67.
KINH ĐẠI THIÊN NẠI LÂM[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Bệ-đà-đề cùng với
chúng đại Tỳ-kheo, đi đến Di-tát-la, trú trong rừng xoài
của Đại Thiên[2].
Bấy
giờ đang giữa đường đi, Đức Thế Tôn mỉm cười rạng
rỡ. Tôn giả A-nan thấy Đức Thế Tôn mỉm cười liền chắp
tay hướng về Phật, thưa rằng:
“Bạch
Thế Tôn, vì nhân duyên gì mà Ngài mỉm cười? Các Đức Như
Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, nếu không có nhân duyên
gì thì không bao giờ mỉm cười. Mong Ngài nói cho con được
biết ý đó.”
Đức
Thế Tôn bảo:
“Này
A-nan, thuở xưa, trong rừng xoài, thuộc xứ Di-tát-la này, ở
đây có nhà vua tên là Đại Thiên[3],
là vị Chuyển luân vương, thông minh trí tuệ, có bốn loại
quân chỉnh trị thiên hạ, tự do tự tại, là vị Pháp vương
như pháp, thành tựu bảy báu, được bốn đức như ý của
loài người.
“Này
A-nan, vua Đại Thiên ấy thành tựu bảy báu là những gì?
Đó là, bánh xe báu, voi báu, ngọc báu, nữ báu, ngựa báu,
cư sĩ báu, tướng quân báu. Đó là bảy báu.
“Này
A-nan, vua Đại Thiên thành tựu bánh xe báu là như thế nào?
“Này
A-nan! Bấy giờ vào ngày rằm, là lúc thuyết Tùng giải thoát[4],
sau khi tắm gội, vua Đại Thiên ngự trên chánh điện. Từ
phương Đông có thiên luân bảo[5]
hiện đến. Thiên luân có đủ một ngàn căm và đầy đủ
tất cả bộ phận, thanh tịnh tự nhiên, chẳng phải do người
tạo ra, màu sắc như ánh lửa, chói lọi sáng ngời. Vua Đại
Thiên trông thấy liền hoan hỷ, nghĩ thầm: ‘Luân bảo cao
quý[6]
đã xuất hiện, luân bảo vi diệu đã xuất hiện. Ta cũng
từng nghe người xưa bảo rằng: Vào ngày rằm, sau khi đã
tắm gội và ngự trên chánh điện, lúc vua Đảnh Sanh Sát-lợi[7]
thuyết Tùng giải thoát thì có thiên luân bảo từ phương
Đông hiện đến. Thiên luân có đủ tất cả một ngàn căm
và đầy đủ tất cả bộ phận, thanh tịnh tự nhiên chứ
không do người tạo ra, màu sắc như ánh lửa, chói lọi sáng
ngời. Vì vậy tất sẽ là Chuyển luân vương. Ta há không
là Chuyển luân vương sao?’
“Này
A-nan, thuở xưa, vua Đại Thiên muốn đích thân thí nghiệm
Thiên bảo luân. Bấy giờ vua cho tụ tập bốn loại quân là
quân voi, quân ngựa, quân xe và quân bộ. Sau khi cho tụ tập
bốn loại quân xong, nhà vua đi đến chỗ thiên luân bảo,
dùng tay trái vỗ về, dùng tay phải lăn thiên luân mà nói
rằng: ‘Hãy theo thiên luân bảo; hãy theo đến nơi nào thiên
luân bảo lăn đến’.
“Này
A-nan, thiên luân bảo ấy khi đã chuyển động liền lăn về
hướng Đông. Lúc đó vua Đại Thiên và bốn loại quân cũng
đi theo sau. Nếu thiên luân bảo ngừng lại chỗ nào thì vua
Đại Thiên và bốn loại quân dừng lại chỗ ấy.
“Bấy
giờ, các tiểu quốc vương ở phương Đông đều đi đến
chỗ vua Đại Thiên, tâu rằng:
“–
Kính chào Thiên vương. Tâu Thiên vương, các nước này rất
giàu có và an lạc, nhân dân đông đúc, đều hoàn toàn thuộc
về Thiên vương. Mong Thiên vương đem pháp giáo hóa. Chúng
tôi sẽ phụ tá Thiên vương.
“Bấy
giờ, vua Đại Thiên bảo các tiểu vương:
“–
Các khanh, mỗi vị hãy tự quản lãnh lấy lãnh thổ của mình.
Hãy áp dụng pháp, chớ áp dụng phi pháp. Đừng để trong
nước mình có những người tạo ác nghiệp và phi phạm hạnh.
“Này
A-nan, thiên luân bảo ấy qua khỏi phương Đông, vượt qua
biển lớn ở phương Đông, quay về phương Nam, phương Tây
và phương Bắc.
“Này
A-nan, lúc thiên luân bảo lăn chuyển xung quanh cùng khắp thì
vua Đại Thiên cùng bốn loại quân cũng đều đi theo sau. Nếu
thiên luân bảo ngừng lại chỗ nào thì vua Đại Thiên và
bốn loại quân đóng lại ở chỗ ấy.
