75.
KINH TỊNH BẤT ĐỘNG ĐẠO[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại Câu-lâu-sấu, ở Kiếm-ma-sắt-đàm,
một đô ấp của Câu-lâu[2].
Bấy
giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Dục
là vô thường, hư ngụy, giả dối[3].
Đã là pháp giả dối thì huyễn hóa, khi cuống, ngu si[4].
Dầu là dục của đời nay hay là dục của đời sau[5],
tất cả đều là cảnh giới của ma, là miếng mồi của ma.
Nhân những thứ ấy mới sanh ra vô lượng pháp ác bất thiện,
tham lam[6],
sân nhuế và đấu tranh[7],
làm chướng ngại cho sự tu học của Thánh đệ tử.
“Đa
văn Thánh đệ tử nên quán như vầy, ‘Thế Tôn nói rằng
dục là vô thường, hư ngụy, giả dối, huyễn hóa, khi cuống,
ngu si. Dù là dục của đời này hay dục của đời sau, dù
là sắc của đời này hay sắc của đời sau, tất cả đều
là cảnh giới của ma, là miếng mồi của ma. Nhân những thứ
ấy, tâm mới sanh ra vô lượng pháp ác bất thiện, tham lam,
sân nhuế và đấu tranh, làm chướng ngại sự tu học của
Thánh đệ tử’.
“Rồi
vị ấy có thể suy nghĩ như vầy: ‘Ta có thể chứng đắc
đại tâm, thành tựu và an trú, nhiếp phục thế gian, nhiếp
trì tâm ấy. Nếu ta chứng đắc đại tâm, thành tựu và an
trú, nhiếp phục thế gian, nhiếp trì tâm ấy thì tâm như
thế không sanh ra vô lượng pháp ác bất thiện, tham lam, sân
nhuế và đấu tranh, làm chướng ngại sự tu học của Thánh
đệ tử’.
“Vị
ấy bằng sự hành này, bằng sự học này, như vậy mà tu
tập để phát triển rộng lớn, liền ở nơi xứ mà tâm được
minh tịnh. Sau khi tâm đã minh tịnh ở nơi xứ, Tỳ-kheo ấy,
hoặc nhờ đó mà nhập vào bất động[8],
hoặc do tuệ mà giải thoát[9].
Về sau, khi thân hoại mạng chung, nhân tâm ý đã có sẵn ấy[10],
chắc chắn đạt đến bất động. Đó gọi là thuyết Tịnh
bất động đạo[11]
thứ nhất.
“Lại
nữa, Đa văn Thánh đệ tử nên quán như thế này: ‘Những
gì là sắc, tất cả những sắc ấy là bốn đại và bốn
đại tạo thành. Bốn đại ấy là pháp vô thường, khổ và
diệt’. Vị ấy bằêng sự hành này, bằng sự học này,
như vậy mà tu tập để phát triển rộng lớn, liền ở nơi
xứ mà tâm được minh tịnh. Sau khi tâm đã minh tịnh ở nơi
xứ, Tỳ-kheo ấy, hoặc nhờ đó mà nhập vào bất động,
hoặc do tuệ mà giải thoát. Về sau, khi thân hoại mạng chung,
nhân tâm ý đã có sẵn ấy, chắc chắn đạt đến bất động.
Đó gọi là thuyết Tịnh bất động đạo thứ hai.
“Lại
nữa, Đa văn Thánh đệ tử nên quán như thế này: ‘Dù là
dục của đời này hay dục của đời sau, dù là sắc đời
này hay sắc đời sau, dù là dục tưởng của đời này hay
dục tưởng của đời sau, dù là sắc tưởng của đời này
hay sắc tưởng của đời sau, tất cả tưởng ấy đều là
pháp vô thường, khổ và diệt’. Vị ấy bằêng sự hành
này, bằng sự học này, như vậy mà tu tập để phát triển
rộng lớn, liền ở nơi xứ mà tâm được minh tịnh. Sau khi
tâm đã minh tịnh ở nơi xứ, Tỳ-kheo ấy, hoặc nhờ đó
mà nhập vào bất động, hoặc do tuệ mà giải thoát. Về
sau, khi thân hoại mạng chung, nhân tâm ý đã có sẵn ấy,
chắc chắn đạt đến bất động. Đó gọi là thuyết Tịnh
bất động đạo thứ ba.
