70.
KINH CHUYỂN LUÂN VƯƠNG[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại Ma-đâu-lệ Sát-lợi[2],
trong rừng xoài, trên bờ sông Sử hà[3].
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Này
các Tỳ-kheo, hãy tự mình thắp lên ngọn đèn Chánh pháp.
Hãy nương tựa nơi pháp của chính mình, chớ đừng thắp
lên ngọn đèn khác, đừng nương tựa một pháp khác[4].
“Này
chư Tỳ-kheo, nếu ai tự mình thắp lên ngọn đèn chánh pháp,
tự nương tựa nơi pháp của chính mình, không thắp lên ngọn
đèn khác, không nương tựa một pháp khác, thì có thể cầu
học, được lợi và phước vô lượng. Vì sao?
“Này
Tỳ-kheo, thuở xưa có vua tên là Kiên Niệm[5]
làm Chuyển luân vương, thông minh trí tuệ, có bốn loại quân
chỉnh trị thiên hạ, tự do tự tại, là vị Pháp vương như
pháp, thành tựu bảy báu, được bốn đức như ý của con
người.
“Thành
tựu bảy báu và được thành tựu bảy báu, được bốn đức
như ý của con người là như thế nào? Đã nói trước đây[6]
về sự thành tựu bảy báu, được bốn đức như ý của
con người.
“Bấy
giờ vua Kiên Niệm, vào một thời gian sau, thiên luân báu[7]
di chuyển, bỗng rời khỏi chỗ cũ. Có người trông thấy,
đến chỗ vua Kiên Niệm tâu rằng:
“–
Tâu Thiên vương, nên biết rằng thiên luân báu di chuyển,
rời khỏi chỗ cũ.
“Vua
Kiên Niệm nghe xong, bảo rằng:
“–
Này thái tử, thiên luân báu của ta di chuyển, rời khỏi chỗ
cũ. Thái tử, chính ta từng nghe cổ nhân nói rằng ‘Nếu
thiên luân báu của Chuyển luân vương di chuyển, rời khỏi
chỗ cũ, thì vua ấy chắc chắn không còn sống lâu, mạng
vua không tồn tại lâu nữa. Này thái tử, ta đã hưởng dục
lạc nhân gian, nay ta sẽ cầu dục lạc thiên thượng. Này
thái tử, ta muốn cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín
từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo.
Này thái tử, nay ta đem bốn châu thiên hạ này giao phó cho
con, con hãy chỉnh trị giáo hóa đúng như pháp, chớ dùng phi
pháp, không để trong nước có người tạo ác nghiệp và phi
phạm hạnh. Này thái tử, về sau nếu con thấy thiên luân
báu rời khỏi chỗ cũ một ít thì con cũng phải đem việc
quốc chính của nước này giao phó cho con của con, khéo dạy
bảo và ủy thác giang sơn lại cho nó, rồi con cũng phải cạo
bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín từ bỏ gia đình, sống
không gia đình, xuất gia học đạo.
“Bấy
giờ vua Kiên Niệm giao phó đất nước lại cho thái tử. Khéo
dạy bảo xong, vua liền cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí
tín từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo.
Sau khi vua Kiên Niệm xuất gia học đạo bảy ngày, thiên luân
báu ấy biến mất, không thấy.
“Lúc
mất thiên luân, vua Sát-lợi Đảnh Sanh[8]
quá ưu sầu áo não, không hoan lạc. Vua Sát-lợi Đảnh Sanh
liền đến chỗ Tiên nhân, tức vua cha Kiên Niệm, thưa rằng:
“–
Tâu Thiên vương, nên biết rằng, sau khi Thiên vương học đạo
mới bảy ngày thì thiên luân báu biến mất, không thấy nữa.
“Cha
là Tiên nhân, vua Kiên Niệm bảo con rằng:
“–
Con chớ vì mất thiên luân báu mà nhớ tiếc, ưu sầu. Vì
sao? Vì con không được thiên luân báu này từ nơi cha.
“Vua
Sát-lợi Đảnh Sanh thưa vua cha rằng:
“–
Tâu Thiên vương, vậy con phải làm gì.
“Cha
là Tiên nhân tức vua Kiên Niệm bảo con rằng:
“–
Con phải học pháp tương thừa[9].
Nếu học pháp tương thừa thì vào ngày rằm thuyết Tùng giải
thoát, sau khi tắm rửa và đi lên chánh điện, thiên luân báu
ấy chắc chắn sẽ từ phương Đông hiện đến, có ngàn căm
và đầy đủ các bộ phận, thanh tịnh tự nhiên, chẳng phải
do người tạo, màu sắc như ánh lửa, chói lọi sáng ngời.
“Vua
Sát-lợi Đảnh Sanh lại thưa cha rằng:
“–
Tâu Thiên vương, pháp tương thừa như thế nào mà Thiên vương
muốn bảo con học, để lúc học rồi, vào ngày rằm, thuyết
Tùng giải thoát, sau khi tắm rửa và lên chánh điện, thiên
luân báu ấy sẽ từ phương Đông hiện đến, có ngàn căm
và đầy đủ các bộ phận, thanh tịnh tự nhiên, chẳng phải
do người tạo, màu sắc như ánh lửa, chói lọi sáng ngời?
“Vua
Kiên Niệm bảo con rằng:
“–
Con hãy quán pháp như pháp, thực hành pháp đúng như pháp.
Hãy vì thái tử, hậu phi, thể nữ và các thần dân, Sa-môn,
Phạm chí, cho đến loài côn trùng mà phụng trì trai giới
vào những ngày mồng tám, mười bốn, mười lăm, tu hạnh
bố thí. Bố thí cho những người nghèo khốn, Sa-môn, Phạm
chí, kẻ bần cùng, người cô độc từ các phương xa lại
xin; đem đồ ăn thức uống, áo chăn, xe cộ, tràng hoa, bột
hoa, bột hương, nhà cửa, giường nệm, đệm lông, khăn quấn
và cung cấp đèn dầu đầy đủ. Nếu trong nước con có các
bậc Thượng tôn danh đức, Sa-môn, Phạm chí, thì con phải
tùy thời đi đến chỗ của các vị đó để hỏi pháp, thọ
pháp như thế này: ‘Thưa chư tôn, thế nào là pháp thiện,
thế nào là pháp bất thiện? Thế nào là tội, thế nào là
phước? Thế nào là diệu, thế nào là phi diệu? Thế nào
là hắc, thế nào là bạch? Pháp hắc bạch từ đâu sanh? Thế
nào là mục đích[10]
của cuộc đời này? Thế nào là mục đích của đời sau?
Làm thế nào để thọ thiện, không thọ ác?’ Khi được
nghe xong, phải thực hành đúng như lời các vị đã dạy.