“Bấy
giờ, các tiểu quốc vương ở phương Bắc đều đi đến
chỗ vua Đại Thiên, tâu rằng:
“–
Kính chào Thiên vương. Tâu Thiên vương, các nước này rất
giàu có và an lạc, nhân dân đông đúc, đều hoàn toàn thuộc
về Thiên vương. Mong Thiên vương đem pháp giáo hóa. Chúng
tôi sẽ phụ tá Thiên vương.
“Bấy
giờ, vua Đại Thiên bảo các tiểu vương:
“–
Các khanh, mỗi vị hãy tự quản lãnh lấy lãnh thổ của mình.
Hãy áp dụng pháp, chớ áp dụng phi pháp. Đừng để trong
nước mình có những người tạo ác nghiệp và phi phạm hạnh.
“Này
A-nan, thiên luân bảo ấy qua phương Bắc, vượt qua biển lớn
phương Bắc rồi trở lại bản thành của vua. Lúc vua Đại
Thiên ngự trên chánh điện đoán lý tài vật[8]
thì Thiên luân bảo ngừng giữa hư không. Đó là vua Đại
Thiên thành tựu Thiên luân báu như thế.
“Này
A-nan, Vua Đại Thiên thành tựu voi báu như thế nào?
“Này
A-nan, bấy giờ, vua Đại Thiên có voi báu sanh ra. Voi ấy trắng
toát, có bảy chi, tên là Vu-sa-hạ[9].
Sau khi trông thấy, vua Đại Thiên hoan hỷ, phấn khởi, nghĩ
rằng: ‘Nếu được huấn luyện thì nó hết sức khôn’.
“Này
A-nan, sau đó vua Đại Thiên bảo tượng sư rằng: ‘Ngươi
hãy mau huấn luyện con voi này cho hết sức thuần thiện. Nếu
voi đã thuần thì đến cho ta hay’. Bấy giờ tượng sư vâng
lệnh vua, đến chỗ voi báu, nhanh chóng huấn luyện, khiến
nó trở nên hết sức thuần thiện. Khi voi báu được chế
ngự và huấn luyện rất kỹ, nó nhanh chóng trở nên thuần
thiện. Cũng như thuở xưa voi tốt sống vô lượng trăm ngàn
năm, đã trải qua vô lượng trăm ngàn năm được chế ngự
và huấn luyện rất kỹ, nhanh chóng trở nên thuần thiện.
Voi báu này cũng giống như vậy, được chế ngự và huấn
luyện rất kỹ, nó nhanh chóng trở nên thuần thiện.
“Này
A-nan, bấy giờ tượng sư nhanh chóng huấn luyện voi báu, khiến
nó trở nên thuần thiện. Sau khi voi báu đã được huấn luyện,
tượng sư liền đến chỗ nhà vua tâu rằng: ‘Tâu Thiên vương,
mong Thiên vương biết cho, tôi đã chế ngự và huấn luyện;
voi báu đã thuần, nay tùy theo ý của Thiên vương’.
“Này
A-nan, thuở ấy, khi vua Đại Thiên thí nghiệm voi báu, vào
buổi sáng mai mặt trời mọc, liền đến chỗ voi, cỡi voi
báu ấy và đi cùng khắp cả cõi đất cho đến đại hải,
rồi nhanh chóng trở lại bản thành của vua. Đó là vua Đại
Thiên thành tựu voi trắng báu như thế.
“Này
A-nan, vua Đại Thiên thành tựu ngựa báu như thế nào?
“Này
A-nan, bấy giờ, vua Đại Thiên có ngựa báu sanh ra. Ngựa báu
ấy có sắc xanh mướt, đầu đen như quạ. Vì ngựa được
trang nghiêm bằng bộ lông nên gọi là Mao mã vương[10].
Sau khi trông thấy, vua Đại Thiên hoan hỷ, phấn khởi, nghĩ
rằng: ‘Nếu được huấn luyện thì nó hết sức khôn’.
“Này
A-nan, sau đó vua Đại Thiên bảo mã sư rằng: ‘Ngươi hãy
mau huấn luyện con ngựa này cho hết sức thuần thiện. Nếu
ngựa đã thuần thì đến cho ta hay’. Bấy giờ mã sư vâng
lệnh vua, đến chỗ ngựa báu, nhanh chóng huấn luyện, khiến
nó trở nên hết sức thuần thiện. Khi ngựa báu được chế
ngự và huấn luyện rất kỹ, nó nhanh chóng trở nên thuần
thiện. Cũng như thuở xưa ngựa tốt sống vô lượng trăm
ngàn năm, đã trải qua vô lượng trăm ngàn năm được chế
ngự và huấn luyện rất kỹ, nhanh chóng trở nên thuần thiện.
Ngựa báu này cũng giống như vậy, được chế ngự và huấn
luyện rất kỹ, nó nhanh chóng trở nên thuần thiện.
“Này
A-nan, bấy giờ mã sư nhanh chóng huấn luyện ngựa báu, khiến
nó trở nên thuần thiện. Sau khi ngựa báu đã được huấn
luyện, mã sư liền đến chỗ nhà vua tâu rằng: ‘Tâu Thiên
vương, mong Thiên vương biết cho, tôi đã chế ngự và huấn
luyện; ngựa báu đã thuần, nay tùy theo ý của Thiên vương’.