“Lại
nữa, Đa văn Thánh đệ tử nên quán thế này: ‘Dù là dục
tưởng của đời này hay dục tưởng của đời sau, dù là
sắc tưởng của đời này hay sắc tưởng của đời sau, và
bất động tưởng, tất cả tưởng đều là pháp vô thường,
khổ và diệt’. Vị ấy bấy giờ đắc Vô sở hữu xứ tưởng.
Vị ấy bằêng sự hành này, bằng sự học này, như vậy
mà tu tập để phát triển rộng lớn, liền ở nơi xứ mà
tâm được minh tịnh. Sau khi tâm đã minh tịnh ở nơi xứ,
Tỳ-kheo ấy, hoặc nhờ đó mà nhập vào bất động, hoặc
do tuệ mà giải thoát. Về sau, khi thân hoại mạng chung, nhân
tâm ý đã có sẵn ấy, chắc chắn đạt đến bất động.
Đó là gọi là thuyết Tịnh vô sở hữu xứ đạo thứ nhất[12].
“Lại
nữa, Đa văn Thánh đệ tử nên quán như thế này: ‘Thế
gian này là không, quỷ thần không, sở hữu của quỷ thần
không, cái hữu thường không, cái hữu hằng không, cái trường
tồn không, cái không biến dịch không’. Vị ấy hành như
vậy, học như vậy, tu tập và phát triển như vậy thì ở
nơi xứ mà tâm được minh tịnh. Sau khi ở nơi xứ mà tâm
được minh tịnh, Tỳ-kheo ấy hoặc nhờ đó mà tâm nhập
Vô sở hữu xứ, hoặc do tuệ mà giải thoát. Về sau, khi thân
hoại mạng chung, nhân tâm ý đã có sẵn ấy, chắc chắn đạt
đến Vô sở hữu xứ. Đó là trường hợp thứ hai được
gọi là Tịnh vô sở hữu xứ đạo.
“Lại
nữa, Đa văn Thánh đệ tử nên quán như thế này: ‘Ta không
phải được tạo ra vì cái khác, cũng không phải được tạo
ra vi chính mình[13]’.
Vị ấy hành như vậy, học như vậy, tu tập và phát triển
như vậy, thì ở nơi xứ mà tâm được minh tịnh. Sau khi ở
nơi xứ mà tâm được minh tịnh, Tỳ-kheo ấy hoặc nhờ đó
mà nhập Vô sở hữu xứ, hoặc do tuệ mà giải thoát. Về
sau, khi thân hoại mạng chung, nhân tâm ý đã có sẵn ấy,
chắc chắn đạt đến vô sở hữu xứ. Đó là trường hợp
thứ ba được gọi là Tịnh vô sở hữu xứ đạo.
“Lại
nữa, Đa văn Thánh đệ tử nên quán như thế này: ‘Dù là
dục của đời này hay dục của đời sau, dù là sắc của
đời này hay sắc của đời sau, dù là dục tưởng của đời
này hay dục tưởng của đời sau, dù là sắc tưởng của
đời này hay sắc tưởng của đời sau và bất động tưởng,
vô sở hữu xứ tưởng, tất cả tưởng ấy đều là pháp
vô thường, khổ và diệt’. Bấy giờ vị ấy đắc Vô tưởng.
Vị ấy hành như vậy, học như vậy, tu tập và phát triển
như vậy, thì ở nơi xứ mà tâm được minh tịnh. Sau khi ở
nơi xứ mà tâm được minh tịnh, Tỳ-kheo ấy hoặc nhờ đó
mà nhập vô tưởng, hoặc do tuệ mà giải thoát. Về sau, khi
thân hoại mạng chung, nhân tâm ý đã có sẵn ấy, chắc chắn
đạt đến vô tưởng xứ. Đó là nói về định vô tưởng
đạo[14]”.
Bấy
giờ, Tôn giả A-nan đang cầm quạt đứng hầu Đức Phật.
Tôn giả hướng về Phật mà bạch rằng:
“Bạch
Đức Thế Tôn, nếu có Tỳ-kheo nào thực hành như vầy, ‘Không
có ta, không có sở hữu của ta; ta sẽ không tồn tại, sở
hữu của ta sẽ không tồn tại; những gì có trước kia, bèn
được xả sạch’. Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo ấy thực hành
như thế, có chứng đắc cứu cánh Niết-bàn chăng?”
