74.
KINH BÁT NIỆM[1]
Tôi
nghe như vầy.
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Bà-kì-sấu[2],
ở rừng Bố trong núi Ngạc, trong vườn Lộc dã[3].
Bấy
giờ Tôn giả A-na-luật-đà ở tại Chi-đề-sấu, trong rừng
Thủy chử[4].
Tôn giả A-na-luật-đà ở chỗ yên tĩnh, tĩnh tọa tư duy,
tâm nghĩ rằng: “Đạo chứng đắc từ vô dục, chứ chẳng
phải từ hữu dục. Đạo chứng đắc từ tri túc, chứ không
phải là không nhàm chán. Đạo chứng đắc từ viễn ly, chứ
không phải từ sự ưa tụ hội, không phải từ sự sống
tụ hội, không phải từ sự hội hợp tụ hội. Đạo chứng
đắc từ sự tinh cần, chứ không phải từ sự biếng nhác.
Đạo chứng đắc từ chánh niệm, chứ không phải từ tà
niệm. Đạo chứng đắc từ định ý, chứ không phải từ
loạn ý. Đạo chứng đắc từ trí tuệ, chứ không phải từ
ngu si”.
Lúc
ấy, Đức Thế Tôn bằng tha tâm trí biết Tôn giả A-na-luật-đà
đang niệm gì, đang tư gì, đang hành gì. Sau khi đã biết,
Đức Thế Tôn nhập định có hình thái như thế[5].
Với định có hình thái như thế, trong khoảnh khắc như người
lực sĩ co duỗi cánh tay, cũng thế, Đức Thế Tôn từ Bà-kì-sấu,
từ rừng Bố trong núi Ngạc, trong vườn Lộc dã, bỗng biến
mất, liền xuất hiện trước mặt Tôn giả A-na-luật-đà
tại Chi-đề-sấu. Bấy giờ, Đức Thế Tôn xuất định, tán
thán Tôn giả A-na-luật-đà rằng:
“Lành
thay! Lành thay! A-na-luật-đà, ngươi ở chỗ yên tĩnh, ngồi
tĩnh tọa tư duy, tâm đã nghĩ thế này: ‘Đạo chứng đắc
từ vô dục, chứ chẳng phải từ hữu dục. Đạo chứng đắc
từ tri túc, chứ không phải là không nhàm chán. Đạo chứng
đắc từ viễn ly, chứ không phải từ sự ưa tụ hội, không
phải từ sự sống tụ hội, không phải từ sự hội hợp
tụ hội. Đạo chứng đắc từ sự tinh cần, chứ không phải
từ sự biếng nhác. Đạo chứng đắc từ chánh niệm, chứ
không phải từ tà niệm. Đạo chứng đắc từ định ý, chứ
không phải từ loạn ý. Đạo chứng đắc từ trí tuệ, chứ
không phải từ ngu si’.
“Này
A-na-luật-đà, ngươi hãy nghe Như Lai, lãnh thọ thêm suy niệm
thứ tám của bậc Đại nhân[6].
Sau khi lãnh thọ liền tư duy rằng: ‘Đạo chứng đắc từ
chỗ không hý luận[7],
ưa sự không hý luận, hành sự không hý luận, chứ không
phải từ chỗ hý luận, không phải từ chỗ ưa hý luận,
không phải từ chỗ hành hý luận’.
“Này
A-na-luật-đà, nếu ngươi thành tựu tám suy niệm của bậc
Đại nhân, chắc chắn ngươi có thể ly dục, ly ác, ly bất
thiện pháp, cho đến chứng đắc Tứ thiền, thành tựu an
trụ.
“Này
A-na-luật-đà, nếu ngươi thành tựu tám suy niệm của bậc
Đại nhân này, lại chứng đắc bốn tăng thượng tâm này,
sống an lạc ngay trong hiện tại, dễ được chứ không khó,
thì cũng như vua và đại thần có hòm đẹp đựng đầy các
loại y phục đẹp, buổi sáng muốn mặc liền lấy mặc; buổi
trưa, buổi chiều, muốn mặc liền lấy mặc, tùy ý tự tại,
này A-na-luật-đà, ngươi cũng vậy, được y phấn tảo, làm
y phục bậc nhất, tâm ngươi vô dục, sống với trụ chỉ
hành này.
“Này
A-na-luật-đà, nếu ngươi thành tựu tám suy niệm của bậc
Đại nhân, lại chứng đắc bốn tăng thượng tâm này nữa,
sống an lạc ngay trong đời hiện tại, dễ được không khó,
thì cũng như vua và vương thần có cai bếp làm các thức ăn
ngon lành mỹ diệu, này A-na-luật-đà, ngươi cũng vậy, thường
sống bằng món ăn khất thực làm món ăn độc nhất, tâm
ngươi vô dục, sống với trụ chỉ hành này.