“Này
A-nan, thuở ấy, khi vua Đại Thiên thí nghiệm ngựa báu, vào
buổi sáng mai mặt trời mọc, liền đến chỗ ngựa, cỡi
ngựa báu ấy và đi cùng khắp cả cõi đất cho đến đại
hải, rồi nhanh chóng trở lại bản thành của vua. Đó là
vua Đại Thiên thành tựu ngựa báu sắc xanh như thế.
“Này
A-nan, Vua Đại Thiên thành tựu ngọc báu như thế nào?
“Này
A-nan, bấy giờ, vua Đại Thiên có châu báu sanh ra. Hạt châu
ấy trong suốt tự nhiên, không do ai tạo, tám cạnh không bẩn,
được mài dũa cực đẹp, được xâu qua bằng sợi dây ngũ
sắc: xanh, vàng, đỏ, trắng, đen.
“Này
A-nan, lúc vua Đại Thiên ở trong cung điện, muốn có ánh sáng
của đèn, tức thì sử dụng hạt minh châu.
“Này
A-nan, thuở xưa, khi vua Đại Thiên muốn thử châu báu, bèn
cho tụ tập bốn loại quân lại là quân voi, quân ngựa, quân
xe và quân bộ. Sau khi tụ tập bốn loại quân xong, vào lúc
đêm tối, vua cho dựng một cây phướn cao, cho đặt hạt châu
trên ấy, rồi đến công viên để nhìn. Ánh sáng của ngọc
chiếu khắp bốn loại quân, soi đến nửa do-diên. Đó là
vua Đại Thiên thành tựu ngọc báu là như thế.
“Này
A-nan, vua Đại Thiên thành tựu nữ báu là như thế nào?
“Này
A-nan, bấy giờ, vua Đại Thiên có nữ báu sanh ra. Nữ báu
ấy có thân thể trong trắng, tinh khiết, nõn nà, sắc đẹp
hơn người, không nhường thiên nữ, tư dung đoan chánh, ai
nhìn cũng thấy khoan khoái; miệng tỏa mùi hương hoa sen xanh
thơm phức; từ các lỗ chân lông trên người toát mùi hương
chiên-đàn. Về mùa đông thì thân ấm áp, về mùa hè thì
thân mát mẻ. Nữ báu ấy hết lòng hầu hạ nhà vua, nói năng
hòa nhã, làm việc nhanh chóng, thông minh trí tuệ, hoan hỷ
thích làm việc lành; luôn nghĩ đến nhà vua, tâm thường không
rời, huống nữa thân và miệng. Đó là vua Đại Thiên thành
tựu nữ báu vậy.
“Này
A-nan, vua Đại Thiên thành tựu cư sĩ báu là như thế nào?
“Này
A-nan, bấy giờ, vua Đại Thiên có cư sĩ báu sanh ra. Cư sĩ
báu ấy giàu có cùng tột, của cải vô lượng, có nhiều
súc vật chăn nuôi; phòng hộ, thực ấp đầy đủ mọi thứ;
có phước báo nên được thiên nhãn, thấy các kho báu, đầy
hay trống đều thấy rõ; thấy có người thủ hộ hay không
có người thủ hộ. Mỏ vàng, mỏ bạc, mỏ quặng hay không
phải quặng[11];
đều thấy rõ cả.
“Này
A-nan, cư sĩ báu ấy đến trước vua Đại Thiên tâu rằng:
‘Tâu Thiên vương, nếu Thiên vương muốn được vàng, và
tiền bạc, thì Thiên vương chớ có lo buồn, vì hạ thần
tự biết đúng thời’.
“Này
A-nan, thuở xưa, khi vua Đại Thiên muốn thí nghiệm cư sĩ
báu, vua chèo thuyền ra giữa sông Hằng, bảo rằng:
“–
Này cư sĩ, ta muốn được vàng, và tiền bạc.
“Cư
sĩ tâu:
“–
Tâu Thiên vương, hãy cho thuyền cập bến.
“Khi
ấy, vua Đại Thiên bảo:
“–
Này cư sĩ, ta muốn được ở chính giữa sông này.
“Cư
sĩ tâu rằng:
“–
Tâu Thiên vương, hãy cho thuyền ngừng lại.
“Này
A-nan, bấy giờ cư sĩ báu đến trước mũi thuyền, thọc tay
vào trong nước, lấy lên bốn kho tàng, là mỏ vàng, mỏ bạc,
mỏ quặng hay không phải quặng, tâu rằng:
“–
Tâu Thiên vương, xin tùy ý muốn, Thiên vương tha hồ sử dụng,
còn bao nhiêu thì trả lại dưới sông.
“Đó
là vua Đại Thiên thành tựu cư sĩ báu.
“Này
A-nan, vua Đại Thiên thành tựu tướng quân báu là như thế
nào?
“Này
A-nan, bấy giờ, vua Đại Thiên có tướng quân báu. Tướng
quân ấy thông minh, trí tuệ, biện tài, nói hay, hiểu rộng.