Đức
Phật nói rằng:
“Này
A-nan, sự kiện ấy không nhất định. Hoặc có người chứng
đắc, hoặc có người không chứng đắc”.
Tôn
giả A-nan lại thưa:
“Bạch
Thế Tôn, Tỳ-kheo ấy hành như thế nào mà không chứng đắc
Niết-bàn?”
Đức
Thế Tôn đáp:
“Này
A-nan, Tỳ-kheo nào hành như vầy, ‘Không có ta, không có sở
hữu của ta; ta sẽ không tồn tại, sở hữu của ta sẽ không
tồn tại; những gì có trước kia, bèn được xả sạch’.
Nhưng này A-nan, nếu Tỳ-kheo ấy vui thích với sự xả bỏ
ấy, đắm trước nơi sự xả bỏ ấy, trú vào sự xả bỏ
ấy, Tỳ-kheo như thế chắc chắn không chứng đắc Niết-bàn”.
Tôn
giả A-nan bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, Tỳ-kheo nào nếu có chỗ chấp thủ sẽ không đắc
Niết-bàn chăng?”
Đức
Thế Tôn đáp:
“Này
A-nan, nếu Tỳ-kheo nào có chỗ chấp thủ thì chắc chắn không
đắc Niết-bàn”.
Tôn
giả A-nan bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, Tỳ-kheo ấy bị chấp thủ bởi những gì?”
Đức
Thế Tôn đáp:
-Này
A-nan, còn hữu dư ở trong hành[15]
đó là hữu tưởng vô tưởng xứ, bậc nhất trong các hữu
mà Tỳ-kheo ấy chấp thủ”.
Tôn
giả A-nan bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, Tỳ-kheo ấy còn chấp thủ vào hành nào khác nữa
chăng?”
Đức
Thế Tôn đáp:
“Đúng
như thế, Tỳ-kheo ấy còn chấp thủ vào hành khác nữa”.
Tôn
giả A-nan bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, Tỳ-kheo phải hành như thế nào thì chắc chắn đắc
Niết-bàn?”
Đức
Thế Tôn đáp:
“Này
A-nan, Tỳ-kheo nào hành như vầy, ‘Không có ta, không có sở
hữu của ta; ta sẽ không tồn tại, sở hữu của ta sẽ không
tồn tại; những gì có trước kia, bèn được xả sạch’.
Và này A-nan, nếu Tỳ-kheo ấy không vui thích với sự xả
bỏ ấy, không đắm trước sự xả bỏ ấy, không trú vào
sự xả bỏ ấy, thì này A-nan, Tỳ-kheo thực hành như thế,
chắc chắn chứng đắc Niết-bàn”.
Tôn
gả A-nan hỏi rằng:
“Bạch
Thế Tôn, nếu Tỳ-kheo nào không chấp thủ vào đâu cả thì
chắc chắn chứng đắc Niết-bàn chăng?”
Đức
Thế Tôn đáp:
“Này
A-nan, nếu Tỳ-kheo nào không chấp thủ vào đâu cả thì chắc
chắn chứng đắc Niết-bàn”.
Bấy
giờ Tôn giả A-nan chắp tay hướng về Phật, bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, Thế Tôn đã thuyết về Tịnh bất động đạo,
đã thuyết về Tịnh vô sở hữu xứ đạo, đã thuyết về
Tịnh vô tưởng xứ đạo, đã thuyết về Vô dư Niết-bàn.
Bạch Thế Tôn, thế nào là sự giải thoát của bậc Thánh?”
Đức
Thế Tôn đáp:
“Này
A-nan, Đa văn Thánh đệ tử nên quán như thế này: ‘Dù là
dục của đời này hay dục của đời sau, dù là sắc của
đời này hay là sắc của đời sau, dù là dục tưởng của
đời này hay là dục tưởng của đời sau, dù là sắc tưởng
của đời này hay là sắc tưởng của đời sau và bất động
tưởng, vô sở hữu tưởng, vô tưởng tưởng, tất cả các
tưởng ấy đều là pháp vô thường, khổ và diệt, đó là
hữu thân[16].
Nếu là hữu thân thì đó là sanh, đó là già, đó là bệnh,
đó là chết.
“Này
A-nan, nếu có pháp này thì diệt trừ tất cả, không để
lưu dư, không để có trở lại. Như vậy thì không sanh, không
già, không bệnh, không chết.
