77.
KINH SA-KÊ-ĐẾ TAM TỘC TÁNH TỬ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại Sa-kê-đế[2]
trong rừng Thanh[3].
Bấy
giờ ở Sa-kê-đế có ba thiện gia nam tử là Tôn giả A-na-luật-đà,
Tôn giả Nan-đề và Tôn giả Kim-tì-la[4]
đều là thiếu niên mới xuất gia học đạo, cùng đến nhập
Chánh pháp này không lâu.
Lúc
ấy Đức Thế Tôn hỏi các Tỳ-kheo:
“Ba
thiện gia nam tử này đều là thiếu niên mới xuất gia học
đạo, cùng đến nhập Chánh pháp này không lâu; ba thiện nam
tử ấy có vui thích ở trong Chánh Pháp Luật này hành phạm
hạnh chăng?”
Khi
đó các vị Tỳ-kheo im lặng, không trả lời.
Đức
Thế Tôn ba lần hỏi các Tỳ-kheo rằng:
“Ba
thiện gia nam tử này đều là thiếu niên mới xuất gia học
đạo, cùng đến nhập Chánh pháp này không lâu; ba thiện nam
tử ấy có vui thích ở trong Chánh Pháp Luật này hành phạm
hạnh chăng?”
Khi
ấy các Tỳ-kheo cũng ba lần im lặng, không đáp. Thế rồi
Đức Thế Tôn hỏi thẳng ba thiện nam tử ấy, Ngài nói với
Tôn giả A-na-luật-đà rằng:
“Các
ngươi, ba thiện gia nam tử, đều ở tuổi thiếu niên, mới
xuất gia học đạo, cùng đến nhập Chánh pháp không lâu.
Này A-na-luật-đà, các ngươi có vui thích ở trong Pháp Luật
chân chánh này mà thực hành phạm hạnh chăng?
Tôn
giả A-na-luật-đà thưa rằng:
“Bạch
Thế Tôn, quả thật như vậy, chúng con vui thích ở trong Chánh
Pháp Luật này hành phạm hạnh.
Đức
Thế Tôn lại hỏi:
“Này
A-na-luật-đà, các ngươi lúc còn nhỏ, là những đồng tử
ấu thơ, trong trắng, tóc đen, thân thể thạnh trắng, vui thích
trong du hý, vui thích trong tắm gội, săn sóc nâng niu thân thể.
Về sau, bà con thân thích và cha mẹ đều cùng lưu luyến,
thương yêu, khóc lóc thảm thiết, không muốn cho các ngươi
xuất gia học đạo. Các ngươi đã quyết chí cạo bỏ râu
tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, từ bỏ gia đình, sống không gia
đình, xuất gia học đạo, không phải vì sợ giặc cướp,
không phải vì sợ nợ nần, không phải vì sợ khủng bố,
không phải vì sợ bần cùng, cũng không phải vì sợ không
sống được mà phải xuất gia học đạo, mà chỉ vì nhờm
tởm sự sanh, sự già, bệnh tật, sự chết, khóc lóc, sầu
khổ, hoặc vì muốn đạt đến tận cùng của khối khổ đau
vĩ đại này nên xuất gia học đạo. Này A-na-luật-đà, các
ngươi vì những tâm niệm này mà xuất gia học đạo chăng?”
Tôn
giả A-na-luật-đà đáp rằng:
“Bạch
Thế Tôn, quả thật như vậy”.
Phật
liền nói:
“A-na-luật-đà,
nếu thiện gia nam tử nào với tâm niệm như thế mà xuất
gia học đạo, nhưng có biết do đâu mà chứng đắc vô lượng
thiện pháp chăng?”
Tôn
giả bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, Thế Tôn là gốc của Pháp, là chủ của Pháp, Pháp
do Thế Tôn nói. Mong Thế Tôn giảng giải cho chúng con. Sau
khi nghe, chúng con sẽ biết được nghĩa một cách rộng rãi”.
Đức
Thế Tôn liền bảo:
“Này
A-na-luật-đà, các ngươi hãy lắng nghe, khéo tư duy và ghi
nhớ. Ta sẽ phân biệt nghĩa ấy cho các ngươi”.