Nếu trong nước của con có kẻ bần cùng thì hãy lấy của
cải cung cấp đầy đủ. Này con, đó là pháp tương thừa,
con nên khéo học. Con đã khéo học thì vào ngày rằm, thuyết
Tùng giải thoát, sau khi tắm rửa và lên chánh điện, chắc
chắn Thiên luân báu ấy sẽ từ phương Đông hiện đến,
có ngàn căm và đầy đủ các bộ phận, thanh tịnh tự nhiên,
chẳng phải do người tạo, màu sắc như ánh lửa, chói lọi
sáng ngời.
“Vua
Sát-lợi Đảnh Sanh sau đó liền quán pháp đúng như pháp,
thực hành pháp đúng như pháp, đã vì thái tử, hậu phi, thể
nữ và các thần dân, Sa-môn, Phạm chí, cho đến loài côn
trùng mà phụng trì trai giới vào các ngày mồng tám, mười
bốn và mười lăm, tu hạnh bố thí. Bố thí cho những người
nghèo khốn, Sa-môn, Phạm chí, kẻ bần cùng, người cô độc
từ các phương xa lại xin; đã đem cho đồ ăn thức uống,
y, mền, xe cộ, tràng hoa, bột hoa, bột hương, nhà cửa, giường
nệm, đệm lông, khăn quấn và cung cấp dầu đèn đầy đủ.
Nếu trong nước của vua có các bậc Thượng tôn danh đức,
Sa-môn, Phạm chí thì vua tùy thời đích thân đến chỗ các
vị hỏi pháp, thọ pháp thế này:
“–
Thưa chư tôn, thế nào là pháp thiện, thế nào là pháp bất
thiện? Thế nào là tội, thế nào là phước? Thế nào là
diệu, thế nào là phi diệu? Thế nào là hắc, thế nào là
bạch? Pháp hắc bạch từ đâu sanh? Thế nào là mục đích
của đời này? Thế nào là mục đích của đời sau? Làm thế
nào để thọ thiện mà không thọ ác?
“Nghe
xong, nhà vua thực hành đúng như pháp những lời các vị đã
dạy. Nếu trong nước của vua có kẻ bần cùng, nhà vua liền
lấy của cải tùy thời cung cấp đầy đủ. Sau đó, vua Sát-lợi
Đảnh Sanh vào ngày rằm, thuyết Tùng giải thoát; sau khi tắm
rửa và lên chánh điện, Thiên luân bảo ấy từ phương Đông
hiện đến, có ngàn căm và đầy đủ các bộ phận, thanh
tịnh tự nhiên, chẳng phải do người tạo, màu sắc như ánh
lửa, chói lọi sáng ngời. Nhà vua đã được làm Chuyển luân
vương, cũng thành tựu bảy báu, cũng được bốn đức như
ý của con người.
“Thành
tựu bảy báu và được bốn đức như ý của con người như
thế nào? Điều này đã nói ở trước.
“Vua
Chuyển luân vương ấy, vào một thời gian sau, thiên luân báu
bỗng nhiên rời khỏi chỗ cũ một ít, có người trông thấy,
liền đến chỗ vua Chuyển luân vương tâu rằng:
“–
Tâu Thiên vương, nên biết cho rằng thiên luân báu đã rời
khỏi chỗ cũ một ít.
“Chuyển
luân vương nghe xong liền bảo thái tử:
“–
Này thái tử, thiên luân báu của ta đã rời khỏi chỗ cũ.
Này thái tử, ta từng nghe từ phụ vương ta là vua Kiên Niệm
nói như thế này: ‘Nếu thiên luân báu của vua Chuyển luân
vương rời khỏi chỗ cũ thì vua ấy chắc chắn không còn
sống lâu, mạng vua không còn tồn tại bao lâu nữa’. Này
thái tử, ta đã hưởng dục lạc của thế gian, nay ta cầu
dục lạc thiên thượng. Này thái tử, ta muốn cạo bỏ râu
tóc, mặc áo ca-sa, chí tín từ bỏ gia đình, sống không gia
đình, xuất gia học đạo. Này thái tử, con hãy chỉnh trị
giáo hóa đúng như pháp, chớ đừng phi pháp, không để cho
trong nước có những người tạo ác nghiệp và phi phạm hạnh.
Này thái tử, về sau nếu con thấy thiên luân báu rời khỏi
chỗ cũ, thì con cũng phải đem việc quốc chính của nước
này giao phó lại cho con của con, khéo dạy bảo và ủy thác
giang sơn lại cho nó, rồi con cũng cạo bỏ râu tóc, mặc áo
ca-sa, chí tín từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất
gia học đạo.
“Bấy
giờ, vua Chuyển luân vương ấy giao phó đất nước cho thái
tử, khéo dạy bảo xong, liền cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa,
chí tín từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học
đạo. Sau khi vua Chuyển luân vương ấy xuất gia học đạo
được bảy ngày thì thiên luân báu ấy biến mất không thấy.
“Lúc
mất thiên luân, vua Sát-lợi Đảnh Sanh không ưu sầu mà lại
nhiễm dục, trước dục, tham dục, không nhàm tởm, bị dục
trói buộc, bị lệ thuộc vào dục, không thấy tai họa của
dục, không biết sự xuất ly khỏi dục, tự cai trị đất
nước theo ý của mình nên đất nước suy vong, không phục
hưng nổi. Cũng như các vị Chuyển luân vương thuở xưa học
pháp tương thừa, nên đất nước nhân dân càng hưng thịnh
thêm mãi, không hề suy giảm; vua Sát-lợi Đảnh Sanh cũng lại
như thế, tự cai trị đất nước theo ý mình. Vì tự cai trị
đất nước theo ý mình nên đất nước suy vong, không phục
hưng nổi.
“Bấy
giờ, Phạm chí quốc sư đi quan sát tình cảnh đất nước,
thấy đất nước nhân dân đã suy vong, không phục hưng nổi,
liền nghĩ rằng: ‘Vua Sát-lợi Đảnh Sanh tự cai trị đất
nước theo ý của vua. Vì cai trị đất nước theo ý của vua
nên đất nước nhân dân đã suy vong, không phục hưng nổi.
Cũng như các bậc Chuyển luân vương thuở xưa học pháp tương
thừa nên đất nước nhân dân càng hưng thịnh thêm mãi, không
hề suy giảm; vua Sát-lợi Đảnh Sanh này cũng lại như thế,
tự cai trị đất nước theo ý của vua. Vì cai trị đất nước
theo ý của vua nên nhân dân đất nước đã suy vong, không
phục hưng nổi. Phạm chí quốc sư liền đến vua Sát-lợi
Đảnh Sanh thưa rằng:
“–
Tâu Thiên vương, nên biết rằng, Thiên vương đã tự cai trị
đất nước theo ý của Thiên vương. Vì đã cai trị đất
nước theo ý của Thiên vương nên đất nước nhân dân đã
suy giảm, không phục hưng nổi. Cũng như các vị Chuyển luân
vương thuở xưa học pháp tương thừa nên đất nước nhân
dân càng hưng thịnh mãi, không hề suy giảm. Nay Thiên vương
cũng lại như thế, cai trị đất nước theo ý của Thiên vương
nên đất nước nhân dân đã suy vong, không phục hưng nổi.
