68.
KINH ĐẠI THIỆN KIẾN VƯƠNG[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật du hóa tại thành Câu-thi[2],
trú trong rừng Sa-la của Hòa-bạt-đơn lực sĩ[3].
Bấy
giờ, vào lúc tối hậu, sắp nhập Niết-bàn, Đức Thế Tôn
bảo:
“Này
A-nan, hãy đến giữa hai cây Sa-la song thọ[4]
trải chỗ nằm cho Như Lai, đầu quay về hướng Bắc. Như
Lai vào giữa đêm nay sẽ nhập Niết-bàn.”
Tôn
giả A-nan vâng lời Đức Như Lai, liền đến giữa hai cây
song thọ trải chỗ nằm cho Như Lai, đầu quay về hướng Bắc.
Sau khi trải chỗ nằm xong, trở lại chỗ Đức Phật, cúi
đầu đảnh lễ dưới chân Ngài rồi đứng sang một bên,
bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, con đã trải chỗ nằm cho Như Lai, đầu quay về
hướng Bắc. Cúi mong Thế Tôn tự biết thời.”
Bấy
giờ Thế Tôn cùng Tôn giả A-nan đến giữa hai cây song thọ,
xếp tư y uất-đa-la-tăng trải lên chỗ nằm, gấp y tăng-già-lê
làm gối. Ngài nằm nghiêng về hông bên phải, hai chân chồng
lên nhau. Đây là lúc tối hậu, Phật sắp Niết-bàn.
Lúc
ấy Tôn giả A-nan đang cầm quạt hầu Phật. Tôn giả chắp
tay hướng về Đức Phật thưa rằng:
“Bạch
Thế Tôn, còn có những thành lớn khác. Một là Chiêm-bà,
hai là Xá-vệ, ba là Bệ-xá-ly, bốn là Vương xá, năm là Ba-la-nại,
sáu là Ca-tỳ-la-vệ[5].
Sao Thế Tôn không nhập Niết-bàn ở các nơi ấy, mà quyết
định tại thành bằng đất nhỏ hẹp này, một thành nhỏ
hẹp nhất trong các thành?”
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn bảo:
“Này
A-nan, ngươi chớ nói rằng đây là thành đất nhỏ hẹp, là
thành nhỏ nhất trong các thành. Vì sao? Vì thuở quá khứ,
thành Câu-thi-na này tên là Câu-thi vương thành[6],
giàu có cùng tột, dân chúng đông đúc.
“A-nan,
Câu-thi vương thành dài mười hai do-diên, rộng bảy do-diên.
“A-nan,
ở đây dựng tháp canh cao bằng một người, hoặc hai, ba,
bốn..., cho đến bảy người.
“A-nan,
ở chung quanh bên ngoài Câu-thi vương thành, có bảy lớp hào.
Hào ấy được xây bằng gạch bốn báu là vàng, bạc, lưu
ly và thủy tinh. Đáy hào cũng trải cát bằng bốn loại báu
là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh.
“Này
A-nan, Câu-thi vương thành có bảy lớp tường thành bao bọc
bên ngoài. Những lớp tường thành ấy cũng được xây bằng
gạch bốn báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh.
“Này
A-nan, Câu-thi vương thành có bảy lớp hàng cây Đa-la[7]
bằng bốn báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh bao bọc xung
quanh. Cây Đa-la bằng vàng thì hoa, lá và trái bằng bạc. Cây
Đa-la bằng bạc thì hoa, lá và trái bằng vàng. Cây Đa-la bằng
lưu ly thì hoa, lá và trái bằng thủy tinh. Cây Đa-la bằng
thủy tinh thì hoa, lá và trái bằng lưu ly.
“Này
A-nan, ở giữa những cây Đa-la có đào nhiều hồ sen; hồ
sen xanh, hồ sen hồng, hồ sen đỏ và hồ hoa sen trắng.
“Này
A-nan, bờ hồ hoa ấy được đắp bằng bốn báu là vàng,
bạc, lưu ly và thủy tinh. Ở đáy hồ thì rải cát bằng bốn
báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Trong thành hồ ấy
có thềm cấp bằng bốn báu là vàng, bạc, lưu ly, thủy tinh.
Thềm cấp bằng vàng thì bậc chân[8]
bằng bạc, thềm cấp bằng bạc thì có bậc chân bằng vàng.
Thềm cấp bằng lưu ly thì có bậc chân bằng thủy tinh. Thềm
cấp bằng thủy tinh thì có bậc chân bằng lưu ly.
“Này
A-nan, xung quanh hồ ấy có câu lan[9]
bằng bốn báu, lưỡi câu là vàng bạc, lưu ly, thủy tinh.
Lan can bằng vàng thì lưỡi câu bằng bạc. Lan can bằng bạc
thì lưỡi câu bằng vàng. Lan can bằng lưu ly thì lưỡi câu
bằng thủy tinh. Lan can bằng thủy tinh thì lưỡi câu bằng
lưu ly.
“Này
A-nan, hồ ấy được trùm bởi màn lưới có chuông treo ở
giữa. Chuông ấy làm bằng bốn báu là vàng, bạc, lưu ly và
thủy tinh. Chuông bằng vàng thì quả lắc bằng bạc. Chuông
bằng bạc thì quả lắc bằng vàng. Chuông bằng lưu ly thì
quả lắc bằng thủy tinh. Chuông bằng thủy tinh thì quả lắc
bằng lưu ly.