Các
Tôn giả A-na-luật-đà, Tôn giả Nan-đề, Tôn giả Kim-tì-la
vâng lời lắng nghe. Đức Thế Tôn bảo:
“A-na-luật-đà,
nếu ai bị dục phủ kín, bị ác pháp quấn chặt, không được
xả lạc, vô thượng tịch tĩnh, thì với người ấy tâm sanh
ra tham lam, sân hận, thụy miên, tâm sanh không an lạc, thân
sanh ra dã dượi, ăn nhiều, tâm ưu sầu. Tỳ-kheo ấy không
nhẫn nại được đói khát, nóng lạnh, muỗi mòng, ruồi nhặng,
gió nắng bức bách, nghe tiếng thô ác hay bị đánh đập cũng
không thể nhẫn nại được. Thân mắc phải các bệnh tật
thống khổ đến mức muốn chết và gặp những cảnh ngộ
không vừa lòng đều không thể nhẫn chịu được. Vì sao?
Vì bị dục phủ kín, bị ác pháp quấn chặt, không được
xả lạc, vô thượng tịch tịnh. Trái lại, nếu ly dục, không
bị ác pháp quấn chặt, chắc chắn sẽ đạt đến xả ly,
an lạc vô thượng tịch tịnh. Tâm vị ấy không sanh ra tham
lam, sân nhuế, thụy miên, tâm được an lạc. Thân không sanh
ra dã dượi, cũng không ăn nhiều, tâm không sầu não. Tỳ-kheo
ấy nhẫn nại được đói khát, lạnh nóng, muỗi mòng, ruồi
nhặng, gió nắng bức bách, nghe tiếng thô ác hay bị đánh
đập cũng đều nhẫn nại được. Thân dù mắc những chứng
bệnh hiểm nghèo rất thống khổ đến mức chết được,
hay gặp những cảnh ngộ không thể vừa lòng, đều nhẫn
nại được. Vì sao? Vì không bị dục phủ kín, không bị
ác pháp quấn chặt, lại đạt đến xả ly, an lạc vô thượng
tịch tịnh.
Đức
Thế Tôn hỏi:
“Này
A-na-luật-đà, Như Lai vì ý nghĩa gì mà có cái hoặc phải
đoạn trừ, hoặc có cái phải thọ dụng, hoặc có cái phải
kham nhẫn, hoặc có cái phải đình chỉ, hoặc có cái phải
nhả bỏ[5]?”
A-na-luật-đà
bạch rằng:
“Thế
Tôn là gốc của Pháp, là chủ của Pháp, Pháp do Thế Tôn
nói. Mong Thế Tôn giảng giải cho chúng con. Sau khi nghe xong,
chúng con sẽ biết được những nghĩa ấy một cách rộng
rãi”.
Đức
Thế Tôn lại bảo:
“Này
A-na-luật-đà, các ngươi hãy lắng nghe, khéo tư duy và ghi
nhớ. Ta sẽ phân biệt những thiện lợi ấy cho các ngươi”.
Tôn
giả A-na-luật-đà, Tôn giả Nan-đề, Tôn giả Kim-tì-la vâng
lời lắng nghe.
Đức
Thế Tôn bảo:
“Này
A-na-luật-đà, các lậu ô uế là gốc của sự hữu trong tương
lai, là sự phiền nhiệt, là nhân của khổ báo, của sanh,
già, bệnh, chết; Như Lai không phải vì không diệt tận, không
phải vì không biến tri mà có cái phải đoạn trừ, có cái
phải thọ dụng, có cái phải kham nhẫn, có cái phải đình
chỉ, có cái phải nhả bỏ. Này A-na-luật-đà, Như Lai chỉ
vì nhân nơi thân này, nhân nơi sáu xứ, nhân nơi thọ mạng
mà có cái phải đoạn trừ, có cái phải thọ dụng, có cái
phải kham nhẫn, có cái phải đình chỉ, có cái phải nhả
bỏ. Này A-na-luật-đà, Như Lai vì những nghĩa này mà có cái
phải đoạn trừ, có cái phải thọ dụng, có cái phải kham
nhẫn, có cái phải đình chỉ, có cái phải nhả bỏ”.