Tướng quân báu sẽ thay vua Đại Thiên thực hiện những mục
đích đời này, khuyến cáo và an lập; thực hiện mục đích
cho đời sau, khuyến cáo và an lập; thực hiện mục đích
đời này, mục đích đời sau, khuyến cáo và an lập. Tướng
quân báu sẽ vì vua Đại Thiên, nếu muốn tập hợp các quân
là tập hợp được; nếu muốn giải tán là giải tán ngay;
muốn cho binh lính thuộc bốn loại quân không mệt mỏi và
khuyến khích giúp đỡ. Đối với các cận thần khác cũng
vậy. Đó là vua Đại Thiên thành tựu tướng quân báu.
“Này
A-nan, đó là vua Đại Thiên thành tựu bảy báu.
“Này
A-nan, vua Đại Thiên thành tựu bốn như ý túc[12]
là như thế nào?
“Này
A-nan, vua Đại Thiên ấy sống thật lâu, đến tám vạn bốn
ngàn năm; thời con nít vui đùa đến tám vạn bốn ngàn năm;
làm Tiểu quốc vương đến tám vạn bốn ngàn năm; làm Đại
quốc vương đến tám vạn bốn ngàn năm; rồi cạo bỏ râu
tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình sống không gia
đình, xuất gia học đạo, học Tiên nhân vương[13],
tu hành phạm hạnh tại Di-tát-la này, trú trong rừng xoài Đại
Thiên. Này A-nan, nếu vua Đại Thiên sống thật lâu, đến
tám vạn bốn ngàn năm; thời con nít vui đùa đến tám vạn
bốn ngàn năm; làm Tiểu quốc vương đến tám vạn bốn ngàn
năm; làm Đại quốc vương đến tám vạn bốn ngàn năm; rồi
cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình
sống không gia đình, xuất gia học đạo, học Tiên nhân vương,
tu hành phạm hạnh tại Di-tát-la này, trú trong rừng xoài Đại
Thiên, thì chính đó là đức như ý túc thứ nhất của vua
Đại Thiên.
“Lại
nữa, A-nan, vua Đại Thiên không có bệnh tật, thành tựu sự
điều hòa của thực đạo[14],
không lạnh, không nóng, an ổn, không bị bức rức. Do đó,
đồ ăn thức uống được tiêu hóa dễ dàng. Này A-nan, vua
Đại Thiên không có bệnh tật, thành tựu sự điều hòa của
thực đạo, không lạnh, không nóng, an ổn, không bức rức;
do đó đồ ăn thức uống tiêu hóa dễ dàng, thì chính đó
là đức như ý túc thứ hai của vua Đại Thiên.
“Lại
nữa, A-nan, vua Đại Thiên thân thể trắng trẻo, sạch sẽ,
trong sáng, sắc đẹp hơn người, không kém gì thiên thần,
đoan chánh, đẹp đẽ, ai nhìn cũng thấy khoan khoái. Này A-nan,
nếu vua Đại Thiên thân thể trắng trẻo, sạch sẽ, trong
sáng, sắc đẹp hơn người, không kém gì thiên thần, đoan
chánh, đẹp đẽ, ai nhìn cũng thấy khoan khoái, thì chính đó
chính là đức như ý túc thứ ba của vua Đại Thiên.
“Lại
nữa, A-nan, vua Đại Thiên thường ái niệm các Phạm chí,
Cư sĩ, như cha nghĩ đến con. Phạm chí, cư sĩ lại cũng kính
trọng vua Đại Thiên như con kính cha. Này A-nan, thuở xưa,
vua Đại Thiên ở trong công viên, bảo người đánh xe rằng:
‘Hãy đánh xe đi chầm chậm. Ta muốn nhìn kỹ các Phạm chí,
cư sĩ’. Phạm chí, cư sĩ cũng bảo người đánh xe: ‘Hãy
đánh xe đi chầm chậm. Chúng tôi muốn nhìn kỹ đức vua Đại
Thiên’. Này A-nan, nếu vua Đại Thiên thường ái niệm các
Phạm chí, cư sĩ như cha nghĩ đến con; còn các Phạm chí,
cư sĩ lại kính trọng vua Đại Thiên như con kính cha thì chính
đó là đức như ý túc thứ tư của vua Đại Thiên.
“Này
A-nan, đó là vua Đại Thiên được bốn đức như ý túc.
“Này
A-nan, một thời gian sau, vua Đại Thiên bảo thợ hớt tóc
rằng:
“–
Nếu ngươi thấy đầu ta mọc tóc bạc thì cho ta hay.
“Bấy
giờ thợ hớt tóc vâng lời vua bảo. Một thời gian sau đó,
gội đầu cho vua, thấy mọc tóc bạc, liền tâu:
“–
Tâu Thiên vương, mong Thiên vương biết cho, Thiên sứ đã đến[15];
đầu mọc tóc bạc.
“Vua
Đại Thiên lại bảo thợ hớt tóc:
“–
Ngươi hãy lấy nhíp bằng vàng, từ từ nhỗ tóc bạc bỏ
vào bàn tay ta.
“Lúc
ấy, thợ hớt tóc vâng lệnh vua bảo, liền lấy cái nhíp
bằng vàng, từ từ nhổ tóc bạc bỏ vào bàn tay vua.