“Nghe
xong, vua Sát-lợi Đảnh Sanh bảo rằng:
“–
Này Phạm chí, ta phải làm thế nào?
Phạm
chí trả lời:
“–
Tâu Thiên vương, trong nước có người thông minh trí tuệ,
am tường toán số. Trong nước có đại thần và quyến thuộc
học kinh, hiểu rõ kinh, tụng tập, thọ trì pháp tương thừa.
Khi đã học pháp tương thừa thì vào ngày rằm thuyết Tùng
giải thoát, Thiên vương tắm rửa, lên chánh điện, thiên
luân báu ấy chắc chắn từ phương Đông hiện đến, có ngàn
căm và đầy đủ các bộ phận, thanh tịnh tự nhiên, chẳng
phải do người tạo, màu sắc như ánh lửa, chói lọi sáng
ngời.
“Vua
Sát-lợi Đảnh Sanh lại hỏi:
“–
Này Phạm chí, pháp tương thừa như thế nào mà Phạm chí
muốn ta học, để lúc học rồi, vào ngày rằm, thuyết Tùng
giải thoát, sau khi tắm rửa và lên chánh điện, thiên luân
báu từ phương Đông hiện đến, có một ngàn căm, đầy đủ
các bộ phận, thanh tịnh tự nhiên, chẳng phải do người
làm, màu sắc tự như ánh lửa, chói lọi sáng ngời?
“Phạm
chí quốc sư thưa rằng:
“–
Tâu Thiên vương, Thiên vương hãy quán pháp đúng như pháp,
thực hành pháp đúng như pháp. Hãy vì thái tử, hậu phi, thể
nữ và các thần dân, Sa-môn, Phạm chí cho đến loài côn trùng
mà phụng trì trai giới. Vào những ngày mồng tám, mười bốn
và ngày rằm tu hạnh bố thí. Bố thí cho những người nghèo
khốn, Sa-môn, Phạm chí, kẻ bần cùng, người cô độc từ
các phương xa lại xin, đem cho đồ ăn thức uống, y, mền,
xe cộ, tràng hoa, bột hoa, bột hương, nhà cửa, giường nằm,
đệm lông, chăn quấn và cung cấp đèn dầu đầy đủ. Nếu
ở trong nước có những bậïc thượng tôn danh đức, Sa-môn,
Phạm chí thì Thiên vương hãy tùy thời, đi đến chỗ của
các ngài để hỏi pháp, thọ pháp như thế này: ‘Thưa chư
tôn, thế nào là pháp thiện, thế nào là pháp bất thiện?
Thế nào là tội, thế nào là phước? Thế nào là diệu, thế
nào là phi diệu? Thế nào là hắc, thế nào là bạch? Pháp
hắc bạch từ đâu sanh? Thế nào là mục đích của đời
này? Thế nào là mục đích của đời sau làm thế nào để
thọ thiện mà không thọ ác?’ Khi đã được nghe xong, Thiên
vương nên thực hành đúng như lời các ngài đã dạy. Nếu
trong nước của Thiên vương có kẻ bần cùng thì nên lấy
của cải trong cung để cung cấp đầy đủ. Tâu Thiên vương,
đó là pháp tương thừa, Thiên vương nên khéo học và ghi
nhớ, rồi vào ngày rằm thuyết Tùng giải thoát, sau khi tắm
rửa và lên chánh điện, Thiên vương, thiên luân báu ấy chắc
chắn sẽ từ phương Đông hiện đến, có một ngàn căm và
đủ các bộ phận, thanh tịnh tự nhiên, chẳng phải do người
tạo, màu sắc như ánh lửa, chói lọi sáng ngời.
“Sau
đó, vua Sát-lợi Đảnh Sanh liền quán pháp đúng như pháp,
thực hành đúng như pháp, vì thể nữ, hậu phi và các thần
dân, Sa-môn, Phạm chí cho đến loài côn trùng mà phụng trì
trai giới vào ngày mồng tám, mười bốn và ngày rằm, tu hành
bố thí, bố thí cho những người nghèo khốn, Sa-môn, Phạm
chí, kẻ bần cùng, người cô độc từ các phương xa lại
xin, đem cho đồ ăn, thức uống, y, mền, xe cộ, tràng hoa,
bột hoa, bột hương, nhà cửa, giường nệm, đệm lông, khăn
quấn và cung cấp đèn dầu đầy đủ. Nếu trong nước có
các bậc Thượng tôn danh đức, Sa-môn, Phạm chí thì vua đã
đích thân tùy thời đến chỗ các vị ấy để hỏi pháp,
thọ pháp như thế này:
“–
Thưa chư tôn, thế nào là pháp thiện, thế nào là pháp bất
thiện? Thế nào là tội, thế nào là phước? Thế nào là
diệu, thế nào là phi diệu? Thế nào hắc, thế nào là bạch?
Pháp hắc bạch từ đâu sanh? Thế nào là mục đích của đời
này? Thế nào là mục đích của đời sau? Làm thế nào để
thọ thiện mà không thọ ác?
“Khi
đã nghe xong, nhà vua đã thực hành đúng như lời các ngài
đã chỉ bảo. Nhưng trong nước có người bần cùng, vua không
đem vật dụng cấp phát. Do đó kẻ nghèo khốn không có của
cải, đã nghèo khổ lại càng nghèo khổ hơn. Vì nghèo khốn
nên ăn trộm vật dụng của kẻ khác, vì ăn trộm nên bị
chủ nhân bắt trói đem đến vua Sát-lợi Đảnh Sanh, thưa
rằng:
“–
Tâu Thiên vương, người này ăn trộm vật dụng của con, xin
Thiên vương trừng trị.
“Vua
Sát-lợi Đảnh Sanh hỏi tội nhân:
“–
Quả thật ngươi có ăn trộm?
Người
ấy đáp:
“–
Tâu Thiên vương, quả thật con có ăn trộm. Vì sao? Tâu Thiên
vương, vì nghèo khốn. Nếu không ăn trộm thì không có gì
để sống.
“Vua
Sát-lợi Đảnh Sanh liền đem của cải cấp phát cho và nói
với người ăn trộm rằng:
“–
Ngươi hãy trở về và sau này chớ trái phạm.
