76.
KINH ÚC-GIÀ-CHI-LA[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại Úc-già-chi-la[2],
ở bên bờ hồ Hằng thủy. Bấy giờ, một Tỳ-kheo vào lúc
xế, từ chỗ tĩnh tọa đứng dậy, đi đến chỗ Phật, cúi
đầu đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên,
bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, mong Thế Tôn khéo léo thuyết pháp ngắn gọn cho
con. Được nghe pháp Đức Thế Tôn dạy, con sẽ sống cô độc
tại nơi xa vắng, tâm không phóng dật, tu hành tinh cần. Nhân
sống cô độc tại nơi xa vắng, tâm không phóng dật, tu hành
tinh cần để đạt đến cứu cánh mà một thiện nam tử đã
cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, từ bỏ gia đình,
sống không gia đình, xuất gia học đạo là để đạt được
vô thượng phạm hạnh, ngay trong đời này tự tri tự giác,
tự thân tác chứng, thành tựu an trú, biết một cách như
thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc
cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa”.
Đức
Thế Tôn bảo:
“Tỳ-kheo
hãy tu học như vậy, để khiến được an trú bên trong, bất
động, vô lượng, khéo tu tập. Lại quán nội thân như thân,
thực hành hết sức tinh cần, vững chánh niệm chánh trí,
khéo tự chế ngự tâm, khiến lìa bỏn sẻn tham lam, ý không
sầu não. Lại quán ngoại thân như thân, thực hành hết sức
tinh cần, vững chánh niệm chánh trí, khéo tự chế ngự tâm,
khiến xa lìa bỏn sẻn tham lam, ý không sầu não. Lại quán
nội ngoại thân như thân, thực hành hết sức tinh cần, vững
chánh niệm chánh trí, khéo tự chế ngự tâm, khiến cho xa
lìa bỏn sẻn tham lam, ý không sầu não. Này Tỳ-kheo, với
định như vậy, khi tới, khi lui, hãy khéo tu tập; lúc đứng,
lúc ngồi, lúc nằm, lúc ngủ, lúc thức, lúc tỉnh dậy, cũng
đều tu tập như vậy.
“Lại
nữa, cũng nên tu tập định có giác có quán, định không
giác ít quán, tu tập định không giác không quán; cũng nên
tu tập về định câu hữu với hỷ, định câu hữu với lạc,
định câu hữu với định, định câu hữu với xả.
“Này
Tỳ-kheo, nếu tu tập các định này, tu một cách khéo léo
thì này Tỳ-kheo, phải tu thêm quán nội thọ như thọ, thực
hành hết sức tinh cần, giữ vững chánh niệm chánh trí, khéo
tự chế ngự tâm, khiến xa lìa bỏn sẻn tham lam, ý không
sầu não. Lại quán ngoại thọ như thọ, thực hành hết sức
tinh cần, giữ vững chánh niệm chánh trí, khéo tự chế ngự
tâm, khiến lìa bỏn sẻn tham lam, ý không sầu não. Lại quán
nội ngoại thọ như thọ, thực hành hết sức tinh cần, giữ
vững chánh niệm chánh trí, khéo tự chế ngự tâm, khiến
xa lìa bỏn sẻn tham lam, ý không sầu não. Này Tỳ-kheo, với
định như thế, lúc đi, lúc đến, hãy khéo tu tập. Lúc đứng,
lúc ngồi, lúc nằm, lúc ngủ, lúc thức, lúc tỉnh dậy, cũng
đều tu tập như thế.
“Lại
nữa, cũng nên tu tập định câu hữu với hỷ, định câu
hữu với lạc, định câu hữu với định, định câu hữu
với xả. Này Tỳ-kheo, nếu tu tập các định này, tu tập
một cách khéo léo thì nên tu thêm quán nội tâm như tâm, thực
hành hết sức tinh cần, giữ vững chánh niệm chánh trí, khéo
chế ngự tâm, khiến xa lìa bỏn sẻn tham lam, ý không sầu
não. Lại nên quán ngoại tâm như tâm, thực hành hết sức
tinh cần, giữ vững chánh niệm chánh trí, khéo chế ngự tâm,
khiến xa lìa bỏn sẻn tham lam, ý không sầu não. Lại nên
quán nội ngoại tâm như tâm, thực hành hết sức tinh cần,
giữ vững chánh niệm chánh trí, khéo chế ngự tâm, khiến
xa lìa bỏn sẻn tham lam, ý không sầu não. Này Tỳ-kheo, với
định như thế, lúc đi, lúc đến hãy khéo tu tập. Lúc đứng,
lúc ngồi, lúc nằm, lúc ngủ, lúc thức, lúc tỉnh dậy, cũng
đều tu tập như vậy.
