và bạch rằng:
“Bạch
Tôn giả A-na-luật-đà, Tiên Dư Tài Chủ cúi lạy dưới chân
ngài, thăm hỏi Tôn giả: Thánh thể có khang kiện, an vui, không
bệnh, đi đứng thoải mái nhẹ nhàng, khí lực bình thường
chăng? Tiên Dư Tài Chủ cung thỉnh Tôn giả cùng bốn vị ngày
mai cùng đến thọ trai”.
Lúc
ấy, cách Tôn giả A-na-luật-đà không xa, Tôn giả Chân Ca-chiên-diên[5]
đang ngồi nghỉ. Tôn giả A-na-luật-đà liền nói:
“Hiền
giả Chân Ca-chiên-diên, tôi đã nói ngày mai chúng ta đến
Xá-vệ để khất thực chính là vậy. Hôm nay Tiên Dư Tài
Chủ sai người thỉnh chúng ta bốn người cùng thọ trai ngày
mai”.
Tôn
giả Chân Ca-chiên-diên lập tức bạch rằng:
“Mong
Tôn giả A-na-luật-đà vì người ấy mà nhận lời mời. Ngày
mai chúng ta ra khỏi khu rừng này để vào thành Xá-vệ khất
thực.”
Tôn
giả A-na-luật-đà vì người ấy mà im lặng nhận lời. Lúc
đó người sứ biết Tôn giả im lặng nhận lời, liền thưa
thêm rằng:
“Tiên
Dư Tài Chủ bạch Tôn giả rằng: “Tiên Dư Tài Chủ có nhiều
công việc, nhiều bổn phận, làm các việc cho vua, giải quyết
việc thần tá. Mong Tôn giả vì thương xót, tất cả bốn
vị, ngày mai đến sớm nhà Tiên Dư Tài Chủ’.”
Tôn
giả A-na-luật-đà bảo người sứ rằng:
“Ông
cứ trở về, tôi tự biết thời”.
Lúc
ấy, người sứ liền từ chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu
đảnh lễ, nhiễu ba vòng rồi lui ra.
Đêm
tàn, trời sáng, Tôn giả A-na-luật-đà mang y cầm bát và tất
cả bốn vị cùng đến nhà Tiên Dư Tài Chủ. Bấy giờ Tiên
Dư Tài Chủ với thể nữ vây quanh, đứng ở giữa cửa, chờ
Tôn giả A-na-luật-đà.
Tiên
Dư Tài Chủ thấy Tôn giả A-na-luật-đà từ xa đi đến. Sau
khi thấy, Tiên Dư Tài Chủ chắp tay hướng về Tôn giả A-na-luật-đà
tán thán:
“Kính
chào Tôn giả A-na-luật-đà, đã lâu rồi ngài không đến
đây”.
Với
lòng tôn kính, Tiên Dư Tài Chủ dìu Tôn giả A-na-luật-đà
vào trong nhà, mời ngồi trên giường tốt đẹp đã bày sẵn.
Tôn giả liền ngồi trên giường ấy, Tiên Dư Tài Chủ cúi
lạy dưới chân Tôn giả A-na-luật-đà, ngồi qua một bên
mà bạch rằng:
“Kính
bạch Tôn giả A-na-luật-đà, con có điều muốn hỏi, xin ngài
nghe cho”.
Tôn
giả bảo:
“Tài
Chủ, tùy theo ông hỏi. Nghe rồi tôi sẽ suy nghĩ”.
Tiên
Dư Tài Chủ hỏi Tôn giả A-na-luật-đà rằng:
“Hoặc
có Sa-môn, Phạm chí đi đến chỗ con, bảo con: ‘Tài Chủ,
ông nên tu đại tâm giải thoát[6].’
Bạch Tôn giả, lại có Sa-môn, Phạm chí đến chỗ con, bảo
con: ‘Tài Chủ, ông nên tu vô lượng tâm giải thoát[7].’