“Lúc
đó, dân chúng trong nước nghe nói về vua Sát-lợi Đảnh Sanh
như thế này: ‘Nếu trong nước có ai trộm cắp thì nhà vua
liền đem của cải cấp phát cho,’ Do đó, có người nghĩ
rằng: ‘Chúng ta cũng nên ăn cắp của cải kẻ khác’. Từ
đó, dân chúng trong nước ai cũng tranh nhau trộm cắp của
cải kẻ khác. Vì thế, người nghèo khốn không có của cải,
không được cấp phát, càng trở nên nghèo khốn hơn, nên
nạn trộm cắp càng lan tràn. Vì trộm cắp lan tràn nên tuổi
thọ con người giảm xuống, hình sắc trở nên thô xấu.
“Này
Tỳ-kheo, sau khi tuổi thọ của con người giảm xuống, hình
sắc trở nên thô xấu thì người cha thọ tám vạn tuổi,
con thọ bốn vạn tuổi.
“Này
Tỳ-kheo, lúc loài người thọ bốn vạn tuổi, có người trộm
cắp vật dụng của kẻ khác, chủ nhân bắt trói đem đến
vua Sát-lợi Đảnh Sanh, thưa rằng:
“–
Tâu thiên vương, người này trộm cắp vật dụng của con,
xin Thiên vương trừng trị.
“Vua
Sát-lợi Đảnh Sanh hỏi người lấy trộm:
“–
Quả thiệt ngươi có ăn trộm phải không?
Người
ấy đáp:
“–
Tâu Thiên vương, quả con có ăn trộm.
Vì
sao? – Vì nghèo khốn. Nếu không ăn trộm, con không có gì
để sống.
“Nghe
xong, vua Sát-lợi Đảnh Sanh nghĩ rằng: ‘Nếu trong nước
ta có nạn trộm cắp mà ta lại đem của cải cấp phát đầy
đủ, như vậy chỉ làm cho kho tàng của quốc gia khô kiệt,
dung túng cho nạn trộm cắp lan tràn. Ta nên rèn dao thật bén,
nếu trong nước ta có ai trộm cắp thì bắt trói ngay dưới
gốc cây nêu cao và chém đầu nó’.
“Sau
đó, vua Sát-lợi Đảnh Sanh hạ lệnh rèn dao thật bén. Nếu
trong nước có ai trộm cắp vật dụng của kẻ khác thì cho
bắt trói dưới cây nêu cao mà chém đầu.
“Người
trong nước bấy giờ nghe vua Sát-lợi Đảnh Sanh ra lệnh rèn
dao thật bén, nếu trong nước có ai ăn trộm vật dụng của
kẻ khác thì cho bắt trói dưới cây nêu cao và chém đầu,
dân chúng bèn nghĩ rằng: ‘Ta cũng nên bắt chước rèn dao
thật bén, mang đi ăn trộm vật dụng. Nếu lấy vật dụng
của ai thì bắt chủ nhân của vật ấy mà chém đầu’.
“Từ
đó về sau, những người ăn trộm thi nhau rèn dao bén mang
đi ăn trộm vật dụng, bắt các chủ nhân mà chém đầu. Do
đó, kẻ nghèo khốn không của cải, không được cấp phát,
càng nghèo khốn hơn. Vì càng nghèo khốn hơn nên nạn trộm
cắp càng lan tràn. Vì nạn trộm cắp càng lan tràn nên sự
chém giết càng tăng lên. Do đó tuổi thọ của loài người
giảm xuống, hình sắc trở nên thô xấu.
“Này
Tỳ-kheo, sau khi tuổi thọ giảm xuống, hình sắc trở nên
thô xấu thì người cha chỉ còn bốn vạn tuổi và con thọ
hai vạn tuổi.
“Này
Tỳ-kheo, lúc loài người thọ hai vạn tuổi, có người ăn
trộm vật dụng của kẻ khác, chủ nhân bắt trói dẫn tới
vua Sát-lợi Đảnh Sanh, thưa rằng:
“–
Tâu Thiên vương, người này ăn trộm vật dụng của con, xin
Thiên vương trừng trị.
“Vua
Sát-lợi Đảnh Sanh hỏi tội nhân:
“–
Quả thật ngươi có ăn trộm phải không?
“Bấy
giờ, người ăn trộm nghĩ rằng: ‘Vua Sát-lợi Đảnh Sanh
nếu biết sự thật này thì sẽ trói và đánh mình, hoặc
vứt ném, hoặc tẩn xuất, hoặc phạt tiền của, hoặc trừng
trị đau đớn đủ cách, hoặc treo lên cây rồi bêu đầu
mình. Có lẽ mình dùng lời nói dối, lừa gạt vua Sát-lợi
Đảnh Sanh chăng?’
“Nghĩ
xong, thưa rằng:
“–
Tâu Thiên vương, tôi không lấy trộm.
“Do
đó kẻ nghèo khốn không có của cải, không được cấp phát,
càng nghèo khốn hơn. Vì càng nghèo khốn hơn nên nạn trộm
cắp càng lan tràn mãi. Vì sự trộm cắp càng lan tràn nên
sự chém giết gia tăng. Vì sự chém giết gia tăng nên sự
nói dối, nói hai lưỡi nhiều hơn. Vì sự nói dối, nói hai
lưỡi nhiều hơn nên tuổi thọ của loài người càng giảm
xuống, hình sắc trở nên thô xấu.
“Này
Tỳ-kheo, lúc tuổi thọ giảm xuống, hình sắc trở nên thô
xấu thì người cha chỉ thọ hai vạn tuổi, người con chỉ
thọ một vạn tuổi.
“Này
Tỳ-kheo, lúc loài người thọ một vạn tuổi thì trong nhân
dân có người có đức, có người vô đức. Nếu ai vô đức
thì ghen ghét người có đức và phạm tà hạnh với vợ của
người. Do đó kẻ nghèo khốn không có của cải, không được
cấp phát, càng nghèo khốn hơn. Vì càng nghèo khốn nên nạn
trộm cắp càng lan tràn. Vì trộm cắp lan tràn nên chém giết
gia tăng. Vì chém giết gia tăng nên nói dối, nói hai lưỡi
gia tăng. Vì nói dối, nói hai lưỡi gia tăng nên tật đố,
tà dâm gia tăng. Vì tật đố, tà dâm gia tăng nên tuổi thọ
của loài người giảm xuống, hình sắc trở nên thô xấu.
“Này
Tỳ-kheo, lúc tuổi thọ giảm xuống, hình sắc trở nên thô
xấu thì người cha chỉ thọ một vạn tuổi, người con chỉ
thọ năm ngàn tuổi.
“Này
Tỳ-kheo, lúc loài người thọ hai ngàn năm trăm tuổi thì ba
pháp khác lại hưng thịnh; đó là, lưỡng thiệt, thô ngữ
và ỷ ngữ. Vì ba pháp này hưng thịnh nên tuổi thọ của
loài người giảm xuống, hình sắc trở nên thô xấu.
“Này
Tỳ-kheo, lúc tuổi thọ loài người giảm xuống, hình sắc
trở nên thô xấu thì người cha chỉ thọ hai ngàn năm trăm
tuổi, người con chỉ thọ một ngàn tuổi.