“Này
A-nan, trong hồ ấy trồng nhiều loại hoa dưới nước như
hoa sen xanh, hoa sen hồng, hoa sen đỏ, hoa sen trắng; thường
có nước, có hoa, không có người trông giữ ngăn cấm vì
thuộc về tất cả mọi người.
“Này
A-nan, ở bờ hồ ấy có trồng nhiều loại hoa như hoa Tu-ma-na,
hoa Bà-sư, hoa Chiêm-bặc, hoa Kiện-đề, hoa Ma-đầu-kiện-đề,
hoa A-đề-mâu-đa, hoa Ba-la đầu[10].
“Này
A-nan, bên các bờ hồ sen ấy, có nhiều người nữ thân thể
nõn nà, sạch sẽ, trong sáng, sắc đẹp hơn người, chẳng
kém thiên nữ, tư dung đoan chánh, ai nhìn cũng thấy vui thích,
được trang sức đầy đủ các loại ngọc báu; những người
nữ ấy bố thí tùy theo nhu cầu của mọi người như đồ
ăn thức uống, áo, chăn, xe cộ, nhà cửa, giường nệm, đệm
lông ngũ sắc, tôi tớ, đèn dầu... đem cung cấp đầy đủ.
“Này
A-nan, lá cây Đa-la ấy lúc gió thổi thì phát ra âm thanh cực
kỳ vi diệu, cũng như năm loại kỹ nhạc được nhạc sư
tài ba tấu lên thì có âm thanh hết sức hài hòa, tuyệt diệu.
Này A-nan, lá cây ấy lúc gió thổi cũng lại như vậy.
“Này
A-nan, trong thành Câu-thi ấy giả sử có người tồi tệ thấp
hèn hạ, muốn được thưởng thức năm loại kỹ nhạc, nếu
cùng đến giữa những cây Đa-la thì đều được thưởng
thức thỏa thích.
“Này
A-nan, Câu-thi vương thành thường có mười hai loại tiếng
không bao giờ gián đoạn, là tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng
xe, tiếng đi bộ, tiếng tù và, tiếng trống, tiếng trống
bạc lạc[11],
tiếng trống kỷ[12],
tiếng ca, tiếng vũ, tiếng ăn, tiếng bố thí.
“Này
A-nan, trong thành Câu-thi có vua tên là Đại Thiện Kiến[13],
là vị Chuyển luân vương thông minh trí tuệ, có bốn loại
quân chỉnh trị thiên hạ, tự do tự tại; là vị Pháp vương
như pháp, thành tựu bảy báu, được bốn đức như ý của
con người.
“Này
A-nan, bấy giờ các Phạm chí, cư sĩ trong Câu-thi vương thành
mang các loại châu báu, kiềm-bà-la báu[14],
chở đến chỗ vua Đại Thiện Kiến, thưa rằng:
“–
Tâu Thiên vương, các loại châu báu, kiềm-bà-la báu này, mong
Thiên vương vì lòng từ mẫn mà nạp thọ.
“Đại
Thiện Kiến vương nói với các Phạm chí:
“–
Này các khanh, các khanh hiến dâng nhưng ta thấy chưa cần thiết,
vì ta đã có đủ.
“Này
A-nan, lại có tám vạn bốn ngàn vị Tiểu quốc vương, đến
thưa vua Đại Thiện Kiến rằng:
“–
Tâu Thiên vương, chúng tôi muốn xây chánh điện cho Thiên
vương.
“Đại
Thiện Kiến vương nói với các Tiểu quốc vương:
“–
Các khanh muốn xây chánh điện cho ta, nhưng ta thấy chưa cần
thiết, vì chánh điện ta đã có.
“Tám
vạn bốn ngàn vị Tiểu quốc vương đều chắp tay hướng
về Đại Thiện Kiến vương, lặp lại ba lần rằng:
“–
Tâu Thiên vương, chúng tôi muốn xây chánh điện cho Thiên
vương. Chúng tôi muốn xây chánh điện cho Thiên vương.
“Bấy
giờ, Đại Thiện Kiến vương im lặng nhận lời của tám
vạn bốn ngàn vua các tiểu quốc. Khi biết vua đã im lặng
nhận lời, các Tiểu quốc vương liền bái biệt, đi quanh
ba vòng rồi lui ra. Vua nước nào trở về nước ấy, dùng
tám vạn bốn ngàn cỗ xe chất đầy những vàng và các loại
tiền, bằng vàng tinh luyện hay chưa tinh luyện[15].
Lại lấy các trụ đều bằng ngọc lớn chở đến thành Câu-thi,
cách thành không xa xây đại chánh điện.
“Này
A-nan, đại chánh điện ấy dài một do-diên, rộng một do-diên.
Đại chánh điện ấy được xây bằng gạch làm bằng bốn
báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh.