Đức
Thế Tôn hỏi:
“Này
A-na-luật-đà, Như Lai vì những ý nghĩa nào mà sống nơi rừng
vắng, trong núi sâu, dưới gốc cây, ưa sống nơi vách núi
cao, vắng vẻ không tiếng động, viễn ly, không có sự ác,
không có bóng người, tùy thuận tĩnh tọa như thế?”
Tôn
giả A-na-luật-đà thưa rằng:
“Bạch
Thế Tôn, Thế Tôn là gốc của Pháp, Thế Tôn là Chủ của
Pháp, Pháp do Thế Tôn nói. Mong Thế Tôn giảng giải cho chúng
con. Sau khi nghe xong, chúng con sẽ được những thiện lợi
ấy một cách rộng rãi”.
Đức
Thế Tôn bảo rằng:
“Này
A-na-luật-đà, các ngươi hãy lắng nghe và khéo tư duy, ghi
nhớ. Ta sẽ phân biệt những thiện lợi ấy cho các ngươi”.
Các
Tôn giả vâng lời lắng nghe.
Đức
Thế Tôn bảo:
“Này
A-na-luật-đà, không phải vì muốn đạt được những gì
chưa đạt đến, vì muốn thu hoạch những gì chưa thu hoạch,
vì muốn chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ mà Như Lai sống
nơi rừng vắng, trong núi sâu, dưới gốc cây, thích ở non
cao, vắng bặt tiếng tăm, xa lánh, không sự dữ, không có
bóng người, tùy thuận tĩnh tọa. Này A-na-luật-đà, Như Lai
chỉ vì hai mục đích sau đây nên mới sống nơi rừng vắng,
trong núi sâu, dưới gốc cây, thích ở non cao, vắng bặt tiếng
tăm, xa lánh, không sự dữ, không có bóng người, tùy thuận
tĩnh tọa. Một là, sống an lạc ngay trong đời hiện tại.
Hai là, vì thương xót chúng sanh đời sau. Đời sau hoặc có
chúng sanh học theo Như Lai, sống nơi rừng vắng, trong núi
sâu, dưới gốc cây, thích ở non cao, vắng bặt tiếng người,
tùy thuận tĩnh tọa. Này A-na-luật-đà, vì những mục đích
ấy mà Như Lai sống nơi rừng vắng, trong núi sâu, dưới gốc
cây, thích ở non cao, vắng bặt tiếng tăm, xa lánh, không sự
dữ, không có bóng người, tùy thuận tĩnh tọa”.
Đức
Thế Tôn hỏi:
“Bạch
Thế Tôn, Thế Tôn là gốc của Pháp, Thế Tôn là chủ của
Pháp, Pháp do Thế Tôn nói. Mong Thế Tôn giảng giải cho chúng
con. Sau khi nghe xong, chúng con sẽ được những thiện lợi
ấy một cách rộng rãi”.
Đức
Thế Tôn bảo rằng:
“Này
A-na-luật-đà, các ngươi hãy lắng nghe và khéo tư duy, ghi
nhớ. Ta sẽ phân biệt những ý nghĩa ấy cho các ngươi”.
Các
Tôn giả vâng lời lắng nghe.