“Này
Tỳ-kheo, lúc loài người thọ một ngàn tuổi thì một pháp
hưng thịnh, đó là tà kiến. Vì pháp này hưng thịnh nên tuổi
thọ loài người giảm xuống, hình sắc trở nên thô xấu.
“Này
Tỳ-kheo, lúc tuổi thọ loài người giảm xuống, hình sắc
trở nên thô xấu, thì người cha chỉ thọ một ngàn tuổi,
người con chỉ thọ năm trăm tuổi.
“Này
Tỳ-kheo, khi loài người thọ năm trăm tuổi thì con người
lúc ấy hoàn toàn[11]
không hiếu thảo với cha mẹ, không kính trọng Sa-môn, Phạm
chí, không làm việc thuận lợi, không tạo phước nghiệp,
không thấy tội đời sau. Lúc loài người không hiếu thảo
với cha mẹ, không kính trọng Sa-môn, Phạm chí, không làm
việc thuận lợi, không tạo phước nghiệp, không thấy tội
đời sau, cho nên này Tỳ-kheo, lúc đó người cha chỉ thọ
năm trăm tuổi, người con chỉ thọ hai trăm năm mươi tuổi,
hoặc hai trăm tuổi.
“Này
Tỳ-kheo, hiện giờ nếu có ai được trường thọ thì được
một trăm tuổi và có thể là không chừng.”
Đức
Phật lại bảo:
“–
Một thời gian lâu xa về đời vị lai, sẽ có lúc con người
chỉ thọ mười tuổi, thì con gái sanh ra mới năm tháng đã
lấy chồng.
“Này
Tỳ-kheo, lúc con người thọ mười tuổi, có một giống lúa
tên là bại tử[12],
là thức ăn ngon nhất. Cũng như lúa gạo[13]
là thức ăn ngon nhất của loài người hôm nay. Này Tỳ-kheo,
cũng giống như thế, lúc con người thọ mười tuổi thì có
loại lúa tên là bại tử, là món ăn ngon nhất.
“Này
Tỳ-kheo, lúc con người thọ mười tuổi, những thứ mỹ vị
mà ngày nay hiện có như tô-du, muối, mật[14],
đường mía thì thời ấy những thứ này sẽ biến mất tất.
“Này
Tỳ-kheo, lúc con người thọ mười tuổi, nếu ai tạo mười
ác nghiệp đạo thì kẻ ấy sẽ được người khác kính trọng.
Cũng như hiện giờ, nếu ai tạo mười thiện nghiệp đạo
thì kẻ ấy được người khác kính trọng. Này Tỳ-kheo, lúc
con người thọ mười tuổi, cũng như vậy, nếu ai tạo mười
ác nghiệp đạo thì kẻ ấy được người khác kính trọng.
“Này
Tỳ-kheo, lúc con người thọ mười tuổi thì hoàn toàn không
có một danh từ “thiện”, huống nữa là có tạo mười
thiện nghiệp đạo.
“Này
Tỳ-kheo, lúc con người thọ mười tuổi, có người tên là
Đàn Phạt[15],
đi đến khắp mọi nhà mà đàn phạt.
“Này
Tỳ-kheo, lúc con người thọ mười tuổi, thì mẹ đối với
con có tâm giết hại rất mãnh liệt, con đối với mẹ cũng
có tâm giết hại rất mãnh liệt. Cha con, anh em, chị em thân
thuộc đối với nhau đều có tâm giết hại lẫn nhau. Cũng
như người thợ săn trông thấy con nai thì có tâm giết hại
rất mãnh liệt. Này Tỳ-kheo, lúc con người thọ mười tuổi
cũng lại như thế, mẹ đối với con có tâm giết hại rất
mãnh liệt. Cha con, anh em, chị em quyến thuộc đối với nhau
đều có tâm giết hại lẫn nhau.
“Này
Tỳ-kheo, lúc con người thọ mười tuổi, có nạn đao binh
bảy ngày[16].
Nếu ai có nắm cỏ thì cỏ biến thành dao. Nếu nắm cây củi
thì cây củi cũng biến thành dao. Ai cũng dùng dao ấy để
giết hại lẫn nhau. Qua bảy ngày, nạn đao binh chấm dứt.
“Bấy
giờ cũng có người biết thẹn thùng, xấu hổ, nhờm tởm,
chán ghét, không ưa những sự hung ác kia. Lúc có nạn đao
binh bảy ngày, họ đi vào núi non hoặc đồng nội, ẩn náu
ở nơi yên ổn. Sau bảy ngày ấy, thì từ núi non đồng nội,
nơi yên ổn đi ra, trông thấy nhau sanh lòng thương mến, quyến
luyến nhau vô cùng. Cũng như mẹ hiền chỉ có một đứa con
đã xa cách lâu ngày, nay từ phương xa trở lại gia đình yên
ổn, mẹ con thấy nhau hoan hỷ, sanh lòng thương mến nhau vô
cùng. Những người kia, sau bảy ngày từ núi non đồng nội,
nơi yên ổn đi ra, trông thấy nhau sanh lòng thương mến, quyến
luyến nhau vô cùng, cũng giống như thế. Trông thấy nhau rồi,
liền nói rằng: ‘Chư Hiền, ta nay thấy nhau còn được yên
ổn. Chúng ta vì tạo pháp bất thiện nên gặp gỡ nơi đây,
thân thuộc chết sạch. Chúng ta hãy cùng nhau thực hành thiện
pháp. Làm thế nào để chúng ta cùng thực hành thiện pháp?
Chúng ta đều là kẻ sát nhân, nay nên xa lìa sát sanh, đoạn
trừ sát sanh, chúng ta nên thực hành thiện pháp ấy’.
“Những
người kia cùng nhau thực hành thiện pháp, tuổi thọ liền
tăng lên, hình sắc trở nên đẹp đẽ. Này Tỳ-kheo, lúc tuổi
thọ đã tăng lên, hình sắc trở nên đẹp đẽ thì người
thọ mười tuổi sanh ra con thọ hai mươi tuổi.
“Này
Tỳ-kheo, người thọ hai mươi tuổi lại nghĩ rằng: ‘Nếu
cầu học điều thiện thì tuổi thọ tăng lên, hình sắc trở
nên đẹp đẽ. Chúng ta nên cùng nhau làm điều thiện nhiều
hơn. Làm thế nào để chúng ta cùng làm điều thiện nhiều
hơn? Chúng ta hãy xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh nhưng
vẫn còn lấy của không cho. Chúng ta nên xa lìa việc lấy
của không cho, đoạn trừ việc lấy của không cho. Chúng ta
nên cùng nhau làm điều thiện ấy’.