“Này
A-nan, thềm cấp của đại chánh điện ấy làm bằng bốn
loại báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Thềm cấp bằng
vàng thì trụ bằng bạc. Tam cấp bằng bạc thì trụ bằng
vàng. Thềm cấp bằng lưu ly thì trụ bằng thủy tinh. Thềm
cấp bằng thủy tinh thì trụ bằng lưu ly.
“Này
A-nan, trong đại chánh điện có tám vạn bốn ngàn cột trụ
làm bằng bốn báu là: Vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Cột
bằng vàng thì đá tảng bằng bạc. Cột bằng bạc thì đá
tảng bằng vàng. Cột bằng lưu ly thì đá tảng bằng thủy
tinh. Cột bằng thủy tinh thì đá tảng bằng lưu ly.
“Này
A-nan, bên trong chánh điện lại xây tám vạn bốn ngàn lầu
làm bằng bốn báu là: Vàng, bạc, lưu ly, thủy tinh. Lầu bằng
vàng thì mái lợp bằng bạc. Lầu bằng bạc thì mái lợp
bằng vàng. Lầu bằng lưu ly thì mái lợp bằng thủy tinh.
Lầu bằng thủy tinh thì mái lợp bằng lưu ly.
“Này
A-nan, trong đại chánh điện có thiết trí tám vạn bốn ngàn
ngự tòa, cũng làm bằng bốn báu: vàng, bạc, lưu ly và thủy
tinh. Lầu bằng vàng thì thiết trí ngự tòa bằng bạc, trải
lên trên các thứ nệm chiếu, đệm lông năm sắc, phủ lên
trên bằng những thứ gấm, the, lụa, sa trun, có chăn đệm
lót hai đầu để gối, trải thảm quý bằng da sơn dương.
Cũng vậy, lầu bằng bạc thì thiết trí ngự tòa bằng vàng.
Lầu bằng lưu ly thì thiết trí ngự tòa bằng thủy tinh. Lầu
bằng thủy tinh thì thiết trí ngự tòa bằng lưu ly, trải
lên bằng các thứ nệm chiếu, đệm lông năm sắc, phủ lên
bằng các thứ gấm, the, lụa, sa trun, có chăn đệm lót hai
đầu để gối và trải thảm quý bằng da sơn dương.
“Này
A-nan, đại chánh điện ấy xung quanh có câu lan bằng bốn
báu, vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Lan can bằng vàng thì
lưỡi câu bằng bạc. Lan can bằng bạc thì lưỡi câu bằng
vàng. Lan can bằng lưu ly thì lưỡi câu bằng thủy tinh. Lan
can bằng thủy tinh thì lưỡi câu bằng lưu ly.
“Này
A-nan, đại chánh điện ấy được che bằng màn lưới, trong
đó treo các thứ chuông lắc. Chuông ấy làm bằng bốn báu
là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Chuông bằng vàng thì quả
lắc bằng bạc. Chuông làm bằng bạc thì quả lắc bằng vàng.
Chuông bằng lưu ly thì quả lắc bằng thủy tinh. Chuông bằng
thủy tinh thì quả lắc bằng lưu ly.
“Này
A-nan, đại chánh điện ấy sau khi được kiến trúc đầy
đủ, bốn vạn tám ngàn vua các tiểu quốc đi ra cách đại
chánh điện không xa, xây ao sen lớn.
“Này
A-nan, ao sen lớn ấy dài một do-diên; rộng một do-diên.
“Này
A-nan, ao sen lớn ấy được đắp gạch bằng bốn báu là vàng,
bạc, lưu ly và thủy tinh. Đáy ao được rải cát bốn thứ
báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh.
“Này
Na-nan, ao sen lớn ấy có thềm cấp bằng bốn thứ báu là
vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Tầng cấp bằng vàng thì thềm
bằng bạc. Tầng cấp bằng bạc thì thềm bằng vàng. Tầng
cấp bằng lưu ly thì thềm bằng thủy tinh. Tầng cấp bằng
thủy tinh thì thềm bằng lưu ly.
“Này
A-nan, chung quanh ao sen lớn có câu lan bằng bốn báu là vàng,
bạc, lưu ly và thủy tinh. Lan can bằng vàng thì lưỡi câu
bằng bạc. Lan can bằng bạc thì lưỡi câu bằng vàng. Lan
can bằng lưu ly thì lưỡi câu bằng thủy tinh. Lan can bằng
thủy tinh thì lưỡi câu bằng lưu ly.
“Này
A-nan, ao sen lớn ấy được che bởi màn lưới, trong đó treo
các thứ chuông lắc. Chuông ấy làm bằng bốn báu là vàng,
bạc, lưu ly và thủy tinh. Chuông bằng vàng thì quả lắc bằng
bạc. Chuông bằng bạc thì quả lắc bằng vàng. Chuông bằng
lưu ly thì quả lắc bằng thủy tinh. Chuông bằng thủy tinh
thì quả lắc bằng lưu ly.
“Này
A-nan, trong ao sen lớn ấy có nhiều loại thủy hoa như hoa sen
xanh, hoa sen hồng, hoa sen trắng, hoa sen đỏ, thường có nước
ở hoa, có người gìn giữ, không thuộc về tất cả mọi
người.