Bạch Tôn giả, đại tâm giải thoát và vô lượng tâm giải
thoát, hai giải thoát này khác văn khác nghĩa, hay một nghĩa
nhưng khác văn?”
Tôn
giả A-na-luật-đà bảo:
“Tài
Chủ, ông hỏi điều này trước, vậy ông hãy tự trả lời
trước, rồi tôi sẽ trả lời sau”.
Tài
Chủ thưa:
“Bạch
Tôn giả, đại tâm giải thoát và vô lượng tâm giải thoát
này đồng nghĩa nhưng khác văn”.
Tiên
Dư Tài Chủ không thể trả lời việc này[8].
Tôn
giả A-na-luật-đà bảo rằng:
“Tài
chủ, hãy lắng nghe. Tôi sẽ nói cho ông nghe về đại tâm
giải thoát và vô lượng tâm giải thoát.
“Thế
nào là đại tâm giải thoát? Nếu có Sa-môn, Phạm chí nào
ở chỗ vô sự hoặc đến gốc cây, chỗ yên tịnh, y trên
một gốc cây, ý cởi mở, đại tâm giải thoát biến mãn,
thành tựu an trụ, chỉ với giới hạn bằng chừng đó, tâm
giải thoát không vượt hơn chỗ đó[9].
Nếu không y trên một cây, thì hãy y trên hai, hay ba gốc cây,
ý cởi mở, đại tâm giải thoát biến mãn, thành tựu an trụ,
với giới hạn bằng chừng đó, tâm giải thoát không vượt
hơn chỗ đó. Nếu không y trên hai, hay ba gốc cây thì hoặc
y trên một khu rừng. Nếu không y trên một khu rừng thì hoặc
y trên hai, ba khu rừng. Nếu không y trên hai, ba khu rừng, nên
y trên một thôn. Nếu không y trên một thôn thì nên y trên
hai, ba thôn. Nếu không y trên hai, ba thôn thì hoặc y trên một
nước. Nếu không y trên một nước, thì nên y trên hai, ba
nước. Nếu không y trên hai, ba nước thì hoặc y vào đại
địa, cho đến đại hải, ý cởi mở, đại tâm giải thoát
biến mãn, thành tựu an trú, với giới hạn bằng đó, tâm
giải thoát không vượt hơn chỗ đó. Đó là đại tâm giải
thoát.
“Tài
Chủ, thế nào là vô lượng tâm giải thoát? Nếu có Sa-môn,
Phạm chí nào ở chỗ vô sự, hoặc đến gốc cây, chỗ yên
tịnh trống trải, tâm đi đôi với từ, biến mãn một phương,
thành tựu và an trú. Như vậy, hai, ba, bốn phương, trên dưới
cùng khắp nơi, tâm đi đôi với từ, không kết không oán,
không giận không tranh, rất rộng, rất lớn, vô lượng, khéo
tu tập, biến mãn tất cả thế gian. Cũng như vậy, tâm đi
đôi với hỷ, bi, xả, không kết không oán, không giận không
tranh, rất rộng, rất lớn, vô lượng, khéo tu tập, biến
mãn tất cả thế gian. Đó là vô lượng tâm giải thoát”.
Tôn
giả hỏi:
“Tài
Chủ, đại tâm giải thoát và vô lượng tâm giải thoát, hai
giải thoát này khác nghĩa, khác văn, hay đồng nghĩa đồng
văn?”
Tiên
Dư Tài Chủ bạch rằng:
“Từ
chỗ tôi nghe Tôn giả thì tôi hiểu được nghĩa ấy. Hai giải
thoát ấy, nghĩa đã khác nhau mà văn cũng khác”.
Tôn
giả A-na-luật-đà bảo rằng:
“Tài
Chủ, có ba loài trời: Quang thiên, Tịnh quang thiên và Biến
tịnh thiên[10].