Đức
Thế Tôn bảo:
“Này
A-na-luật-đà, không phải vì xu hướng của người mà nói,
cũng chẳng phải vì lừa gạt người, cũng chẳng phải vì
muốn vui lòng người mà khi đệ tử lâm chung, Như Lai ghi nhận
vị này sẽ sanh chỗ này, vị kia sanh chỗ kia. Này A-na-luật-đà,
chỉ vì những thanh tín thiện nam hay thanh tín thiện nữ với
tín tâm nhiệt thành, với ái lạc cao độ, với hỷ duyệt
cùng cực, sau khi đã nghe Chánh Pháp Luật, tâm nguyện tu tập
theo như vậy, cho nên lúc lâm chung của các đệ tử, Như Lai
đã ghi nhận vị này sanh chỗ này, vị kia sanh chỗ kia. Nếu
Tỳ-kheo nào nghe Tôn giả ấy lâm chung nơi ấy, được Phật
ghi nhận đã đắc cứu cánh trí, biết như thật rằng: ‘Sự
sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm
xong, không còn tái sanh nữa’. Hoặc nhiều lần trông thấy,
hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: ‘Tôn giả
ấy có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như
vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy’. Tỳ-kheo kia nghe
xong nhớ rằng Tôn giả kia có tín tâm như vậy, trì giới
như vậy, học rộng như vậy, trí tuệ như vậy. Sau khi nghe
Chánh Pháp Luật này, Tỳ-kheo kia có thể tâm nguyện tu tập
như vậy, như vậy. Này A-na-luật-đà, Tỳ-kheo ấy chắn chắc
được phần nào sống trong sự an lạc thoải mái[6].
“Này
A-na-luật-đà, nếu Tỳ-kheo nào nghe Tôn giả ấy lâm chung
ở chỗ ấy, được Phật ghi nhận đã dứt sạch năm hạ
phần kiết, sanh vào nơi kia mà nhập Niết-bàn, chứng đắc
pháp bất thối, không còn trở lại thế gian này nữa. Hoặc
chính mắt trông thấy, hoặc nhiều lần nghe người khác kể
lại rằng ‘Tôn giả ấy có tín tâm như vậy, trì giới như
vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy’.
Tỳ-kheo kia nghe xong nhớ rằng Tôn giả kia có tín tâm như
vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy, trí tuệ như
vậy. Sau khi nghe Pháp Luật chân chánh này, Tỳ-kheo đó tâm
nguyện tu tập theo như vậy, như vậy. Này A-na-luật-đà, Tỳ-kheo
đó chắc chắn được phần nào sống trong sự an lạc thoải
mái.
“Này
A-na-luật-đà, lại nữa, Tỳ-kheo nào nghe rằng: ‘Tôn giả
ấy lâm chung ở chỗ ấy, được Phật ghi nhận dứt sạch
ba kiết sử, đã làm mỏng dâm, nộ, si, chỉ một lần qua
lại thiên thượng, nhân gian; sau một lần qua lại thì đạt
đến tận cùng sự khổ’. Hoặc tận mắt trông thấy, hoặc
nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: ‘Tôn giả ấy
có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy,
bố thí như vậy, trí tuệ như vậy’. Sau khi nghe xong, Tỳ-kheo
kia nhớ rằng: ‘Tôn giả kia có tín tâm như vậy, trì giới
như vậy, học rộng như vậy, trí tuệ như vậy. Nghe Pháp
Luật chân chánh này rồi, Tỳ-kheo đó có thể tâm nguyện
tu tập theo như vậy, như vậy...’ Này A-na-luật-đà, Tỳ-kheo
đó chắc chắn được phần nào sống trong sự an lạc.
“Lại
nữa, này A-na-luật-đà, Tỳ-kheo nào nghe Tôn giả ấy lâm
chung ở nơi ấy, được Phật ghi nhận đã dứt sạch ba kiết
sử, đắc Tu-đà-hoàn, không còn đọa ác pháp, nhất định
sẽ đạt đến chánh gác, nhiều lắm là bảy lần thọ sanh.
Sau bảy lần qua lại nhân gian, thiên thượng thì đạt đến
tận cùng sự khổ. Hoặc tận mắt trông thấy, hoặc nhiều
lần nghe người khác kể lại rằng: ‘Tôn giả ấy có tín
tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy, bố
thí như vậy, trí tuệ như vậy’. Sau khi nghe xong, Tỳ-kheo
kia nhớ rằng: ‘Tôn giả kia có tín tâm như vậy, trì giới
như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như
vậy. Sau khi nghe Pháp Luật chân chánh này, Tỳ-kheo đó có
thể tâm nguyện tu tập theo như vậy, như vậy’. Này A-na-luật-đà,
Tỳ-kheo đó chắc chắn được phần nào sống trong sự an
lạc thoải mái.