“Này
A-nan, trong ao sen lớn ấy có nhiều loại lục hoa, như hoa Tu-ma-na,
hoa Bà-sư, hoa Chiêm-bặc, hoa Tu-kiền-đề, hoa Ma-đầu-kiẹân-đề,
hoa A-đề-mâu-đa, hoa Ba-la-lại.
“Này
A-nan, sau khi kiến trúc đại điện và hồ hoa lớn đầy đủ
như thế, tám vạn bốn ngàn vua các tiểu quốc đi ra cách
điện không xa, thiết lập vườn Đa-la[16].
“Này
A-nan, vườn Đa-la ấy dài một do-diên, rộng một do-diên.
Trong vườn Đa-la trồng tám vạn bốn ngàn cây Đa-la, đều
dùng bốn báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Cây Đa-la
bằng vàng thì lá, hoa, quả bằng bạc. Cây Đa-la bằng bạc
thì lá, hoa, quả bằng vàng. Cây Đa-la bằng lưu ly thì lá,
hoa, quả bằng thủy tinh. Cây Đa-la bằng thủy tinh thì lá,
hoa, quả bằng lưu ly.
“Này
A-nan, chung quanh vườn Đa-la ấy có lan can lưỡi câu bằng
bốn báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Lan can bằng vàng
thì lưỡi câu bằng bạc. Lan can bằng bạc thì lưỡi câu
bằng vàng. Lan can bằng lưu ly thì lưỡi câu bằng thủy tinh.
Lan can bằng thủy tinh thì lưỡi câu bằng lưu ly.
“Này
A-nan, vườn Đa-la ấy được che bằng lưới báu, có chuông
treo lơ lửng ở khoảng giữa. Chuông ấy làm bằng bốn báu
là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Chuông bằng vàng thì quả
lắc bằng bạc. Chuông bằng bạc thì quả lắc bằng vàng.
Chuông bằng lưu ly thì quả lắc bằng thủy tinh. Chuông bằng
thủy tinh thì quả lắc bằng lưu ly.
“Này
A-nan, sau khi kiến trúc đại điện, ao hoa và vườn Đa-la đầy
đủ như thế, tám vạn bốn ngàn Tiểu quốc vương cùng đến
chỗ vua Đại Thiện Kiến thưa rằng:
“–
Tâu Thiên vương, xin biết cho rằng, đại điện, ao hoa và
vườn cây Đa-la, tất cả đã kiến trúc đầy đủ. Mong Thiên
vương sử dụng tùy thích.
“Này
A-nan, bấy giờ vua Đại Thiện Kiến nghĩ rằng: ‘Ta không
nên lên đại điện này trước. Nếu có bậc Thượng tôn
Sa-môn, Phạm chí ở thành Câu-thi vương này, ta nên mời tất
cả tụ tập ngồi ở đại điện này, soạn các thức ăn
ngon lành, mỹ diệu, đầy đủ thức nhai và nuốt, tự tay
bưng hầu khiến các ngài ăn no. Ăn xong, dọn bát và dùng nước
rửa, rồi mời các ngài trở về’.
“Này
A-nan, sau khi vua Đại Thiện Kiến nghĩ như vậy, liền mời
tất cả các bậc Thượng tôn Sa-môn, Phạm chí đang trú tại
thành Câu-thi vương ấy tụ tập trên đại chánh điện. Tất
cả tụ tập và an tọa xong, vua thân hành lấy nước rửa
rồi đem các thức ăn ngon lành, mỹ diệu, đầy đủ các thức
nhai và nuốt, tự tay bưng hầu khiến các ngài ăn no. Sau khi
ăn, dọn bát, đem nước rửa và nhận lời cầu chúc, rồi
vua mời các ngài trở về.
“Này
A-nan, vua Đại Thiện Kiến lại nghĩ: ‘Nay ta không nên vào
đại chánh điện để hưởng dục lạc. Ta nên đem độc nhất
một người hầu lên ở tại đại chánh điện’.
“Này
A-nan, sau đó vua Đại Thiện Kiến đem người hầu lên đại
chánh điện, đi vào lầu bằng vàng, ngồi ở ngự tòa bằng
bạc, được trải lên bằng những thứ nệm chăn, đệm lông
năm sắc, được phủ lên bằng những thứ gấm, the, lụa,
sa trun, có chăn đệm lót hai đầu để gối và trải thảm
quý bằng da sơn dương. Ngồi xong, nhà vua ly dục, ly các pháp
ác bất thiện; có giác, có quán, hỷ và lạc do ly dục sanh,
tiến vào Sơ thiền, thành tựu và an trú.
“Từ
lầu bằng vàng đi ra, lại đi vào lầu bằng bạc, ngồi vào
ngự sàng bằng vàng được trải các thứ nệm chăn, đệm
lông năm sắc, được phủ lên bằng những thứ gấm, the,
lụa, sa trun, có chăn đệm lót hai đầu để gối và trải
thảm quý bằng da sơn dương. Ngồi xong, nhà vua ly dục, ly
pháp ác bất thiện, có giác, có quán, hỷ và lạc do ly dục
sanh, tiến vào Sơ thiền, thành tựu và an trú.