Trong đó, chư Thiên trong cõi Quang thiên sanh tại một chỗ,
không nghĩ rằng: ‘Đây là sở hữu của ta, kia là sở hữu
của ta’. Nhưng Quang thiên kia tùy chỗ họ đến nơi nào thì
liền vui say nơi đó.
“Tài
Chủ, ví như con ruồi ở nơi miếng thịt, không nghĩ rằng:
‘Đây là sở hữu của ta, kia là sở hữu của ta’, nhưng
con ruồi tùy theo miếng thịt ở đâu mà vui say chỗ đó. Cũng
vậy, chư Thiên cõi Quang thiên không nghĩ rằng: ‘Đây là
sở hữu của ta, kia là sở hữu của ta’, nhưng Quang thiên
tùy chỗ họ đến nơi nào thì liền vui say trong đó.
“Có
thời, chư Thiên cõi Quang thiên họp lại một chỗ, tuy thân
có khác nhau nhưng ánh sáng không khác.
“Tài
Chủ, ví như có người thắp vô số cây đèn, đặt ở trong
một cái nhà; các cây đèn kia tuy khác nhau nhưng ánh sáng của
các cây đèn thì không khác. Cũng vậy, chư Thiên cõi Quang
thiên họp lại một chỗ, tuy thân có khác nhau, nhưng ánh sáng
không khác.
“Có
lúc Quang thiên kia đều tự tản mác; lúc họ tự tản mác
thì thân của họ đãù khác nhau mà ánh sáng cũng khác.
“Tài
Chủ, ví như có người từ trong một cái nhà đem ra nhiều
cây đèn, phân chia đặt các nơi trong nhà. Những cây đèn
đó đã khác mà ánh sáng cũng khác. Cũng vậy, Quang thiên kia
có khi tự tản mác; lúc họ tản mác thì thân của họ đã
khác mà ánh sáng cũng khác”.
Lúc
ấy, Tôn giả Chân Ca-chiên-diên bạch rằng:
“Bạch
Tôn giả A-na-luật-đà, các vị Quang thiên sanh ở một chỗ,
có thể biết có sự hơn, bằng, vi diệu và không vi diệu
chăng?”
Tôn
giả A-na-luật-đà đáp rằng:
“Hiền
giả Ca-chiên-diên, có thể nói Quang thiên kia sanh ở một chỗ,
mà biết có sự hơn, bằng, vi diệu và không vi diệu”.
Tôn
giả Chân Ca-chiên-diên lại hỏi:
“Tôn
giả A-na-luật-đà, Quang thiên kia sanh tại một chỗ, do nhân
gì, duyên gì mà biết được có sự hơn, bằng, vi diệu và
không vi diệu?”
Tôn
giả A-na-luật-đà đáp:
“Hiền
giả Chân Ca-chiên-diên, nếu có Sa-môn, Phạm chí ở chỗ vô
sự, hoặc đến gốc cây, chỗ an tịnh, trống vắng, y trên
một gốc cây, ý cởi mở, suy tưởng về ánh sáng, thành tựu
an trụ. Tâm suy tưởng về ánh sáng cực thịnh, với giới
hạn bằng chừng đó, tâm giải thoát không vượt hơn chỗ
đó. Nếu không y trên một cây, thì hoặc y trên hai, ba cây,
cởi mở, suy tưởng về ánh sáng, tâm suy tưởng ánh sáng
cực thịnh, với giới hạn bằng chừng đó, tâm giải thoát
không vượt hơn chỗ đó. Này Hiền giả Chân Ca-chiên-diên,
hai tâm giải thoát này, giải thoát nào là trên, là hơn, là
vi diệu, là tối cao?”