“Lại
nữa, cũng nên tu tập định có giác có quán, định không
giác ít quán, định không giác không quán. Cũng nên tu tập
định câu hữu với hỷ, định câu hữu với lạc, định
câu hữu với xả.
“Này
Tỳ-kheo, nếu tu tập các định này, tu một cách khéo léo
thì nên tu thêm quán nội pháp như pháp, thực hành hết sức
tinh cần, giữ vững chánh niệm chánh trí, khéo chế ngự tâm,
khiến xa lìa bỏn sẻn tham lam, ý không sầu não. Lại quán
ngoại pháp như pháp, thực hành hết sức tinh cần, giữ vững
chánh niệm chánh trí, khéo chế ngự tâm, khiến xa lìa bỏn
sẻn tham lam, ý không sầu não. Lại quán nội ngoại pháp như
pháp, thực hành hết sức tinh cần, giữ vững chánh niệm
chánh trí, khéo chế ngự tâm, khiến xa lìa bỏn sẻn tham lam,
ý không sầu não. Này Tỳ-kheo, với định như thế, lúc đi
lúc đến, hãy khéo tu tập. Lúc đứng, lúc ngồi, lúc nằm,
lúc ngủ, lúc thức, lúc tỉnh dậy, cũng đều tu tập như
vậy.
“Lại
nữa, nên tu tập định có giác có quán, định không giác
ít quán, định không giác không quán, cũng nên tu tập định
câu hữu với hỷ, định câu hữu với lạc, định câu hữu
với định, định câu hữu với xả. Này Tỳ-kheo, nếu tu
tập các định này, tu tập một cách khéo léo thì này Tỳ-kheo,
tâm hãy cùng với từ tương ưng, biến mãn một phương, thành
tựu và an trú. Cũng như vậy, hai, ba bốn phương, phương trên,
phương dưới, châu biến cùng khắp, tâm cùng với từ tương
ưng, không kết, không oán, không nhuế, không tranh, rộng rãi
bao la, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn cùng khắp thế gian,
thành tựu và an trú. Này Tỳ-kheo, nếu ngươi tu tập các định
này, tu một cách khéo léo thì nên an trụ phương Đông, chắc
chắn được an lạc, không có các tai hoạn đau khổ. Nếu
an trụ phương Nam, phương Tây và phương Bắc, chắc chắn
an lạc, không có các tai hoạn đau khổ.
“Này
Tỳ-kheo, nếu ngươi tu tập các định này một cách khéo léo,
đối với các thiện mà ngươi đã an trú, Ta không còn nói
đến, huống là sự suy thoái. Các pháp thiện cứ ngày đêm
tăng trưởng, chứ không suy thoái.
“Này
Tỳ-kheo, nếu ngươi tu tập các định này, tu một cách khéo
léo thì trong hai quả, chắc chắn sẽ đắc một, hoặc ngay
trong đời này đắc cứu cánh trí. Hoặc nếu còn hữu dư
thì chứng đắc A-na-hàm”.
Bấy
giờ vị Tỳ-kheo ấy nghe những lời Đức Phật dạy, khéo
léo thọ trì, liền từ chỗ ngồi đứng dậy cúi đầu đảnh
lễ dưới chân Đức Phật, đi quanh ba vòng rồi lui ra. Vị
ấy thọ trì pháp của Phật, sống cô độc tại nơi xa vắng,
tâm không phóng dật, tu hành tinh cần. Nhân sống tại nơi
xa vắng, tâm không phóng dật, tu hành tinh cần, đạt đến
cứu cánh mà một thiện nam tử đã cạo bỏ râu tóc, mặc
áo ca-sa, chí tín, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất
gia học đạo là duy chỉ cầu đắc vô thượng phạm hạnh,
ngay trong đời hiện tại tự tri, tự giác, tự thân chứng
đắc, thành tựu an trú, biết một cách như thật rằng ‘Sự
sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, việc cần làm đã làm
xong, không còn tái sanh nữa’. Tôn giả đã biết pháp, đắc
A-la-hán.
Phật
thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan
hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Tương đương Pāli: S.47. 13 Bhikkhu-sutta.
[2]
Úc-già-chi-la. Pāli: Ukkācelā, một ngôi làng trong xứ Vajji,
trên bờ sông Gaṅgā, trên con đường từ Vương xá đến
Xá-vệ. Sau khi Tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên thị
tịch, trong khoảng 15 ngày, Đức Phật trên đường đi về
Vesāli, Ngài ghé lại Ukkācelā thuyết kinh Ukkācelā-sutta (S.47.14).
Ngài nói: “Này các Tỳ-kheo, khi Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên
Bát-niết-bàn, Ta thấy chúng hội này giống như trống không”.
Bản Hán không đề cập đến sự kiện này.