“Này A-na-luật-đà, nếu ngươi thành tựu tám suy niệm của
bậc Đại nhân, lại cũng chứng đắc bốn tăng thượng tâm
này nữa, sống an lạc ngay trong đời hiện tại này, dễ được
chứ không khó, thì cũng như vua và vương thần có nhà cửa
đẹp, hoặc có lầu các, cung điện, này A-na-luật-đà, ngươi
cũng như thế, ngồi dưới gốc cây, lấy sự tịch tĩnh làm
ngôi nhà bậc nhất, tâm ngươi vô dục, sống với trụ chỉ
hành này.
“Này A-na-luật-đà, nếu ngươi thành tựu tám suy niệm của
bậc Đại nhân, lại cũng chứng đắc bốn tăng thượng tâm
này nữa, sống an lạc ngay trong đời hiện tại này, dễ được
chứ không khó, thì cũng như vua và vương thần có giường
đẹp, trải lên bằng chăn nệm, đệm bông, phủ lên bằng
gấm, the, lụa, sa trun, có chăn đệm ở hai đầu để gối,
trải thảm quý bằng da sơn dương[8];
này A-na-luật-đà, ngươi cũng như vậy, chỗ ngồi trải bằng
cỏ, bằng lá cây, là chỗ ngồi bậc nhất. Tâm ngươi vô
dục, sống với trụ chỉ hành này.
“Này
A-na-luật-đà, nếu ngươi thành tựu tám suy niệm của bậc
Đại nhân, lại cũng chứng đắc bốn tăng thượng tâm này
nữa, sống an lạc ngay trong đời hiện tại này, dễ được
chứ không khó, thì cũng như thế, nếu ngươi an trú phương
Đông, chắc chắn được an lạc, không có các tai hoạn đau
khổ. Nếu an trú phương Tây, phương Nam, phương Bắc, chắc
chắn được an lạc, không có các tai hoạn đau khổ.
“Này
A-na-luật-đà, nếu ngươi thành tựu tám suy niệm của bậc
Đại nhân, lại cũng chứng đắc bốn tăng thượng tâm này
nữa, sống an lạc ngay trong đời hiện tại này, dễ được
chứ không khó, đối với các pháp thiện, ngươi đã an trú,
Ta không nói đến, huống nữa là nói đến sự suy thoái. Các
thiện pháp cứ ngày đêm tăng trưởng chứ không suy thoái.
“Này
A-na-luật-đà, nếu ngươi thành tựu tám suy niệm của bậc
Đại nhân, lại cũng chứng đắc bốn tăng thượng tâm này
nữa, sống an lạc ngay trong đời hiện tại này, dễ được
chứ không khó, thì đối với hai quả, chắc chắn ngươi đắc
được một, hoặc trong đời này đắc cứu cánh trí, hoặc
nếu còn hữu dư thì đắc A-na-hàm.
“Này
A-na-luật-đà, ngươi hãy thành tựu tám suy niệm này của
bậc Đại nhân, và cũng nên chứng đắc bốn tăng thượng
tâm này nữa, sống an lạc ngay trong đời hiện tại này, dễ
được chứ không khó; sau đó mới an cư mùa mưa tại Chi-đề-sấu,
trong rừng Thủy chử vậy”.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn thuyết pháp cho Tôn giả A-na-luật-đà,
khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ. Sau khi bằng
vô lượng phương tiện, thuyết pháp, khuyến phát khát ngưỡng,
thành tựu hoan hỷ, Đức Thế Tôn liền như vậy mà nhập
định, trong khoảnh khắc, như người lực sĩ co duỗi cánh
tay, cũng vậy, Đức Thế Tôn từ Chi-đề-sấu, trong rừng
Thủy chử, bỗng nhiên biến mất, không thấy, rồi hiện ra
ở Bà-kì-sấu, núi Ngạc rừng Bố, trong vườn Lộc dã.
Lúc
ấy Tôn giả A-nan cầm quạt đứng hầu Đức Phật, Đức
Phật liền xuất định, quay lại bảo A-nan rằng:
“Này
A-nan, nếu có Tỳ-kheo nào đến núi Ngạïc rừng Bố, trong
vườn Lộc dã thì bảo tất cả tụ tập tại giảng đường.
Sau khi tụ tập tại giảng đường xong, trở lại cho Ta hay”.
Tôn
giả A-nan vâng lời Đức Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới
chân Ngài, liền đi tuyên bố rằng: “Đức Thế Tôn dạy:
nếu có Tỳ-kheo nào đến núi Ngạïc rừng Bố, trong vườn
Lộc dãõ thì tất cả hãy tụ tập tại giảng đường”.