Tôn
giả Chân Ca-chiên-diên đáp:
“Tôn
giả A-na-luật-đà, nếu có Sa-môn, Phạm chí không y trên một
cây, mà y trên hai, ba cây, ý cởi mở, suy tưởng về ánh sáng,
thành tựu và an trú. Tâm suy tưởng về ánh sáng cực thịnh,
với giới hạn bằng chừng đó, tâm giải thoát không vượt
hơn chỗ đó. Tôn giả A-na-luật-đà, trong hai loại giải thoát,
giải thoát này là trên, là hơn, là vi diệu, là tối cao”.
Tôn
giả A-na-luật-đà lại nói:
“Hiền
giả Chân Ca-chiên-diên, nếu không y trên hai, ba cây thì hoặc
y trên một rừng. Nếu không y trên một rừng thì hoặc y trên
hai, ba rừng. Nếu không y trên hai, ba rừng thì hoặc y trên
một thôn. Nếu không y trên một thôn, thì hoặc y trên hai,
ba thôn. Nếu không y trên hai, ba thôn, thì hoặc y trên một
nước. Nếu không y trên một nước thì hoặc y trên hai, ba
nước. Nếu không y trên hai, ba nước thì hoặc y trên một
đại địa này, cho đến đại hải, ý cởi mở, suy tưởng
về ánh sáng. Tâm suy tưởng ánh sáng cực thịnh, với giới
hạn bằng chừng đó, tâm giải thoát không vượt hơn chỗ
đó. Hiền giả Chân Ca-chiên-diên, trong hai giải thoát đó,
giải thoát nào là hơn, là trên, là vi diệu, là tối cao?”
Tôn
giả Chân Ca-chiên-diên đáp:
“Tôn
giả A-na-luật-đà, nếu có Sa-môn, Phạm chí không y trên hai,
ba cây thì hoặc y trên một rừng. Nếu không y trên một rừng
thì hoặc y trên hai, ba rừng. Nếu không y trên hai, ba rừng
thì hoặc y trên một thôn. Nếu không y trên một thôn, thì
hoặc y trên hai, ba thôn. Nếu không y trên hai, ba thôn, thì
hoặc y trên một nước. Nếu không y trên một nước thì hoặc
y trên hai, ba nước. Nếu không y trên hai, ba nước thì hoặc
y trên một đại địa này, cho đến đại hải, ý cởi mở,
suy tưởng về ánh sáng. Tâm suy tưởng ánh sáng cực thịnh,
với giới hạn bằng chừng đó, tâm giải thoát không vượt
hơn chỗ đó. Tôn giả A-na-luật-đà, trong hai loại giải thoát,
giải thoát này là trên, là hơn, là vi diệu, là tối thắng”.
Tôn
giả A-na-luật-đà bảo rằng:
“Này
Chân Ca-chiên-diên, do nhân ấy, duyên ấy, Quang thiên kia sanh
ở một chỗ mà biết có hơn, có bằng, có vi diệu và không
vi diệu. Vì sao? Vì do tâm người có hơn, có bằng, nên sự
tu có tinh, có thô. Do sự tu có tinh, có thô nên người chứng
đắc có hơn, có bằng. Này Hiền giả Chân Ca-chiên-diên, Đức
Thế Tôn cũng nói như vậy, con người có hơn, có bằng nhau”.
Tôn
giả Chân Ca-chiên-diên lại hỏi:
“Tôn
giả A-na-luật-đà, Tịnh quang thiên kia sanh một chỗ có thể
biết có sự hơn, bằng, vi diệu và không vi diệu chăng?”
Tôn
giả A-na-luật-đà đáp:
“Này
Hiền giả, có thể nói, Tịnh quang thiên kia sanh tại một
chỗ mà biết có sự hơn, bằng, vi diệu và không vi diệu”.
Tôn
giả Chân Ca-chiên-diên lại hỏi:
“Tôn
giả A-na-luật-đà, Tịnh quang thiên kia sanh tại một chỗ,
vì nhân gì, duyên gì mà biết có sự hơn, bằng, vi diệu và
không vi diệu?”