“Từ
lầu bằng bạc đi ra, lại đi vào lầu bằng lưu ly, ngồi
vào ngự sàng bằng tủy tinh được trải các thứ nệm chăn,
đệm lông năm sắc, được phủ lên bằng những thứ gấm,
the, lụa, sa trun, có chăn đệm lót hai đầu để gối và trải
thảm quý bằng da sơn dương. Ngồi xong, nhà vua ly dục, ly
pháp ác bất thiện, có giác, có quán, hỷ và lạc do ly dục
sanh, tiến vào Sơ thiền, thành tựu và an trú.
“Từ
lầu bằng lưu ly đi ra, lại vào lầu bằng thủy tinh, ngồi
vào ngự sàng bằng lưu ly được trải các thứ nệm chăn,
đệm lông năm sắc, được phủ lên bằng những thứ gấm,
the, lụa, sa trun, có chăn đệm lót hai đầu để gối và trải
thảm quý bằng da sơn dương. Ngồi xong, nhà vua ly dục, ly
pháp ác bất thiện, có giác, có quán, hỷ và lạc do ly dục
sanh, tiến vào Sơ thiền, thành tựu và an trú.
“Này
A-nan, bấy giờ tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu quá
lâu không thấy vua Đại Thiện Kiến, ai cũng nhớ mong, khao
khát muốn thấy. Lúc đó, tám vạn bốn ngàn phu nhân cùng
nhau đi đến nữ báu thưa thỉnh rằng:
“–
Thiên hậu, nên biết rằng, từ lâu không được hầu cận
Thiên vương. Thiên hậu, chúng tôi nay muốn cùng nhân dân đến
yết kiến Thiên vương.
“Nữ
báu nghe xong, liền bảo Tướng quân:
“–
Ngươi nay nên biết rằng, chúng tôi từ lâu không được hầu
cận Thiên vương, nay muốn đến yết kiến Thiên vương.
“Tướng
quân nghe vậy, liền đưa tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ
báu đến đại chánh điện. Tám vạn bốn ngàn thớt voi, tám
vạn bốn ngàn con ngựa, tám vạn bốn ngàn cỗ xe, tám vạn
bốn ngàn lính bộ, tám vạn bốn ngàn tiểu vương cũng cùng
hộ tống, đi đến đại chánh điện. Lúc cả đoàn đang đi,
âm thanh ấy vang dội chấn động mạnh mẽ. Vua Đại Thiện
Kiến nghe được âm thanh vang dội chấn động mạnh mẽ ấy.
Nghe xong, nhà vua liền hỏi người đứng hầu bên cạnh:
“–
Đó là tiếng gì mà vang dội chấn động mạnh mẽ thế?
“Người
hầu thưa:
“–
Tâu Thiên vương, đó là do tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ
báu, hôm nay tất cả cùng đến đại chánh điện; tám vạn
bốn ngàn thớt voi, tám vạn bốn ngàn con ngựa, tám vạn bốn
ngàn cỗ xe, tám vạn bốn ngàn lính bộ, tám vạn bốn ngàn
Tiểu vương lại cùng nhau đến chánh điện, cho nên âm thanh
ấy vang dội, chấn động mạnh mẽ.
“Nghe
xong, vua Đại Thiện Kiến bảo người hầu cận:
“–
Ngươi mau xuống khỏi đại điện, đến chỗ đất trống,
trải nhanh giường bằng vàng rồi trở lại cho ta hay.
“Người
hầu cận vâng lời, liền từ điện đi xuống, đến chỗ
đất trống, trải giường bằng vàng một cách nhanh chóng,
liền trở lại thưa rằng:
“–
Con đã trải giường bằng vàng ở chỗ đất trống cho Thiên
vương, xin tùy ý Thiên vương.
“Này
A-nan, vua Đại Thiện Kiến cùng với người hầu từ điện
đi xuống, ngự trên giường bằng vàng và ngồi kiết già.
“Này
A-nan, bấy giờ tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu cùng
nhau đến trước vua Đại Thiện Kiến.
“Này
A-nan, từ xa, vua Đại Thiện Kiến trông thấy tám vạn bốn
ngàn phu nhân và nữ báu, liền đóng kín các căn. Tám vạn
bốn ngàn phu nhân và nữ báu thấy vua đóng kín các căn, liền
nghĩ: ‘Thiên vương nay chắc không dùng đến chúng ta nữa.
Vì sao? Vì Thiên vương vừa thấy chúng ta, liền đóng kín
các căn’.
“Này
A-nan, khi đó nữ báu đi đến trước vua Đại Thiện Kiến.
Đến rồi thưa rằng:
“–
Tâu Thiên vương, xin biết cho, tám vạn bốn ngàn phu nhân và
nữ báu này hoàn toàn thuộc về Thiên vương. Mong Thiên vương
thương tưởng đến chúng tôi cho đến lúc mạng chung và tám
vạn bốn ngàn thớt voi, tám vạn bốn ngàn con ngựa, tám vạn
bốn ngàn cỗ xe, tám vạn bốn ngàn lính bộ, tám vạn bốn
ngàn tiểu vương cũng hoàn toàn thuộc về Thiên vương, mong
Thiên vương tưởng đến tất cả cho đến lúc mạng chung.