“Này
A-nan, vua Đại Thiên tay bưng tóc bạc, nói bài tụng:
Đầu
ta mọc tóc bạc;
Thọ
mạng đến hồi suy.
Thiên
sứ đã đến rồi,
Nay
lúc ta học đạo.
“Này
A-nan, sau khi thấy tóc bạc, vua Đại Thiên bảo Thái tử:
“–
Này Thái tử, hãy biết rằng Thiên sứ đã đến, đầu mọc
tóc bạc. Này Thái tử, ta đã hưởng lạïc dục thế gian,
nay lại muốn cầu dục lạc thiên thượng. Này Thái tử, nay
ta muốn cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia
đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo. Này Thái tử,
nay ta muốn đem bốn châu thiên hạ này phó thác cho con. Con
hãy trị vì, giáo hóa đúng như pháp, chớ dùng phi pháp; không
để cho trong nước có những người tạo ác nghiệp, phi phạm
hạnh. Này Thái tử, về sau nếu con thấy Thiên sứ đến,
đầu mọc tóc bạc, thì con nên đem việc quốc chính của
nước này trao lại cho Thái tử của con, khéo dạy bảo nó
và trao đất nước lại cho nó, rồi con cũng nên cạo bỏ
râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không
gia đình, xuất gia học đạo. Này Thái tử, nay ta chuyển giao
pháp kế thừa[16]
này cho con. Con cũng phải chuyển giao lại pháp kế thừa này,
chớ để cho nhân dân trở thành cực biên[17].
Này Thái tử, tại sao nay ta chuyển trao pháp kế thừa này
cho con, bảo con cũng phải chuyển trao pháp kế thừa này, chớ
để cho nhân dân trở thành cực biên địa. Này Thái tử,
nếu trong nước này sự truyền trao bị dứt tuyệt, không
được tiếp nối, thì đó là nhân dân trở thành cực biên.
Vì thế cho nên, này Thái tử, nay ta chuyển trao cho con. Này
Thái tử, ta đã chuyển trao pháp kế thừa này cho con thì con
phải chuyển trao pháp kế thừa ấy lại, chớ để cho nhân
dân trở thành cựïc biên.
“Này
A-nan, vua Đại Thiên ấy đem việc quốc chánh của nước này
phó thác cho Thái tử. Sau khi dạy bảo cặn kẽ xong liền cạo
bỏ râu tóc, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình,
xuất gia học đạo, học Tiên nhân vương, tu hành phạm hạnh
tại Di-tát-ta này, trú trong rừng xoài Đại thiên.
“Thái
tử cũng là Chuyển luân vương thành tựu bảy báu, được
phước đức có bốn đức như ý của loài người như vua
cha; như bảy báu và bốn đức như ý của loài người đã
được nói trên.
“Này
A-nan, vị Chuyển luân vương ấy về sau cũng bảo thợ hớt
tóc rằng:
“–
Nếu ngươi thấy đầu ta mọc tóc bạc thì cho ta hay.
“Bấy
giờ thợ hớt tóc vâng lời vua bảo. Một thời gian sau đó,
gội đầu cho vua, thấy mọc tóc bạc, liền tâu:
“–
Tâu Thiên vương, mong Thiên vương biết cho, Thiên sứ đã đến;
đầu mọc tóc bạc.
“Vị
Chuyển luân vương kia lại bảo thợ hớt tóc:
“–
Ngươi hãy lấy nhíp bằng vàng, từ từ nhỗ tóc bạc bỏ
vào bàn tay ta.
“Lúc
ấy, thợ hớt tóc vâng lệnh vua bảo, liền lấy cái nhíp
bằng vàng, từ từ nhổ tóc bạc bỏ vào bàn tay vua.
“Này
A-nan, Chuyển luân vương kia tay bưng tóc bạc, nói bài tụng:
“Đầu
ta mọc tóc bạc;
Thọ
mạng đến hồi suy.
Thiên
sứ đã đến rồi,
Nay
lúc ta học đạo.
“Này
A-nan, sau khi thấy tóc bạc, Chuyển luân vương kia bảo Thái
tử:
“–
Này Thái tử, hãy biết rằng Thiên sứ đã đến, đầu mọc
tóc bạc. Này Thái tử, ta đã hưởng lạïc dục thế gian,
nay lại muốn cầu dục lạc thiên thượng. Này Thái tử, nay
ta muốn cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia
đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo. Này Thái tử,
nay ta muốn đem bốn châu thiên hạ này phó thác cho con. Con
hãy trị vì, giáo hóa đúng như pháp, chớ dùng phi pháp; không
để cho trong nước có những người tạo ác nghiệp, phi phạm
hạnh. Này Thái tử, về sau nếu con thấy Thiên sứ đến,
đầu mọc tóc bạc, thì con nên đem việc quốc chính của
nước này trao lại cho Thái tử của con, khéo dạy bảo nó
và trao đất nước lại cho nó, rồi con cũng nên cạo bỏ
râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không
gia đình, xuất gia học đạo. Này Thái tử, nay ta chuyển giao
pháp kế thừa này cho con. Con cũng phải chuyển giao lại pháp
kế thừa này, chớ để cho nhân dân trở thành cực biên.