Tôn
giả A-na-luật-đà đáp:
“Này
Hiền giả Chân Ca-chiên-diên, nếu có Sa-môn, Phạm chí nào
ở chỗ vô sự, hoặc đến dưới gốc cây, chỗ an tịnh không
nhàn, ý cởi mở, Tịnh quang thiên biến mãn, thành tựu an
trú; vị ấy định này không tu, không tập, không phát triển,
không cực kỳ thành tựu. Vị ấy sau đó, khi thân hoại mạng
chung, sanh lên Tịnh quang thiên, sanh rồi không được cực
kỳ tĩnh chỉ, không được cực kỳ tịch tịnh, cũng không
sống trọn tuổi thọ.
“Này
Hiền giả Chân Ca-chiên-diên, ví như hoa sen màu xanh, vàng,
đỏ, trắng, sanh ra và lớn lên đều ở dưới đáy nước.
Khi ấy, rễ, cọng, lá, hoa, tất cả đều bị thấm nước,
ngập nước, không gì là không bị thấm nước. Này Hiền
giả Chân Ca-chiên-diên, cũng như vậy, nếu có Sa-môn, Phạm
chí ở chỗ vô sự, hoặc đến dưới gốc cây, nơi an tĩnh
không nhàn, ý cởi mở, Tịnh quang thiên biến mãn thành tựu
an trụ; vị ấy định này không tu, không tập, không làm rộng
lớn, không cực kỳ thành tựu. Vị ấy thân hoại mạng chung,
sanh lên Tịnh quang thiên, sanh rồi không cực kỳ tĩnh chỉ,
không cực kỳ tịch tịnh, cũng không sống trọn tuổi thọ.
“Này
Hiền giả Chân Ca-chiên-diên, lại có Sa-môn, Phạm chí, ý
cởi mở, Tịnh quang thiên biến mãn, thành tựu an trụ; vị
ấy định này nhiều lần tu, nhiều lần tập, nhiều lần
làm rộng lớn, cực kỳ thành tựu. Vị ấy thân hoại mạng
chung, sanh lên Tịnh quang thiên. Sau khi sanh, được cực kỳ
tĩnh chỉ, cực kỳ tịch tịnh, cũng được sống trọn tuổi
thọ.
“Này
Hiền giả Ca-chiên-diên, ví như hoa sen xanh, vàng, đỏ, trắng
sanh dưới nước, lớn dưới nước, vượt lên trên nước,
nước không thể thấm ngập được. Hiền giả Ca-chiên-diên,
cũng như vậy, nếu lại có Sa-môn, Phạm chí ở chỗ vô sự,
hoặc đến dưới gốc cây, nơi an tĩnh không nhàn, ý cởi
mở, Tịnh quang thiên biến mãn, thành tựu an trụ; vị ấy
định này nhiều lần tu, nhiều lần tập, nhiều lần làm
rộng lớn, cực kỳ thành tựu. Vị ấy khi thân hoại mạng
chung, sanh lên Tịnh quang thiên. Sanh lên rồi, được cực kỳ
tĩnh chỉ, cực kỳ tịch tịnh, và cũng được sống trọn
tuổi thọ.
“Này
Hiền giả Ca-chiên-diên, do nhân ấy, duyên ấy, chư Thiên cõi
Tịnh quang thiên, sanh ở một chỗ, biết có sự hơn, bằng,
vi diệu và không vi diệu. Vì sao? Bởi do tâm người có hơn,
có bằng, nên sự tu có tinh, có thô. Do sự tu có tinh, có thô
nên người chứng đắc có hơn, có bằng. Này Hiền giả Ca-chiên-diên,
Đức Thế Tôn cũng nói như vậy, con người có hơn, có bằng
nhau”.
Tôn
giả Chân Ca-chiên-diên lại hỏi:
“Tôn
giả A-na-luật-đà, Biến tịnh quang thiên kia, sanh ở một
chỗ, biết có sự hơn, bằng, vi diệu và không vi diệu chăng?”