Sau
khi các Tỳ-kheo tụ tập tại giảng đường, Tôn giả A-nan
trở lại chỗ Đức Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân
rồi đứng qua một bên, bạch rằng:
“Bạch
Đức Thế Tôn, các Tỳ-kheo đến núi Ngạïc rừng Bố, trong
vườn Lộc dã, tất cả đã tụ tập tại giảng đường.
Mong Đức Thế Tôn biết cho, nay đã đến thời”.
Lúc
ấy, Đức Thế Tôn đến giảng đường, trải chỗ ngồi trước
chúng Tỳ-kheo và nói:
“Này
chư Tỳ-kheo, Ta nói cho các ngươi nghe về tám suy niệm của
bậc Đại nhân. Các ngươi hãy lắng nghe và khéo suy tư, ghi
nhớ.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo vâng lời lắng nghe. Đức Thế Tôn nói rằng:
“Đây
là tám pháp suy niệm của bậc Đại nhân:
1.
Đạo từ vô dục chứ không phải từ hữu dục mà chứng
đắc.
2.
Đạo từ tri túc chứ không phải từ không nhàm tởm mà chứng
đắc.
3.
Đạo từ viễn ly chứ không phải từ chỗ ưa tụ hội, không
phải từ sự sống chỗ tụ hội, không phải từ sự sống
hội hợp tụ hội mà chứng đắc.
4.
Đạo từ tinh cần chứ không phải từ biếng nhác mà chứng
đắc.
5.
Đạo từ chánh niệm, chứ không phải từ tà niệm mà chứng
đắc.
6.
Đạo từ chỗ định ý chứ không phải từ loạn ý mà chứng
đắc.
7.
Đạo từ trí tuệ chứ không phải từ ngu si mà chứng đắc.
8.
Đạo từ chỗ không hý luận, ưa sự không hý luận, hành
sự không hý luận; chứ không phải từ hý luận, không phải
từ sự ưa hý luận, không phải từ sự hành hý luận, mà
chứng đắc.
“Thế
nào là đạo từ vô dục mà chứng đắc, chứ không phải
từ hữu dục? Tỳ-kheo đạt được vô dục, tự biết đạt
được vô dục, không tỏ cho kẻ khác biết mình vô dục;
đạt được tri túc, đạt được viễn ly, đạt được tinh
cần, đạt được chánh niệm, đạt được định ý, đạt
được trí tuệ, đạt được không hý luận, tự biết đạt
được không hý luận, không muốn tỏ cho người khác biết
mình vô dục. Như vậy gọi là đạo từ vô dục chứ không
phải từ hữu dục mà chứng đắc.
“Thế
nào là đạo từ tri túc chứ không phải từ không nhàm tởm
mà chứng đắc? Tỳ-kheo hành tri túc, áo dùng để che thân,
ăn đủ nuôi thân. Đó là đạo từ tri túc chứ không phải
từ không nhàm tởm mà chứng đắc.
“Thế
nào là đạo từ viễn ly chứ không phải từ ưa tụ hội,
sống chỗ tụ hội, hội họâp nơi tụ hội mà chứng đắc?
Tỳ-kheo thực hành hạnh viễn ly, thực hành hai hạnh viễn
ly là thân và tâm đều viễn ly. Đó là đạo từ viễn ly
chứ không phải từ sự ưa tụ hội, sống ở chỗ tụ hội,
hội họâp nơi tụ hội mà chứng đắc.
“Thế
nào là đạo từ tinh tấn chứ không phải từ biếng nhác
mà chứng đắc? Tỳ-kheo thường hành tinh tấn, đoạn ác bất
thiện, tu các thiện pháp, thường tự khởi ý, chuyên nhất
kiên cố, vì các gốc rễ thiện mà không hề từ bỏ khó
nhọc. Đó gọi là đạo từ tinh tấn, chứ không phải từ
biếng nhác mà chứng đắc.
“Thế
nào là đạo từ chánh niệm chứ không phải từ tà niệm
mà chứng đắc? Tỳ-kheo quán nội thân như thân, quán nội
thọ, nội tâm, nội pháp như pháp. Đó gọi là đạo từ chánh
niệm chứ không phải từ tà niệm mà chứng đắc.
“Thế
nào là đạo từ định ý chứ không phải từ loạn ý mà
chứng đắc? Tỳ-kheo ly dục, ly pháp ác bất thiện, cho đến
chứng đắc đệ Tứ thiền, thành tựu và an trụ. Đó gọi
là đạo từ định ý chứ không phải từ loạn ý mà chứng
đắc.