“Bấy
giờ vua Đại Thiện Kiến nghe những lời ấy xong, bảo nữ
báu rằng:
“–
Này hiền muội, các người luôn luôn xúi dục ta làm ác, mà
không khuyến khích ta làm lành. Này hiền muội, từ nay về
sau nên khuyến khích ta làm lành, chớ xúi dục ta làm ác.
“Này
A-nan, tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu ấy liền ngồi
qua một bên, nước mắt tràn ra, khóc lóc bi thảm, thưa rằng:
“–
Chúng tôi chẳng phải là em của Thiên vương, mà nay Thiên
vương gọi chúng tôi là hiền muội.
“Này
A-nan, tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu ấy, mỗi người
dùng áo lau nước mắt, lại đến trước vua Đại Thiện Kiến
thưa rằng:
“–
Tâu Thiên vương, chúng tôi làm thế nào để khuyến khích
Thiên vương làm lành, không làm ác?
“Vua
Đại Thiện Kiến đáp:
“–
Các hiền muội, hãy nói với ta như thế này: ‘Tâu Thiên
vương, ngài biết không, mạng người ngắn ngũi, rồi sẽ
đi qua đời sau, nên phải tu phạm hạnh. Do đó sự sanh không
thể chấm dứt. Thiên vương nên biết, pháp ấy chắc chắn
đến, không thể ái niệm, không thể hoan hỷ, hoại diệt
tất cả, người đời gọi là ‘sự chết’. Cho nên, tâu
Thiên vương, đối với tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ
báu, nếu có ái niệm, có dục thì mong Thiên vương đoạn
trừ, xả ly tất cả, cho đến lúc mạng chung vẫn chớ niệm
tưởng. Đối với tám vạn bốn ngàn thớt voi, tám vạn bốn
ngàn con ngựa, tám vạn bốn ngàn cỗ xe, tám vạn bốn ngàn
lính bộ, tám vạn bốn ngàn tiểu vương, tâu Thiên vương,
nếu có ái niệm, có dục thì mong Thiên vương đoạn trừ,
xả ly tất cả, cho đến lúc mạng chung vẫn chớ niệm tưởng’.
Này các hiền muội, các hiền muội hãy khuyến khích ta làm
lành, chớ xúi dục ta làm ác, đúng như thế.
“Này
A-nan, tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu ấy thưa rằng:
“–
Tâu Thiên vương, chúng tôi từ nay về sau sẽ khuyến khích
Thiên vương làm lành, chớ không xúi dục Thiên vương làm
ác, như thế này: ‘Tâu Thiên vương, mạng người ngắn ngũi,
rồi sẽ đi qua đời sau. Pháp ấy chắc chắn đến, cũng không
thể ái niệm, cũng không thể hoan hỷ, hoại diệt tất cả,
người đời gọi là ‘sự chết’, cho nên, tâu Thiên vương,
đối với tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu, nếu có
niệm có dục thì mong Thiên vương hãy đoạn trừ, xả ly tất
cả, cho đến lúc mạng chung cũng không niệm tưởng’.
“Này
A-nan, vua Đại Thiện Kiến thuyết pháp cho tám vạn bốn ngàn
phu nhân và nữ báu, khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan
hỷ. Sau khi dùng vô lượng phương tiện thuyết pháp cho những
người ấy, khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ xong,
nhà vua bảo họ trở về.
“Này
A-nan, biết vua đã ra lệnh, tám vạn bốn ngàn phu nhân và
nữ báu mỗi người đều đến bái biệt nhà vua rồi trở
về.
“Này
A-nan, tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu ấy trở về chưa
bao lâu, vua Đại Thiện Kiến cùng người hầu cận trở lên
đại điện, vào lầu bằng vàng, ngồi trên ngự sàng bằng
bạc, được trải bằng các thứ nệm, chăn, đệm lông năm
sắc, được phủ lên bằng các thứ gấm, lụa, the, sa trun,
có chăn đệm lót hai đầu để gối và trải thảm quý bằng
da sơn dương. Ngồi xong, quán như thế này: ‘Ta đến đây
là cuối cùng. Niệm dục, niệm nhuế, niệm hại, đấu tranh,
ghét nhau, dua siễm, dối trá, lừa gạt, nói láo, vô lượng
các pháp ác bất thiện đến đây là cuối cùng. Tâm cùng
với từ tương ưng, biến mãn một phương, thành tựu và an
trú. Cũng như thế, hai, ba, bốn phương trên và dưới phổ
biến cùng khắp, không kết không oán, không nhuế, không tranh,
bao la rộng lớn, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn cùng khắp
thế gian, thành tựu và an trú’.
“Từ
lầu bằng vàng đi ra, nhà vua lại vào lầu bằng bạc, ngồi
trên ngự sàng bằng vàng, được trải lên bằng các chăn
nệm, đệm lông năm sắc, được trải lên bằng các thứ
gấm, the, lụa, sa trun, có chăn đệm lót hai đầu để gối
và trải thảm quý bằng da sơn dương. Ngồi xong, quán tưởng
rằng: ‘Ta đến đây là cuối cùng. Niệm dục, niệm nhuế,
niệm hại, đấu tranh, ghét nhau, dua siễm, dối trá, lừa gạt,
nói láo,... vô lượng các pháp ác bất thiện, đến đây là
cuối cùng, tâm cùng với bi tương ưng, biến mãn một phương,
thành tựu và an trú. Cũng như thế, hai, ba, bốn phương, tứ
duy, phương trên và phương dưới, phổ biến cùng khắp, không
kết không oán, không nhuế, không tranh, rộng rãi bao la vô
lượng, khéo tu tập, biến mãn cùng khắp thế gian, thành tựu
an trú’.