Này Thái tử, tại sao nay ta chuyển trao pháp kế thừa này
cho con, bảo con cũng phải chuyển trao pháp kế thừa này, chớ
để cho nhân dân trở thành cực biên địa? Này Thái tử,
nếu trong nước này sự truyền trao bị dứt tuyệt, không
được tiếp nối, thì đó là nhân dân trở thành cực biên.
Vì thế cho nên, này Thái tử, nay ta chuyển trao cho con. Này
Thái tử, ta đã chuyển trao pháp kế thừa này cho con thì con
phải chuyển trao pháp kế thừa ấy lại, chớ để cho nhân
dân trở thành cựïc biên.
“Này
A-nan, Chuyển luân vương kia đem việc quốc chánh của nước
này phó thác cho Thái tử. Sau khi dạy bảo cặn kẽ xong liền
cạo bỏ râu tóc, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia
đình, xuất gia học đạo, học Tiên nhân vương, tu hành phạm
hạnh tại Di-tát-ta này, trú trong rừng xoài Đại Thiên.
“Này
A-nan, đó là từ con đến con, từ cháu đến cháu, từ dòng
họ đến dòng họ, từ kiến đến kiến[18],
lần lượt đến tám vạn bốn ngàn vị Chuyển luân vương,
cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình,
sống không gia đình, xuất gia học đạo, học Tiên nhân vương,
tu hành phạm hạnh tại Di-tát-la này, trú trong rừng xoài Đại
Thiên.
“Vị
vua sau cùng tên là Ni-di[19],
là một Pháp vương như pháp, thực hành pháp đúng như pháp;
là vị vua vì thái tử, hậu phi, thể nữ và các thần dân,
Sa-môn, Phạm chí cho đến côn trùng mà phụng trì trai giới
vào những ngày mồng tám, mười bốn, mười lăm; tu hạnh
bố thí, cho những kẻ nghèo khổ, Sa-môn, Phạm chí, cho đến
những người cô độc từ các phương xa đến xin, đem đồ
ăn thức uống, áo chăn, xe cộ, tràng hoa, bột hoa, bột hương,
nhà cửa, giường nệm, đệm lông, khăn quấn, cung cấp đèn
dầu...
“Bấy
giờ chư Thiên ở cõi trời Tam thập tam thiên tụ tập ngồi
tại Thiện pháp giảng đường[20]
hết lời xưng tán vua Ni-di như thế này: ‘Chư Hiền, người
xứ Bẹâ-đà-đề có đại thiện lợi, có đại công đức.
Vì sao? – Vì vua cuối cùng của họ là Ni-di, một Pháp vương
như pháp, thực hành pháp đúng như pháp, là người đã vì
thái tử, hậu phi, thể nữ và các thần dân, Sa-môn, Phạm
chí cho đến côn trùng mà phụng trì trai giới vào những ngày
mồng tám, mười bốn, mười lăm; tu hạnh bố thí, cho những
người nghèo khổ, Sa-môn, Phạm chí, cho những người cô độc
từ các phương xa đến xin, đem các đồ ăn thức uống, áo
chăn, xe cộ, tràng hoa, bột hoa, bột hương, nhà cửa, giường
nệm, đệm lông, cung cấp khăn quấn và đèn dầu...’
“Bấy
giờ trời Thiên Đế-thích cũng có trong chúng, bảo chư Thiên
Tam thập tam thiên rằng:
“–
Chư Hiền, các vị có muốn thấy vua Ni-di ngay tại nơi này
không?
“Chư
Thiên Tam thập tam thiên đáp:
“–
Thưa Câu-dực[21],
chúng tôi muốn được đến ngay nơi ấy để yết kiến vua
Ni-di.
“Bấy
giờ, trong khoảnh khắc, như lực sĩ co duỗi cánh tay, Đế-thích
ở cõi Tam thập tam thiên bỗng nhiên biến mất không thấy
và hiện ra ở cung điện vua Ni-di.
“Lúc
ấy, vua Ni-di thấy Thiên Đế-thích, liền hỏi:
“–
Ông là ai?
“Thiên
Đế-thích đáp:
“–
Đại vương có nghe đến Thiên Đế-thích không?
“Đáp:
“–
Nghe nói có Đế-thích.
“–
Đó chính là tôi vậy. Đại vương có đại thiện lợi, có
đại công đức. Vì sao? – Vì chư Thiên ở cõi Tam thập tam
thiên tụ tập tại Thiện pháp giảng đường, hết lời xưng
tán Đại vương thế này: ‘Chư Hiền, người xứ Bệâ-đà-đề
có đại thiện lợi, có đại công đức. Vì sao? – Vì vua
cuối cùng của họ là Ni-di, một Pháp vương như pháp, thực
hành pháp đúng như pháp, là người đã vì thái tử, hậu
phi, thể nữ và các thần dân, Sa-môn, Phạm chí cho đến côn
trùng mà phụng trì trai giới vào những ngày mồng tám, mười
bốn, mười lăm; tu hạnh bố thí, cho những người nghèo khổ,
Sa-môn, Phạm chí, cho những người cô độc từ các phương
xa đến xin, đem các đồ ăn thức uống, áo chăn, xe cộ, tràng
hoa, bột hoa, bột hương, nhà cửa, giường nệm, đệm lông,
cung cấp khăn quấn và đèn dầu...’ Đại vương có muốn
thấy Tam thập tam thiên không?