“Thế
nào là đạo từ trí tuệ chứ không phải từ ngu si mà chứng
đắc? Tỳ-kheo tu hạnh trí tuệ, quán pháp hưng suy, chứng
đắc trí như thật, thánh tuệ minh đạt, phân biệt rõ ràng
để dứt sạch khổ một cách chính đáng. Đó gọi là đạo
từ trí tuệ chứ không phải từ ngu si mà chứng đắc.
“Thế
nào là đạo từ không hý luận, ưa không hý luận, hành không
hý luận; chứ không phải từ hý luận, không phải từ ưa
hý luận, không phải từ hành hý luận mà chứng đắc? Tỳ-kheo
tâm ý thường diệt hý luận, an lạc, trú trong Vô dư Niết-bàn,
tâm thường lạc trú, hoan hỷ, ý giải. Đó gọi là đạo
từ không hý luận, ưa không hý luận, hành không hý luận;
chứ không phải từ hý luận, không phải từ ưa hý luận,
không phải từ hành hý luận mà chứng đắc.
“Này
các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo A-na-luật-đà đã tành tựu tám suy niệm
của bậc Đại nhân này, sau đó mới an cư mùa mưa tại Chi-đề-sấu,
trong rừng Thủy chử. Ta đem những điều này nói ra, vị ấy
sống cô độc tại nơi xa vắng, tâm không phóng dật, tu hành
tinh cần. Vị ấy khi sống cô độc tại nơi xa vắng, tâm
không phóng dật, tu hành tinh cần, đã đạt đến cứu cánh
mà một thiện nam tử vì cứu cánh ấy đã cạo bỏ râu tóc,
mặc áo ca-sa, chí tín, từ bỏ gia đình, sống không gia đình,
xuất gia học đạo, duy chỉ cầu đắc vô thượng phạm hạnh
ngay trong đời này, tự tri, tự giác, tự thân chứng đắc,
thành tựu và an trú, biết một cách như thật rằng ‘Sự
sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm
xong, không còn tái sanh nữa’.”
Ngay
lúc ấy, Tôn giả A-na-luật-đà chứng đắc A-la-hán, tâm chánh
giải thoát, xứng đáng bậc Trưởng lão Thượng tôn, rồi
nói bài tụng:
Vô
thượng thế gian sư
Xa
biết con tư niệm,
Chánh
thân tâm nhập định
Nương
không, chợt đến đây.
Biết
con tâm niệm này,
Thuyết
pháp vượt lên nữa.
Chư
Phật không hý luận;
Hý
luận đã xa lìa.
Đã
biết pháp Như Lai,
Ưa
trú trong chánh pháp.
Rồi
tam muội chứng ngay,
Pháp
Phật đã thành đạt.
Con
chẳng ưa sự chết,
Cũng
không nguyện nơi sanh;
Tùy
thời, tùy sở thích,
Niệm,
chánh trí vững vàng.
Tỳ-da-ly,
trú lâm,
Nơi
đó mạng con dứt;
Ở
ngay dưới khóm trúc,
Nhập
Vô dư Niết-bàn.
Phật
thuyết như vậy. Tôn giả A-na-luật-đà và các Tỳ-kheo sau
khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
Tương đương
Pāli: A.8.30. Anurudha.
Hán, biệt dịch No.46, No.125 (43.6).
Bà-kì-sấu婆
奇 瘦. Pāli:
Bhaggesu, giữa những người Bhagga.
Ngạc sơn Bố lâm Lộc dã viên鱷
山 怖 林 鹿 野 園. Pāli:
Suṃsumāragire
bhesakāḷāvane
migadāye,
trong núi Cá sấu, rừng Khủng bố, chỗ nuôi hươu.
Chi-đề-sấu
Thủy chử lâm枝
提 瘦 水 渚 林. Pāli:
Cetīsu Pācīnavaṃsadāye,
giữa những người Cetī,
trong rừng Đông
trúc. No.125 (42.6): Tôn giả ở tại Tứ Phật sở cư chi xứ.
No.46: Phật ở tại Mục sơn, dưới gốc cây Cầu sư.
Như kỳ tượng định如
其 像 定. Pāli:
tathārūpaṃ
samādhi.
Đại
nhân chi niệm大
人 之 念. Pāli:
mahāpurisavitakka.
Hán: đạo
tùng bất hý... đắc.
Pāli: nippapañcārāmassāyaṃ
dhammo, đây
là pháp của người không ưa hý luận.
Trong
bản Hán: gia-lăng-già-ba-hòa-la
ba-giá-tất-đa-la-na.
Pāli:
kadalimigapavara- paccattharaṇo.