“Này
A-na-luật-đà, nếu Tỳ-kheo-ni nào nghe rằng: “Tỳ-kheo-ni
ấy được Phật ghi nhận đã đắc Cứu cánh trí, biết như
thật ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần
làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’. Hoặc tận mắt
trông thấy Tỳ-kheo-ni ấy, hoặc nhiều lần nghe người khác
kể lại rằng: ‘Tỳ-kheo-ni ấy có tín tâm như vậy, có trì
giới như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí
tuệ như vậy’. Sau khi nghe xong, nhớ rằng Tỳ-kheo-ni ấy
có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy,
bố thí như vậy, trí tuệ như vậy. Sau khi nghe Pháp Luật
chân chánh này, Tỳ-kheo-ni đó có thể tâm nguyện tu tập theo
như vậy, như vậy. Này A-na-luật-đà, Tỳ-kheo-ni đó chắc
chắn được phần nào sống trong sự an lạc thoải mái.
“Lại
nữa, này A-na-luật-đà, Tỳ-kheo-ni nào nghe rằng: ‘Tỳ-kheo-ni
ấy lâm chung nơi ấy, được Đức Thế Tôn ghi nhận đã dứt
sạch năm hạ phần kiết, sanh vào nơi kia mà nhập Niết-bàn,
đắc pháp bất thối, không còn trở lại cõi này nữa’.
Hoặc tận mắt trông thấy, hoặc nhiều lần nghe người khác
nói lại rằng: ‘Tỳ-kheo ấy có tín tâm như vậy, trì giới
như vậy học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như
vậy’. Sau khi nghe Pháp Luật chân chánh này, Tỳ-kheo-ni ấy
có thể tâm nguyện tu tập theo như vậy, như vậy. Này A-na-luật-đà,
như vậy, Tỳ-kheo-ni đó chắc chắn được phần nào sống
trong sự an lạc thoải mái.
“Lại
nữa, này A-na-luật-đà, Tỳ-kheo-ni nào nghe rằng: ‘Tỳ-kheo-ni
ấy lâm chung nơi ấy, được Đức Phật ghi nhận rằng đã
dứt sạch ba kiết sử, đã mỏng dâm, nộ, si; chỉ một lần
qua lại thiên thượng, nhân gian. Sau khi một lần qua lại ấy
thì đạt đến tận cùng sự khổ’. Hoặc tận mắt trông
thấy, hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: ‘Tỳ-kheo-ni
ấy có tín tâm như vậy, trì giới như vậy học rộng như
vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy’. Nghe xong, nhớ
rằng: Tỳ-kheo-ni ấy có tín tâm như vậy, trì giới như vậy,
học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy. Sau
khi nghe Pháp Luật chân chánh này, vị ấy có thể tâm nguyện
tu tập theo như vậy, như vậy. Này A-na-luật-đà, như vậy,
Tỳ-kheo-ni đó chắc chắn được phần nào sống trong sự
an lạc.
“Lại
nữa, này A-na-luật-đà, Tỳ-kheo-ni nào nghe rằng ‘Tỳ-kheo-ni
ấy lâm chung nơi ấy, được Đức Phật ghi nhận đã dứt
sạch ba kiết sử, đắc Tu-đà-hoàn, không đọa vào ác pháp,
nhất định đã đạt đến chánh giác, nhiều lắm là bảy
lần thọ sanh. Sau bảy lần qua lại thiên thượng, nhân gian
thì đạt đến tận cùng sự khổ’. Hoặc tận mắt trông
thấy, hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: ‘Tỳ-kheo-ni
ấy có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như
vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy’. Nghe xong, Tỳ-kheo-ni
kia nhớ rằng: Tỳ-kheo-ni ấy có tín tâm như vậy, trì giới
như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như
vậy. Sau khi nghe Pháp Luật chân chánh này rồi, Tỳ-kheo-ni
kia có thể tâm nguyện tu tập theo như vậy, như vậy. Này
A-na-luật-đà, Tỳ-kheo-ni đó chắc chắn có sự sai giáng an
lac trụ chỉ.