“Vua
đáp:
“–
Muốn thấy.
“Đế-thích
lại bảo vua Ni-di:
“–
Tôi trở về cõi trời, sẽ ra lệnh trang nghiêm xa giá với
một ngàn voi kéo đến. Đại vương cỡi xe dạo chơi, lên
du lãm cõi trời.
“Bấy
giờ, vua Ni-di im lặng nhận lời. Đế-thích biết vua Ni-di
đã nhận lời; trong khoảnh khắc, như thời gian lực sĩ co
duỗi cánh tay, biến mất khỏi cung điện vua Ni-di mà trở
về cõi Tam thập tam thiên.
“Sau
khi trở về, Đế-thích bảo người đánh xe:
“–
Ngươi hãy nhanh chóng trang nghiêm giá với một ngàn voi kéo,
đến đón vua Ni-di. Sau khi đến nơi, hãy tâu vua rằng: ‘Đại
vương, nên biết, Đế-thích sai đánh cỗ xe có nghìn voi kéo
này đến đón Đại vương. Đại vương hãy cỡi xe này dạo
chơi, lên du lãm cõi trời’. Sau khi vua đã lên xe, lại hỏi
vua rằng: ‘Đại vương muốn tôi đánh xe đi đường nào?
Đi theo đường ác thọ ác báo? Hay diệu thọ diệu báo?’
“Người
đánh xe vâng lệnh Đế-thích, tức thì trang nghiêm cỗ xe nghìn
voi, đi đến vua Ni-di. Đến nơi, tâu vua rằng:
“–
Đại vương, nên biết, Đế-thích sai đánh cỗ xe có nghìn
voi kéo này đến đón Đại vương. Đại vương hãy cỡi xe
này dạo chơi, lên du lãm cõi trời.
“Sau
khi vua Ni-di đã lên xe, người đánh xe lại hỏi rằng:
“–
Đại vương muốn tôi đánh xe đi đường nào? Đi theo đường
ác thọ ác báo? Hay diệu thọ diệu báo?’
“Bấy
giờ vua Ni-di bảo người đánh xe rằng:
“–
Hãy đưa tôi đi giữa hai đường ác thọ ác báo và diệu
thọ diệu báo.
“Người
đánh xe liền đưa vua đi giữa hai đường ấy, giữa ác thọ
ác báo và diệu thọ diệu báo. Từ xa, chư Thiên Tam thập
tam thiên trông thấy vua Ni-di đi đến, sau khi trông thấy liền
chúc lành rằng:
“–
Kính chào Đại vương! Kính chào Đại vương! Đại vương
có thể cùng sống chung hưởng lạc với Tam thập tam thiên
chúng tôi.
“Lúc
ấy, vua Ni-di nói bài tụng cho chư Thiên Tam thập tam thiên:
Giống
như kẻ cỡi nhờ,
Nhất
thời tạm mượn xe;
Nơi
đây cũng như vậy.
Vì
là của kẻ khác.
Tôi
về Di-tát-la,
Sẽ
làm vô lượng thiện.
Nhân
đó sanh cõi trời,
Tạo
phước làm tư lương.
“Này
A-nan, vua Đại Thiên thuở xưa ấy ông cho là ai khác chăng?
Chớ nghĩ như vậy. Nên biết vị ấy chính là Ta.
“Này
A-nan, thuở xưa, Ta từ đời con đến đời con, từ đời cháu
đến đời cháu, từ dòng họ đến dòng họ, lần lượt có
đến tám vạn bốn ngàn Chuyển luân vương, từng cạo bỏ
râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, từ bỏ gia đình, sống không
gia đình, xuất gia học đạo, học Tiên nhân vương, tu hành
phạm hạnh, tại Di-tát-la này trú trong rừng xoài Đại Thiên.
Bấy giờ Ta tự làm lợi ích cho mình, cũng làm lợi ích cho
kẻ khác, làm lợi ích cho mọi người. Ta thương xót thế
gian, vì trời và vì người mà cầu nghĩa, lợi ích và an ổn
khoái lạc. Khi ấy, Ta thuyết pháp không đến chỗ rốt ráo,
không rốt ráo bạch tịnh, không rốt ráo phạm hạnh. Vì không
rốt ráo phạm hạnh, lúc ấy Ta không thoát ly khỏi sự sanh,
tuổi già, bệnh tật, sự chết, khóc than, áo não; cũng chưa
thể thoát ra ngoài mọi khổ đau.