“Những
người kia cùng nhau làm điều thiện như thế. Khi đã làm
điều thiện ấy, tuổi thọ lại tăng lên, hình sắc trở
nên đẹp đẽ thì người thọ hai mươi tuổi sanh con thọ
bốn mươi tuổi.
“Này
Tỳ-kheo, người thọ bốn mươi tuổi cũng nghĩ như thế này:
‘Nếu cầu học điều thiện thì tuổi thọ tăng lên, hình
sắc trở nên đẹp đẽ. Chúng ta nên làm việc thiện nhiều
hơn nữa. Làm thế nào để chúng ta làm việc thiện nhiều
hơn nữa? Chúng ta đã xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh,
xa lìa việc lấy của không cho, nhưng vẫn còn tà dâm. Chúng
ta nên xa lìa tà dâm, đoạn trừ tà dâm. Chúng ta nên làm việc
thiện ấy’.
“Những
người kia cùng nhau làm điều thiện như thế. Khi đã làm
điều thiện ấy, tuổi thọ lại tăng lên, hình sắc trở
nên đẹp đẽ. Này Tỳ-kheo, lúc tuổi thọ loài người đã
tăng lên, hình sắc trở nên đẹp đẽ thì người thọ bốn
mươi tuổi sanh con thọ tám mươi tuổi.
“Này
Tỳ-kheo, người thọ tám mươi tuổi cũng nghĩ thế này: ‘Nếu
cầu học điều thiện thì tuổi thọ tăng lên, hình sắc trở
nên đẹp đẽ. Chúng ta cùng nhau làm điều thiện nhiều hơn
nữa. Làm thế nào để chúng ta cùng nhau làm điều thiện
nhiều hơn? Chúng ta đã xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh,
xa lìa việc lấy của không cho, đoạn trừ việc lấy của
không cho, xa lìa tà dâm, đoạn trừ tà dâm, nhưng vẫn còn
nói dối. Chúng ta nên xa lìa nói dối, đoạn trừ nói dối.
Chúng ta nên làm việc thiện ấy’.
“Những
người kia cùng nhau làm việc thiện ấy. Khi đã làm việc
thiện ấy thì tuổi thọ tăng lên, hình sắc trở nên đẹp
đẽ. Này Tỳ-kheo, khi loài người tuổi thọ tăng lên, hình
sắc trở nên đẹp đẽ thì người thọ tám mươi tuổi sanh
con thọ một trăm sáu mươi tuổi.
“Này
Tỳ-kheo, người thọ một trăm sáu mươi tuổi cũng nghĩ như
thế này: ‘Nếu cầu học điều thiện thì tuổi thọ tăng
lên, hình sắc trở nên đẹp đẽ, chúng ta nên cùng nhau học
điều thiện nhiều hơn nữa. Làm thế nào để chúng ta cùng
làm việc thiện nhiều hơn nữa? Chúng ta đã xa lìa sát sanh,
đoạn trừ sát sanh; đã xa lìa trộm cắp, đoạn trừ trộm
cắp; xa lìa tà dâm, đoạn trừ tà dâm; xa lìa nói dối, đoạn
trừ nói dối, nhưng chúng ta vẫn còn nói hai lưỡi. Chúng
ta nên xa lìa nói hai lưỡi đoạn trừ nói hai lưỡi. Chúng
ta nên cùng nhau làm việc thiện ấy’.
“Những
người kia cùng nhau làm việc thiện như thế. Khi làm việc
thiện ấy, tuổi thọ tăng lên, hình sắc trở nên đẹp đẽ.
Này Tỳ-kheo, lúc tuổi thọ của loài người tăng lên, hình
sắc trở nên đẹp đẽ thì người thọ một trăm sáu mươi
tuổi sanh con thọ ba trăm hai mươi tuổi.
“Này
Tỳ-kheo, người thọ ba trăm hai mươi tuổi cũng nghĩ rằng:
‘Nếu cầu học điều thiện thì tuổi thọ tăng lên, hình
sắc trở nên đẹp đẽ, chúng ta nên cùng nhau học điều
thiện nhiều hơn nữa. Làm thế nào để chúng ta cùng làm
việc thiện nhiều hơn nữa? Chúng ta đã xa lìa sát sanh, đoạn
trừ sát sanh; đã xa lìa trộm cắp, đoạn trừ trộm cắp;
xa lìa tà dâm, đoạn trừ tà dâm; xa lìa nói dối, đoạn trừ
nói dối; xa lìa nói hai lưỡi, đoạn trừ nói hai lưỡi, nhưng
vẫn còn nói thô ác. Chúng ta nên xa lìa lời nói thô ác, đoạn
trừ lời nói thô ác. Chúng ta nên làm việc thiện ấy’.
“Những
người kia cùng nhau làm việc thiện như thế. Khi làm việc
thiện ấy, tuổi thọ tăng lên, hình sắc trở nên đẹp đẽ.
Này Tỳ-kheo, lúc tuổi thọ của loài người tăng lên, hình
sắc trở nên đẹp đẽ thì người thọ ba trăm hai mươi tuổi
sanh con thọ sáu trăm bốn mươi tuổi.
“Này
Tỳ-kheo, người thọ sáu trăm bốn mươi tuổi cũng nghĩ rằng:
‘Nếu cầu học điều thiện thì tuổi thọ tăng lên, hình
sắc trở nên đẹp đẽ, chúng ta nên cùng nhau học điều
thiện nhiều hơn nữa. Làm thế nào để chúng ta cùng làm
việc thiện nhiều hơn? Chúng ta đã xa lìa sát sanh, đoạn
trừ sát sanh; đã xa lìa trộm cắp, đoạn trừ trộm cắp;
xa lìa tà dâm, đoạn trừ tà dâm; xa lìa nói dối, đoạn trừ
nói dối, xa lìa nói hai lưỡi, đoạn trừ nói hai lưỡi; xa
lìa nói thô ác, đoạn trừ nói thô ác, nhưng chúng ta vẫn
còn nói thêu dệt. Chúng ta nên xa lìa nói thêu dệt, đoạn
trừ nói thêu dệt. Chúng ta nên cùng nhau làm việc thiện ấy’.
“Những
người kia cùng nhau làm việc thiện như thế. Khi đã làm việc
thiện ấy, tuổi thọ liền tăng lên, hình sắc trở nên đẹp
đẽ. Này Tỳ-kheo, lúc tuổi thọ của loài người tăng lên,
hình sắc trở nên đẹp đẽ thì người thọ sáu trăm bốn
mươi tuổi sanh con thọ hai ngàn năm trăm tuổi.