“Này
A-na-luật-đà, nếu vị Ưu-bà-tắc nào nghe vị Ưu-bà-tắc
ấy lâm chung ở chỗ ấy, được Phật ghi nhận đã dứt sạch
năm hạ phần kiết, sanh vào chỗ kia mà nhập Niết-bàn, đắc
pháp bất thối, không còn trở lại thế gian này nữa. Hoặc
tận mắt trông thấy, hoặc nhiều lần nghe người khác kể
lại rằng: ‘Ưu-bà-tắc ấy có tín tâm như vậy, trì giới
như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như
vậy’. Nghe xong, vị Ưu-bà-tắc kia nhớ rằng: Vị Ưu-bà-tắc
ấy có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như
vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy. Sau khi nghe Pháp
Luật chân chánh này, vị Ưu-bà-tắc kia có thể tâm nguyện
tu tập theo như vậy, như vậy. Này A-na-luật-đà, như vậy
vị Ưu-bà-tắc kia chắc chắc được phần nào sống trong
sự an lạc.
“Lại
nữa, này A-na-luật-đà, Ưu-bà-tắc nào nghe vị Ưu-bà-tắc
ấy lâm chung ở chỗ ấy, được Phật ghi nhận dứt sạch
ba kiết, đã làm mỏng dâm, nộ, si; chỉ một lần qua lại
thiên thượng, nhân gian. Sau một lần qua lại ấy thì đạt
đến tận cùng sự khổ. Hoặc tận mắt trông thấy, hoặc
nhiều lần nghe người khác kể lại rằng ‘Ưu-bà-tắc ấy
có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy,
bố thí như vậy, trí tuệ như vậy’. Nghe xong, Ưu-bà-tắc
kia nhớ rằng: Vị Ưu-bà-tắc ấy có tín tâm như vậy, trì
giới như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí
tuệ như vậy. Sau khi nghe Pháp Luật chân chánh này, vị Ưu-bà-tắc
kia có thể tâm nguyện tu tập theo như vậy, như vậy. Này
A-na-luật-đà, vị Ưu-bà-tắc đó chắc chắn được phần
nào sống trong sự an lạc.
“Lại
nữa, này A-na-luật-đà, Ưu-bà-tắc nào nghe Ưu-bà-tắc kia
lâm chung ở chỗ ấy, được Phật ghi nhận đã dứt sạch
ba kiết sử, đắc Tu-đà-hoàn, đã đoạn ác pháp, nhất định
sẽ đạt đến chánh giác, nhiều lắm là bảy lần thọ sanh
nữa. Sau bảy lần qua lại thiên thượng, nhân gian thì đạt
đến tận cùng sự khổ. Hoặc tận mắt trông thấy, hoặc
nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: ‘Ưu-bà-tắc ấy
có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy,
bố thí như vậy, trí tuệ như vậy’. Nghe xong, Ưu-bà-tắc
kia nhớ lại rằng: Vị Ưu-bà-tắc ấy có tín tâm như vậy,
trì giới như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy,
trí tuệ như vậy. Sau khi nghe Pháp Luật chân chánh này, vị
Ưu-bà-tắc kia có thể tâm nguyện tu tập theo như vậy, như
vậy... Này A-na-luật-đà, vị Ưu-bà-tắc đó chắc chắn được
phần nào sống trong sự an lạc.
“Này
A-na-luật-đà, nếu Ưu-bà-tư nào nghe vị Ưu-bà-tư ấy lâm
chung nơi ấy, được Phật ghi nhận dứt sạch năm hạ phần
kiết, sanh vào nơi kia mà nhập Niết-bàn, đắc pháp bất thối,
không còn trở lại thế gian này nữa. Hoặc tận mắt trông
thấy, hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: ‘Ưu-bà-tư
ấy có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như
vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy’. Nghe xong, Ưu-bà-tư
đó nhớ lại rằng: Vị Ưu-bà-tư ấy có tín tâm như vậy,
trì giới như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy,
trí tuệ như vậy. Sau khi nghe Pháp Luật chân chánh này, vị
Ưu-bà-tư đó có thể tâm nguyện tu tập theo như vậy, như
vậy... Này A-na-luật-đà, vị Ưu-bà-tư đó chắc chắn được
phần nào sống trong sự an lạc.