Tôn
giả A-na-luật-đà đáp:
“Này
Hiền giả Chân Ca-chiên-diên, có thể nói Biến tịnh quang
thiên kia sanh ở một chỗ, mà biết có sự hơn, bằng, vi diệu
và không vi diệu”.
Tôn
giả Chân Ca-chiên-diên lại hỏi:
“Tôn
giả A-na-luật-đà, Biến tịnh quang thiên kia, sanh tại một
chỗ, do nhân gì, duyên gì mà biết có sự hơn, bằng, vi diệu
và không vi diệu?”
Tôn
giả A-na-luật-đà đáp:
“Này
Hiền giả Chân Ca-chiên-diên, nếu có Sa-môn, Phạm chí ở
chỗ vô sự, hoặc đến dưới gốc cây, chỗ an tịnh không
nhàn, ý cởi mở, Biến tịnh quang thiên biến mãn, thành tựu
an trú. Vị ấy không cực kỳ đình chỉ được thụy miên,
không chấm dứt trạo hối một cách khéo léo. Sau đó, khi
thân hoại mạng chung, sanh lên Biến tịnh quang thiên. Vị ấy
sanh rồi, ánh sáng không cực kỳ minh tịnh.
“Này
Hiền giả Chân Ca-chiên-diên, ví như đèn cháy là nhờ nơi
dầu và tim đèn. Nếu dầu có cặn, tim lại không sạch, do
đó ánh sáng của đèn phát ra không sáng tỏ. Này Hiền giả
Ca-chiên-diên, cũng vậy, nếu có Sa-môn, Phạm chí nào ở nơi
vô sự, hoặc đến dưới gốc cây, chỗ an tĩnh không nhàn,
ý cởi mở, Biến tịnh quang thiên biến mãn, thành tựu an
trụ. Vị ấy không cực kỳ đình chỉ được thụy miên,
không chấm dứt khéo léo trạo hối. Khi thân hoại mạng chung,
sanh lên Biến tịnh quang thiên. Vị ấy sanh rồi, ánh sáng
không cực kỳ minh tịnh.
“Này
Hiền giả Chân Ca-chiên-diên, lại có Sa-môn, Phạm chí ở
chỗ vô sự, hoặc đến dưới gốc cây, chỗ an tĩnh không
nhàn, ý cởi mở, Biến tịnh quang thiên biến mãn, thành tựu
an trụ. Vị ấy cực kỳ đình chỉ được thụy miên, chấm
dứt khéo léo trạo hối. Khi thân hoại mạng chung sanh lên
Biến tịnh quang thiên. Vị ấy sanh rồi, ánh sáng cực kỳ
minh tịnh.
“Này
Hiền giả Ca-chiên-diên, cũng như vậy, đèn do dầu và do tim.
Nếu dầu rất sạch và tim rất sạch, nhờ đó ánh sáng phát
ra rất trong sáng. Cũng vậy, nếu có Sa-môn, Phạm chí ở chỗ
nhàn tịnh, vô sự, đến dưới gốc cây, ý cởi mở, Biến
tịnh quang thiên biến mãn, thành tựu an trụ. Vị ấy cực
kỳ đình chỉ được thụy miên, chấm dứt khéo léo được
trạo hối. Khi thân hoại mạng chung, sanh lên Biến tịnh quang
thiên. Vị ấy sanh rồi, ánh sáng cực kỳ minh tịnh.
“Này
Hiền giả Chân Ca-chiên-diên, do nhân ấy, duyên ấy, chư Thiên
cõi Biến tịnh quang thiên sanh ở một chỗ mà biết có hơn,
bằng, vi diệu và không vi diệu. Vì sao? Bởi do tâm người
có hơn, có bằng nên sự tu có tinh có thô. Do sự tu có tinh,
có thô, nên khi người chứng đắc có hơn, có bằng. Này Hiền
giả Chân Ca-chiên-diên, Đức Thế Tôn cũng nói như vậy, loài
người có hơn, có bằng nhau”.