“Này
Tỳ-kheo, người thọ hai ngàn năm trăm tuổi cũng nghĩ rằng:
‘Nếu cầu học điều thiện thì tuổi thọ tăng lên, hình
sắc trở nên đẹp đẽ. Chúng ta nên cùng nhau làm việc thiện
nhiều hơn nữa. Làm thế nào để chúng ta làm việc thiện
nhiều hơn? Chúng ta đã xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh;
đã xa lìa trộm cắp, đoạn trừ trộm cắp; xa lìa tà dâm,
đoạn trừ tà dâm; xa lìa nói dối, đoạn trừ nói dối, xa
lìa nói hai lưỡi, đoạn trừ nói hai lưỡi; xa lìa nói thô
ác, đoạn trừ nói thô ác, xa lìa lời nói thêu dệt, đoạn
trừ lời nói thêu dệt, nhưng còn tham lam tật đố. Chúng
ta nên xa lìa tham lam tật đố, đoạn trừ tham lam tật đố.
Chúng ta nên cùng nhau làm việc thiện ấy’.
“Những
người kia cùng nhau làm việc thiện như thế. Khi đã làm việc
thiện ấy, tuổi thọ liền tăng lên, hình sắc trở nên đẹp
đẽ. Này Tỳ-kheo, lúc tuổi thọ của loài người tăng lên,
hình sắc trở nên đẹp đẽ thì người thọ hai ngàn năm
trăm tuổi sanh con thọ năm ngàn tuổi.
“Này
Tỳ-kheo, người thọ năm ngàn tuổi cũng nghĩ rằng: ‘Nếu
cầu học điều thiện thì tuổi thọ tăng lên, hình sắc trở
nên đẹp đẽ. Chúng ta nên cùng nhau làm việc thiện nhiều
hơn nữa. Làm thế nào để chúng ta làm việc thiện nhiều
hơn? Chúng ta đã xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh; xa lìa
việc lấy của không cho, đoạn trừ việc lấy của không
cho; xa lìa tà dâm, đoạn trừ tà dâm; xa lìa lời nói dối,
đoạn trừ lời nói dối, xa lìa nói hai lưỡi, đoạn trừ
nói hai lưỡi; xa lìa nói thô ác, đoạn trừ nói thô ác, xa
lìa lời nói thêu dệt, đoạn trừ lời nói thêu dệt, xa lìa
tham lam tật đố, đoạn trừ tham lam tật đố, nhưng vẫn
còn sân hận. Chúng ta nên xa lìa sân nhuế, đoạn trừ sân
nhuế. Chúng ta nên cùng nhau làm việc thiện ấy’.
“Những
người kia cùng nhau làm việc thiện như thế. Khi đã làm việc
thiện ấy, tuổi thọ liền tăng lên, hình sắc trở nên đẹp
đẽ. Này Tỳ-kheo, lúc tuổi thọ của loài người tăng lên,
hình sắc trở nên đẹp đẽ thì người thọ năm ngàn tuổi
sanh con thọ một vạn tuổi.
“Này
Tỳ-kheo, người thọ một vạn tuổi cũng nghĩ rằng: ‘Nếu
cầu học điều thiện thì tuổi thọ tăng lên, hình sắc trở
nên đẹp đẽ. Chúng ta nên cùng nhau làm việc thiện nhiều
hơn nữa. Làm thế nào để chúng ta làm việc thiện nhiều
hơn? Chúng ta đã xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh; xa lìa
việc lấy của không cho, đoạn trừ việc lấy của không
cho; xa lìa tà dâm, đoạn trừ tà dâm; xa lìa nói dối, đoạn
trừ nói dối, xa lìa nói hai lưỡi, đoạn trừ nói hai lưỡi;
xa lìa lời nói thô ác, đoạn trừ lời nói thô ác, xa lìa
lời nói thêu dệt, đoạn trừ lời nói thêu dệt, xa lìa tham
lam tật đố, đoạn trừ tham lam tật đố, xa lìa sân nhuế,
đoạn trừ sân nhuế, nhưng vẫn còn tà kiến. Chúng ta nên
xa lìa tà kiến, đoạn trừ tà kiến. Chúng ta nên cùng nhau
tu học việc thiện này’.
“Những
người kia cùng nhau làm việc thiện như thế. Khi đã làm việc
thiện ấy, tuổi thọ liền tăng lên, hình sắc trở nên đẹp
đẽ. Này Tỳ-kheo, lúc tuổi thọ của loài người đã tăng
lên, hình sắc trở nên đẹp đẽ thì người thọ một vạn
tuổi sanh con thọ hai vạn tuổi.
“Này
Tỳ-kheo, người thọ hai vạn tuổi cũng nghĩ rằng: ‘Nếu
cầu học điều thiện thì tuổi thọ tăng lên, hình sắc trở
nên đẹp đẽ. Chúng ta nên cùng nhau làm việc thiện nhiều
hơn nữa. Làm thế nào để chúng ta làm việc thiện nhiều
hơn? Chúng ta đã xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh; xa lìa
việc lấy của không cho, đoạn trừ việc lấy của không
cho; xa lìa tà dâm, đoạn trừ tà dâm; xa lìa nói dối, đoạn
trừ nói dối, xa lìa nói hai lưỡi, đoạn trừ nói hai lưỡi;
xa lìa lời nói thô ác, đoạn trừ lời nói thô ác, xa lìa
lời nói thêu dệt, đoạn trừ lời nói thêu dệt, xa lìa tham
lam tật đố, đoạn trừ tham lam tật đố, xa lìa sân nhuế,
đoạn trừ sân nhuế, xa lìa tà kiến, đoạn trừ tà kiến,
nhưng vẫn còn có phi pháp dục, ác tham hạnh và tà pháp. Chúng
ta nên xa lìa ba pháp ác bất thiện này, đoạn trừ ba pháp
ác bất thiện này. Chúng ta nên cùng nhau làm việc thiện ấy’.
“Những
người kia cùng nhau làm việc thiện như thế. Khi đã làm việc
thiện ấy, tuổi thọ liền tăng lên, hình sắc trở nên đẹp
đẽ. Này Tỳ-kheo, lúc tuổi thọ của loài người đã tăng
lên, hình sắc trở nên đẹp đẽ thì người thọ hai vạn
tuổi sanh con thọ bốn vạn tuổi.
“Này
Tỳ-kheo, lúc loài người thọ bốn vạn tuổi thì biết hiếu
thuận với cha mẹ, tôn trọng cung kính Sa-môn, Phạm chí, làm
việc thuận lợi, tu tập phước nghiệp, thấy tội lỗi đời
sau. Loài người nhân vì hiếu thuận với cha mẹ, cung kính
tôn trọng Sa-môn, Phạm chí, làm việc thuận lợi, tu tập
phước nghiệp, thấy tội đời sau, cho nên này Tỳ-kheo, người
thọ bốn vạn tuổi sanh con thọ tám vạn tuổi.
“Này
Tỳ-kheo, lúc người thọ tám vạn tuổi, châu Diêm-phù này
giàu có cùng tột, nhân dân đông đúc, thôn ấp gần nhau bằng
khoảng cách con gà bay.