“Lại
nữa, này A-na-luật-đà, Ưu-bà-tư nào nghe Ưu-bà-tư đó lâm
chung ở nơi ấy, được Phật ghi nhận đã dứt sạch ba phần
kiết, làm mỏng dâm, nộ, si; chỉ một lần qua lại thiên
thượng, nhân gian. Sau một lần qua lại ấy thì đạt đến
tận cùng sự khổ. Hoặc tận mắt trông thấy, hoặc nghe người
khác kể lại rằng: ‘Ưu-bà-tư ấy có tín tâm như vậy,
trì giới như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy,
trí tuệ như vậy’. Nghe xong, Ưu-bà-tư kia nhớ rằng: Ưu-bà-tư
ấy có tín tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như
vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy. Sau khi nghe Pháp
Luật chân chánh này, Ưu-bà-tư đó có thể tâm nguyện tu tập
theo như vậy, như vậy... Này A-na-luật-đà, vị Ưu-bà-tư
đó chắc chắn được phần nào sống trong sự an lạc.
“Lại
nữa, này A-na-luật-đà, vị Ưu-bà-tư nào nghe vị Ưu-bà-tư
đó lâm chung ở nơi ấy, được Phật ghi nhận đã dứt sạch
ba kiết, chứng Tu-đà-hoàn, không còn đọa vào ác pháp, nhất
định sẽ đến chánh giác, nhiều lắm là bảy lần thọ sanh.
Sau bảy lần qua lại thiên thượng, nhân gian thì đạt đến
tận cùng sự khổ. Hoặc tận mắt trông thấy, hoặc nhiều
lần nghe người khác kể lại rằng: ‘Ưu-bà-tư ấy có tín
tâm như vậy, trì giới như vậy, học rộng như vậy, bố
thí như vậy, trí tuệ như vậy’. Nghe xong, Ưu-bà-tư ấy
nhớ lại rằng: Ưu-bà-tư ấy có tín tâm như vậy, trì giới
như vậy, học rộng như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như
vậy. Sau khi nghe Pháp Luật chân chánh này, Ưu-bà-tư ấy có
thể tâm nguyện tu tập theo như vậy, như vậy... Này A-na-luật-đà,
vị Ưu-bà-tư ấy chắc chắn được phần nào sống trong sự
an lạc.
“Này
A-na-luật-đà, Như Lai vì những thiện lợi ấy nên khi đệ
tử lâm chung ghi nhận vị này sẽ sanh vào chỗ này, vị kia
sẽ sanh vào chỗ kia”.
Phật
thuyết như vậy Tôn giả A-na-luật-đà và các Tỳ-kheo sau
khi nghe lời Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Tương đương Pāli M.68. Naḷakapāna-suttaṃ.
[2]
Sa-kê-đế 娑雞帝.
Pāli: Sāketa, một thị trấn lớn của Kosala, cách Sāvatthi
chừng bảy dặm.
[3]
Thanh lâm 青林.
Pāli, có lẽ: Palāsavana. Bản Pāli: Kosalesu, Naḷakapāne Palāsavane,
trú Kosala, thôn Nalapāna, rừng Palāsa.
[4]
Xem kinh số 72 ở trước và kinh số 185 ở sau.
[5]
Hữu sở trừ, sở dụng, sở kham, sở chỉ, sở thổ. Pāli:
saṅkhāyekaṃ paṭisevati saṅkhāyekaṃ adhivāsati saṅkhāyekaṃ
parivajjati saṅkhāyekaṃ vinodeti: sau kki tư duy, thọ dụng một
pháp; sau khi tư duy, nhẫn thọ (chấp nhận) một pháp; sau khi
tư duy, xả ly một pháp; sau khi tư duy, bài trừ một pháp.
[6]
Hán: sai giáng an lạc trụ chỉ. Xem cht.20, kinh số 72.