“Này
A-nan, nay Ta xuất hiện ở đời, là Như Lai, Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành[22],
Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự,
Thiên Nhân Sư, gọi là Phật[23],
Chúng Hựu. Nay Ta làm lợi ích cho mình, cũng làm lợi ích cho
người khác, làm lợi ích cho mọi người. Ta thương xót thế
gian, vì trời và người mà cầu nghĩa và lợi ích, cầu an
ổn khoái lạc. Nay Ta thuyết pháp đã đến chỗ rốt ráo bạch
tịnh, rốt ráo phạm hạnh. Vì đã rốt ráo phạm hạnh, nay
Ta lìa khỏi sự sanh, tuổi già, bệnh tật, sự chết, khóc
than, áo não. Nay Ta đã thoát mọi khổ đau.
“Này
A-nan, nay Ta chuyển trao pháp kế thừa này cho ông, ông cũng
phải chuyển trao pháp kế thừa này lại, chớ để cho Phật
pháp dứt đoạn.
“Này
A-nan, thế nào là pháp kế thừa mà nay Ta chuyển trao cho ông
và bảo ông cũng phải chuyển trao lại pháp kế thừa ấy,
chớ để cho Phật pháp dứt đoạn? Đó chính là Thánh đạo
tám chi, từ chánh kiến cho đến chánh định là tám. Này A-nan,
đó chính là pháp kế thừa mà nay Ta đã chuyển trao cho ông,
và ông cũng phải chuyển trao lại pháp kế thừa ấy, chớ
để cho Phật chủng đứt đoạn.”
Phật
thuyết như vậy. Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật
thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Bản Hán, quyển 14. Pāli, M.83 Makhādeva-suttanta; tham chiếu Bản
sanh, J.9. Makhādeva-Jātaka. Hán, No.125(1) Tăng Nhất 1, Tựa, Đại
2 tr.549; No.125 (50.4) Tăng Nhất 48, Đại 2 tr.806c.
[2]
Bệ-đà-đề 鞞陀提.
Pāli: Videha, mà thủ phủ là Mithilā (Di-tát-la 彌薩囉).
Đại thiên Nại lâm 大天柰林
là khu rừng xoài của Mahādeva, một vị vua trong thời quá
khứ mà triều đại tiếp theo thuộc về Okkāka, tổ phụ của
dòng họ Thích.
[3]
Đại Thiên 大天.
Pāli: Makhādeva.
[4]
Thuyết Tùng giải thoát 說從解脫,
tức đọc giới bổn của Tỳ-kheo (Ba-la-đề-mộc-xoa hay Biệt
giải thoát). Bản Pāli, vào các ngày 14, 15, mồng 8 mỗi nửa
tháng, vua hành lễ Bố-tát (Pāli: uposatha).
[5]
Thiên luân bảo 天輪寶.
Pāli: dibba-cakka-ratna, bảo vật là bánh xe trời.
[6]
Hiền luân bảo 賢輪寶.
Pāli: bhavam cakka-ratnam.
[7]
Đảnh Sanh Sát-lợi vương 頂生刹利王.
Pāli: rājā khattiyo muddhāvasitto, một vị vua dòng Sát-lợi
đã được làm lễ quán đảnh (rưới nước lên đỉnh đầu),
lễ tức vị. Vị này chưa phải Chuyển luân vương.
[8]
Đoán lý斷理,
các bản Tống-Nguyên-Minh: liệu lý料理;
tức xử lý tài vật hay tài sản.
[9]
Vu-sa-hạ 于裟賀.
Pāli: Uposatha (Bố-tát).
[10]
Mao mã vương 髦馬王,
Mã vương có bờm. Pāli: Valāhaka (Vân mã vương).
[11]
Hán: tác tạng, bất tác tạng作藏不作藏.
Có lẽ Pāli: ākara, mỏ khoáng hay quặng. Hán hiểu kara là
làm.
[12]Bốn
như ý túc 四如意足;
No.1(2): bốn thần đức神德.
Pāli: catasso iddhiyo, bốn tiềm lực hay năng lực phi thường.
[13]
Tiên nhân vương 仙人王.
Pāli: rājisi, vị ẩn nguyên là vua.
[14]Bình
đẳng thực vị chi đạo 平等食味之道.
Pāli: samavepākin, tiêu hóa dễ dàng (ăn
uống dễ tiêu hóa). Xem D.28 Saṅgīti-suttanta, veà pañca padhāniyaṅgāni
(năm cần chi).
[15]
Xem kinh số 64.
[16]
Tương kế chi pháp相繼之法.
No.125 (50-4): tương thiệu相紹.
[17]
Pāli: mā kho me tvaṃ antimapuriso ahosi, “con chớ trở thành
là người (kế thừa) cuối cùng của ta”.
[18]
Tùng kiến chí kiến 從見至見
(?)
[19]
Ni-di 尼彌.
Pāli: Nimi.
[20]
Thiện pháp giảng đường 善法講堂.
Pāli: Sudhamma-sabhā, phòng hội của chư Thiên Tam thập tam (Pl.
Tāvatiṃsa).
[21]
Câu-dực 拘翼
(= Kiều-thi-ca 憍尸迦).
Pāli: Kosika hoặc Kosiya, hiệu của Thiên Đế-thích.
[22]
Trong bản Hán: Minh hành thành vi明行成為,
có lẽ thừa chữ vi. Thường nói là Minh hành túc. Pāli:
vijjā-caraṇa-sampanna.
[23]
Trong bản Hán: hiệu Phật號佛.