Bấy
giờ Tôn giả Chân Ca-chiên-diên khen Tiên Dư Tài Chủ:
“Lành
thay! Lành thay! Tài Chủ, ông đã làm cho chúng tôi được nhiều
lợi ích. Vì sao? Vì trước hết ông hỏi Tôn giả A-na-luật-đà
về việc cõi trời thù thắng[11].
Chúng tôi chưa từng nghe Tôn giả A-na-luật-đà nói về nghĩa
như vậy. Tức là, cõi trời kia, có cõi trời kia, cõi trời
kia như vậy”.
Lúc
ấy, Tôn giả A-na-luật-đà bảo rằng:
“Này
Hiền giả Chân Ca-chiên-diên, có nhiều cõi trời kia, mà mặt
trời và mặt trăng này có đại như ý túc, có đại oai đức,
có đại phước hựu, có đại oai thần như vậy nhưng ánh
sáng này không kịp ánh sáng kia. Các vị kia cùng ta tụ họp,
cùng hỏi han, cùng có những điều luận thuyết, có những
điều để đối đáp, nhưng ta không như vầy, rằng: “Cõi
trời kia, có cõi trời kia, cõi trời kia như vậy”.
Khi
đó Tiên Dư Tài Chủ biết Tôn giả A-na-luật-đà đã nói
xong, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, tự tay đi lấy nước
rửa, dùng các thức ăn hết sức trong sạch, tốt tươi, đầy
dẫy các loại nhai, loại nuốt, tự tay săn sóc thức ăn, rót
nước, liền cho ăn uống no đủ.
Ăn
xong, dọn dẹp đồ dùng, rửa nước, rồi Tài Chủ lấy một
cái ghế nhỏ, ngồi một bên nghe pháp. Tiên Dư Tài Chủ ngồi
xong, Tôn giả A-na-luật-đà thuyết pháp cho Tài chủ nghe, khuyến
phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ. Dùng vô lượng phương
tiện thuyết pháp cho Tài chủ nghe, khuyến phát khát ngưỡng,
thành tựu hoan hỷ, rồi Tôn giả từ chỗ ngồi đứng dậy
ra về.
Tôn
giả A-na-luật-đà thuyết như vậy. Tiên Dư Tài Chủ và các
Tỳ-kheo sau khi nghe xong, hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Tương đương Pāli M.127. Anuruddha-suttaṃ.
[2]
Tiên Dư Tài Chủ 仙餘財主;
Pāli có thể là Isidatta dhanapati (thương gia), nhưng không đồng
với Pāli: Pañcakaṅga thapati (Ngũ Chi vật chủ, xem kinh 179),
một người thợ mộc của Pasenadi, vua xứ Kosala.
[3]
Xem các kinh 72,74, 77.
[4]
Đoán lý thần tá 斷理臣佐.
[5]
Chân Ca-chiên-diên 真迦旃延.
Pāli: Sabhiya Kaccāna.
[6]
Đại tâm giải thoát 大心解脫.
Pāli: mahaggatā cetovimutti.
[7]
Vô lượng tâm giải thoát 無量心解脫.
Pāli: appamāṇā cetovimutti.
[8]
Có lẽ bản Hán sót một câu của ngài A-na-luật-đà. Theo
Pāli, ngài không thừa nhận cả hai đồng nghĩa.
[9]
Bản Pāli: yāvatā ekaṃ rukkhamūlaṃ mahaggan ti pharitvā adhimuccitvā
viharati, vị ấy an
trú sau khi làm sung mãn và xác định rằng “lớn đến mức
bằng một gốc cây”.
[10]
Xem cht.11, kinh 78 và cht.2 trên.
[11]
Hán: hữu thắng thiên 有滕天.
Tên kinh cũng do đó.