“Bậc
Thánh quán như vậy. Nếu có thì chắc chắn đó là pháp giải
thoát. Nếu có Vô dư Niết-bàn thì gọi là cam lộ[17].
Vị nào quán như vậy, chắc chắn tâm giải thoát dục lậu,
tâm giải thoát hữu lậu và vô minh lậu. Đã giải thoát liền
biết đã giải thoát, biết như thật rằng ‘Sự sanh đã
dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không
còn tái sanh nữa’.
“Này
A-nan, Ta nay đã nói cho ngươi nghe về Tịnh bất động đạo,
về Tịnh vô sở hữu xứ đạo, về Tịnh vô tưởng đạo,
về Vô dư Niết-bàn, về sự giải thoát của bậc Thánh. Như
bậc Tôn sư với tâm đại bi, đoái tưởng, thương xót, mong
cầu phước lợi và thiện ích, cầu an ổn và khoái lạc cho
đệ tử, những điều ấy Ta nay đã làm xong. Các ngươi hãy
tự mình làm. Hãy đi đến nơi rừng vắng, đến dưới gốc
cây, chỗ yên tĩnh, trống vắng, ngồi tĩnh tọa mà tư duy,
chớ có phóng dật, đừng để về sau phải hối hận. Đó
là lời khuyến giáo của Ta, đó là huấn thị của Ta”.
Phật
thuyết như vậy. Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật
thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Tương đương Pāli M.106 Āneñjasappāya-suttam.
[2]
Kiếm-ma-sắt-đàm Câu-lâu. Pāli: Kammāsadhammaṃ nāma kurūnaṃ
nigamo, tại thị trấn Kammāsadhamma của người Kuru. Xem cht.3,
kinh số 10.
[3]
Hán: Dục... vọng ngôn. Pāli: aniccā... Kāmā tucchā musā mosadhammā,
dục là pháp trống rỗng, giả dối, ngu si.
[4]
Thị huyễn ngôn... ngu si. Pāli: mayākataṃ etaṃ... bālalāpanaṃ,
đó là phiếm luận của người ngu được tạo ra bằng sự
hư huyễn.
[5]
Dục, và sắc. Pāli: kāmā, kāmasaññā: dục và dục tưởng.
[6]
Hán: tăng tứ 增伺.
Pāli: abhijjhā, tham lam, thường chỉ ham muốn, dòm ngó của
người khác.
[7]
Đấu tránh 鬥諍.
Pāli: āarambha, nóng tính, hay phẫn nộ, hay gây gổ.
[8]
Nhập bất động 入不動.
Pāli: āneñjaṃ samāpajjati, nhập định với trạng thái bất
động.
[9]
Dĩ tuệ vi giải 以慧為解.
Pāli: paññāya adhimuccati, do tuệ mà có quyết định. Cũng
có thể hiểu, do tuệ mà quyết định giải thoát.
[10]
Nhân bản ý 因本意.
Pāli: saṃvattanikaṃ viññaṇaṃ, thức đã được định hướng.
[11]
Tịnh bất động đạo 淨不動道.
Pāli: āneñjasappayā paṭipadā, sự thực hành đưa đến lợi
ích của bất động.
[12]
Tịnh vô sở hữu xứ đạo. Pāli: ākiñcaññāyatanasappayā
paṭipadā, sự thực hành đưa đến lợi ích của Vô sở hữu
xứ.
[13]
Phi vị tha... Phi vị tự nhi hữu sở vi. Pāli: nāhaṃ kvacani
kassaci kiñcanatasmiṃ, na mama kvacani kismiñci kiñcanaṃ natthī’ti,
tôi không hiện hữu bất cứ ở đâu, cho bất cứ ai, trong
bất cứ cái gì. Sở hữu của tôi không hiện hữu bất cứ
ở đâu, cho bất cứ ai, trong bất cứ cái gì.
[14]Tịnh
vô tưởng đạo. Pāli: nevasaññānāsaññāyatanasappayā
paṭipadā, sự thực hành đưa đến lợi ích của Phi tưởng
phi phi tưởng xứ.
[15]
Hành trung hữu dư; Hữu ở đây được kể trong 12 nhân duyên.
[16]
Tự kỷ hữu, cũng nói là tự thân, hay hữu thân,
về sự chắc thật của năm uẩn. Pāli: sakkāya.
[17]
Cam lộ, cũng hiểu là bất tử. Pāli: amata.