“Này
Tỳ-kheo, lúc con người thọ tám vạn tuổi, con gái đến năm
trăm tuổi mới có thể lấy chồng. Này Tỳ-kheo, lúc con người
thọ tám vạn tuổi thì chỉ có những chứng bệnh như đại
tiểu tiện, nóng, lạnh, muốn ăn uống và già. Ngoài ra, không
còn tai họa nào nữa.
“Này
Tỳ-kheo, lúc loài người thọ tám vạn tuổi, có một vị
vua tên là Loa[17]
làm Chuyển luân vương, thông minh trí tuệ, có bốn loại quân
chỉnh trị thiên hạ, tự do tự tại, là vị Pháp vương như
pháp, thành tựu bảy báu, bảy báu đó là luân báu, voi báu,
ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, cư sĩ báu, tướng quân báu,
đó là bảy báu. Nhà vua có đủ ngàn người con thông minh
trí tuệ, dung mạo khôi ngô, dũng mãnh không sợ, hàng phục
được địch quân. Nhà vua thống lĩnh quả đất này cho đến
bể cả, không dùng dao gậy, chỉ dùng pháp giáo hóa, khiến
nhân dân an lạc.
“Này
Tỳ-kheo, các vua Sát-lợi Đảnh Sanh làm nhân chủ chỉnh trị
thiên hạ, đi lại trong cảnh giới của chính mình mà phụ
vương đã truyền lại nên tuổi thọ không giảm xuống, hình
sắc không thô xấu, chưa từng mất hoan lạc, sức lực cũng
không suy.
“Này
Tỳ-kheo, các ngươi cũng phải như vậy, cạo bỏ râu tóc,
mặc áo ca-sa, chí tín, từ bỏ gia đình, sống không gia đình,
xuất gia học đạo, đi lại trong cảnh giới của chính mình
mà phụ vương đã truyền lại, nên tuổi thọ không giảm
xuống, hình sắc không thô xấu, chưa từng mất an lạc, thế
lực cũng không suy.
“Thế
nào gọi là Tỳ-kheo đi lại trong cảnh giới của chính mình
mà phụ vương đã truyền lại? Đó là Tỳ-kheo quán nội thân
như thân, nội giác, nội nội, nội pháp như pháp[18].
Như thế gọi là Tỳ-kheo đi lại trong cảnh giới của chính
mình mà phụ vương đã truyền lại.
“Thế
nào gọi là tuổi thọ của thầy Tỳ-kheo? Tỳ-kheo ấy tu dục
định như ý túc, y viễn ly, y vô dục, y diệt tận, hướng
dẫn đến xuất yếu, tu tinh tấn định, tu tâm định, tu tư
duy định, như ý túc, y viễn ly, y vô dục, y diệt tận, hướng
đến xuất yếu. Đó là tuổi thọ của Tỳ-kheo.
“Thế
nào là sắc của Tỳ-kheo? Đó là Tỳ-kheo tu tập cấm giới,
thủ hộ giải thoát giới, lại khéo thu nhiếp các oai nghi
lễ tiết, thấy tội nhỏ cũng thường canh cánh lo sợ, thọ
trì học giới. Đó là sắc của Tỳ-kheo.
“Thế
nào là lạc của Tỳ-kheo? Đó là Tỳ-kheo ly dục, ly pháp ác
bất thiện, cho đến chứng đắc cảnh thiền thứ tư, thành
tựu và an trú. Đó là lạc của Tỳ-kheo.
“Thế
nào là lực của Tỳ-kheo? Đó là Tỳ-kheo diệt sạch các lậu,
chứng đắc vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, trong
đời hiện tại tự tri tự giác, tự thân tác chứng, thành
tựu và an trú, biết như thật rằng: ‘Sự sanh đã dứt,
phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn
tái sanh nữa’. Đó là lực của Tỳ-kheo.
“Này
Tỳ-kheo, Ta không thấy có lực nào không thể hàng phục được
như lực của Ma vương, cho nên lậu tận Tỳ-kheo phải dùng
lực của vô thượng trí tuệ mới hàng phục được.”
Phật
thuyết như thế. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan
hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Tương đương Pāli, D.26. Cakkavatti-Sīhanāda-Suttanta. Tham chiếu,
Hán: No.1(6).
[2]
Ma-đâu-lệ Sát-lợi 摩兜麗刹利,
bản Pāli nói ở Mātula, một ngôi làng tại Magadha. N.1 (6)
nói là Ma-la-hê-sấu. Chữ Sát-lợi trong bản Hán này
không rõ. Có thể là phiên âm tương đương với khetta, một
cánh đồng.
[3]
Sử hà 駛河
hay Sử lưu, con sông chảy ngang qua Nam và Bắc Kosala.
[4]
Đương tự nhiên pháp đăng, tự quy kỷ pháp. Mạc nhiên dư
đăng, mạc quy dư pháp 當自然法燈, 自歸己法. 莫然餘燈, 莫歸餘法.
So sánh DTK.1(6): Đương tự xí
nhiên, xí nhiên ư pháp, vật tha xí nhiên, đương tự quy y,
quy y Ứng Chánh Đẳng Giác Pháp, Vật Tha Quy Y. Pāli: Attadīpā
bhikkhāve viharatha atta-saraṇā anañña-saraṇā. Dhammadīpā dhamma-saraṇā
anañña-saraṇā. Dīpā: có nghĩa là ngọn đèn, hay hòn đảo.
[5]
Kiên Niệm 堅念.
No.1(6): Kiên Cố Niệm. Pāli: Dalhameni.
[6]
Xem kinh số 67.
[7]
Thiên luân báu 天輪寶.
Pāli: Dibbam cakka-ratanam. Xem mô tả nơi kinh số 67.
[8]
Sát-lợi Đảnh Sanh vương 刹利頂生王.
Pāli: rājākhattiyo maddāvasatto, người dòng Sát-lợi, được
truyền ngôi bằng nghi thức quán đảnh.
[9]
Tương kế chi pháp 相繼之法.
Xem kinh số 67.
[10]
Hán: nghĩa義.
Ý nghĩa hoặc mục đích.
[11]
Trong để bản: tận thọ 盡壽
(suốt đời). Có lẽ dư chữ thọ. Ba bản Tống-Nguyên-Minh
không có.
[12]
Bại tử 稗子;
loại cỏ giống như lúa. Pāli: hột kudrūsa.
[13]
Canh lương 粳糧;
Pāli: sāli-mamsodana.
[14]
Trong bản: diêm, mật 鹽蜜.
Theo liệt kê thông thường thi chỗ này là thạch mật
tức đường phèn.
[15]
Đàn phạt 彈罰;
đàn hạch và trừng phạt? Không rõ Pāli.
[16]
Đao binh kiếp 刀兵劫.
Pāli: satthantara-kappa.
[17]
Loa 螺.
Pāli: Saṅkha.
[18]
Xem kinh số 89.