“Từ
lầu bằng bạc đi ra, nhà vua lại vào lầu bằng lưu ly, ngồi
trên ngự tòa bằng thủy tinh, đượïc trải bằng các thứ
chăn nệm, đệm lông năm sắc, được phủ lên bằng các thứ
gấm, the, lụa, sa trun, có chăn nệm lót hai đầu để gối
và trải thảm quý bằng da sơn dương. Ngồi xong, quán thế
này: ‘Ta đến đây là cuối cùng. Niệm dục, niệm nhuế,
niệm hại, đấu tranh, ghéùt nhau, dua siễm, dối trá, lừa
gạt, nói láo, vô lượng các pháp ác bất thiện, đến đây
là cuối cùng, tâm cùng với hỷ tương ưng, biến mãn một
phương, thành tựu và an trú. Cũng như thế, hai, ba, bốn phương,
tứ duy, phương trên và phương dưới, phổ biến cùng khắp,
không kết không oán, không nhuế, không tranh, rộng rãi bao
la vô lượng, khéo tu tập, biến mãn cùng khắp thế gian, thành
tựu và an trú’.
“Từ
lầu bằng lưu ly đi ra, nhà vua vào lầu bằng thủy tinh, ngồi
trên ngự tòa bằng lưu ly, được trải lên bằng các thứ
chăn nệm, đệm lông năm sắc, được phủ lên bằng các thứ
gấm, the, lụa, sa trun, có chăn nệm lót hai đầu để gối
và trải thảm quý bằng da sơn dương. Ngồi xong, quán thế
này: “Ta đến đây là cuối cùng. Niệm dục, niệm nhuế,
niệm hại, đấu tranh, ghét nhau, dua siễm, dối trá, lừa gạt,
nói láo,... vô lượng các pháp ác bất thiện, đến đây là
cuối cùng, tâm cùng với xả tương ưng, biến mãn một phương,
thành tựu và an trú. Cũng như thế, hai, ba, bốn phương, tứ
duy, phương trên và phương dưới, phổ biến cùng khắp, không
kết không oán, không nhuế, không tranh, rộng rãi bao la vô
lượng, khéo tu tập, biến mãn cùng khắp thế gian, thành tựu
và an trú.”
“Này
A-nan, Vua Đại Thiện Kiến vào giờ phút cuối cùng, chết
với một cảm giác đau phơn phớt.
“Cũng
giống như cư sĩ hoặc con của cư sĩ, ăn món ăn mỹ diệu,
cảm thấy một chút khó chịu.
“Này
A-nan, vua Đại Thiện Kiến vào giờ phút cuối cùng chết với
một cảm giác đau phơn phớt cũng lại như vậy.
“Này
A-nan, bấy giờ vua Đại Thiện Kiến tu bốn Phạm thất[17],
sau khi xả niệm dục, nhờ đó khi mạng chung, sanh vào cõi
Phạm thiên.
“Này
A-nan, vua Đại Thiện Kiến thuở xưa ấy ông cho là ai khác
chăng? Chớ nghĩ như vậy, nên biết rằng vị ấy chính là
Ta vậy.
“Này
A-nan, lúc bấy giờ Ta làm lợi ích cho mình, cũng làm lợi
ích cho kẻ khác, làm lợi ích cho mọi người. Ta thương xót
thế gian, mong cầu thiện lợi và hữu ích, mong cầu an ổn
và khoái lạc cho trời và người. Bấy giờ Ta thuyết pháp
không đến chỗ rốt ráo, không rốt ráo bạch tịnh, không
rốt ráo phạm hạnh. Vì không rốt ráo phạm hạnh nên khi
ấy không lìa khỏi sự sanh, tuổi già, bệnh tật, sự chết,
khóc lóc, áo não, cũng chưa thoát khỏi mọi khổ đau.
“Này
A-nan, nay Ta xuất hiện ở đời là Như Lai, Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành Tựu, Thiện Thệ, Thế Gian
Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật,
Chúng Hựu. Nay Ta đã làm lợi ích cho mình, cũng làm lợi ích
cho kẻ khác, làm lợi ích cho mọi người. Ta thương xót thế
gian, mong cầu sự thiện lợi và hữu ích, cầu sự an ổn
và khoái lạc cho trời và người. Nay Ta thuyết pháp đến
chỗ rốt ráo, rốt ráo bạch tịnh, rốt ráo phạm hạnh. Rốt
ráo phạm hạnh nên nay Ta lìa khỏi sự sanh, tuổi già, tật
bệnh, sự chết, khóc lóc, áo não. Ta nay đã thoát khỏi mọi
sự đau khổ.
“Này
A-nan, từ thành Câu-thi-la, từ rừng Sa-la của Hòa-bạt-đơn
Lực sĩ, từ sông Ni-liên-nhiên[18],
từ sông Bà-cầu[19],
từ Thiên Quang tự, từ chỗ trải chỗ nằm cho Ta hôm nay,
trong khoảng thời gian giữa đó, Ta đã bảy lần xả thân.
Trong bảy lần ấy, sáu lần làm Chuyển luân vương, nay là
lần thứ bảy thành Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh
Giác. Này A-nan, Ta không thấy ở đâu trong thế gian này, Trời
hay Ma, Phạm, Sa-môn, Phạm chí, từ trời đến người mà Ta
sẽ xả thân thêm lần nữa, vì điều đó không có thể có.
“Này
A-nan, nay đây là sự sanh cuối cùng của Ta, là sự hữu cuối
cùng, là thân cuối cùng, là bẩm hình cuối cùng. Ta nói đây
là chỗ tận cùng của khổ.
Đức
Phật thuyết như vậy, Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi
nghe Phật thuyết xong, hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Pāli: D.17. Mahā-Sudassana-suttanta. Tham chiếu, No.1(2) “Kinh Du
hành”; No.5 Phật Bát-nê-hoàn Kinh, quyển hạ, Bạch Pháp Tổ
dịch; No.6 Bát-nê-hoàn kinh, khuyết danh dịch; No.7 Đại Bát-niết-bàn
kinh, Nghĩa Tịnh dịch; No.1451 Căn Bản Thuyết Nhất Thiết
Hữu Bộ Tì-nại-da Tạp Sự quyển 37, Nghĩa Tịnh dịch.
[2]
Câu-thi thành 拘
尸 城. Pāli: Kusinārā,
thủ phủ của bộ tộc Mallā; Đức Phật nhập Niết-bàn tại
đây.
[3]
Hòa-bạt-đơn lực sĩ 惒
跋 單 力 士. Pāli: Upavattana-Mallā,
bộ tộc Mallā ở Upavattana.
[4]
Song Sa-la thọ 雙
裟 羅 樹. Pāli: yamaka-sālā,
cây Sa-la sinh đôi, mọc thành cặp; Sa-la song thọ.
[5]
Chiêm-bà (Pāli: Campā). Xá-vệ (Sāvatthi), Bệ-xá-ly (Vesali),
Vương xá (Rājagaha), Ba-la-nại (Bārānasi), Ca-duy-la-vệ (Kapilavatthu).
Bản Pāli kể hơi khác, thay Bệ-xa-ly và Ca-duy-la-vệ bằng
Sāketa và Kosambī.
[6]
Câu-thi vương thành 拘
尸 王 城. Pāli: Kūsavati.
No.1 (2) Câu-xá-bà-đề.
[7]
Đa-la thọ 多
羅 樹. Pāli: tāla,
một giống cây cọ, tên khoa học Borassus flabelliformis.
[8]
Hán: đặng蹬;
bản Tống: tranh 橙. Có
lẽ là 磴.
[9]
Hán: câu lan鉤
欄, lan can theo hình thế
nhà, cao thấp, quanh co (Từ nguyên). Pāli không đề cập chi
tiết nay, nhưng từ Pāli tương đương là vedikā: lan can, lan
thuẫn hay câu lan.
[10]
Các loại hoa: hoa Tu-ma-na修
摩 那 (Pāli: sumanā, thiện
ý), loại hoa lài cánh lớn; hoa Bà-sư婆
師 (vassikā: hạ
sinh hoa), một loại hoa lài rất thơm (Jasminum Sambac); hoa Chiêm-bặc瞻
蔔 (campaka: tố
hinh hoa), hoa Chăm-pa, rất thơm, có màu trắng và vàng; hoa Tu-kiện-đề修
捷 提 (sogandhika:
hảo hương), thụy liên trắng, súng trắng; hoa Ma-đầu-kiện-đề摩
頭 捷 提 (madhu-gandhika:
mật hương); hoa A-đề-mâu-đa 阿
提 牟 哆 (adhimuttaka: tăng
thượng tín), hoa Ba-la-đầu 波
羅 頭.
[11]
Hán: bạc lạc cổ 薄
洛 鼓, không rõ
loại trống gì.
[12]
Hán: kỹ cổ 伎
鼓.
[13]
Đại Thiện Kiến大
善 見. Pāli: Mahāsudassana.
[14]
Kiềm-bà-la bảo 鉗
婆 羅 寶, vải
lông, áo lông.
[15]
Tác dĩ bất tác 作
以 不 作. Những
người thợ (làm và không làm)?
[16]
Đa-la viên 多
羅 園. Pāli: Tālavana.
[17]
Bốn phạm thất 梵
室 hay phạm trụ 梵
住. Pāli: cattāri
brahmavihārā. Cũng thường nói là bốn Vô lượng tâm. Pāli:
catasso appamaññāyo.
[18]
Ni-liên-nhiên 尼
連 然, Pāli: Nerañjarā,
con sông gần chỗ Phật thành đạo. Đây chính xác phải là
Hiraññāvati, âm là Hê (hay hi) -liên-thiền醯
(希
hay 煕) 連
禪, con sông gần
chỗ Phật nhập Niết-bàn.
[19]
Bà-cầu 婆
求. Pāli: Kakutthā,
con sông gần Kusinārā. Đức Phật tắm tại đây trước khi
đến Kusinārā để nhập Niết-bàn.