65.
KINH Ô ĐIỂU DỤ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật du hóa tại thành Vương xá, trong rừng Trúc, vườn
Ca-lan-đa.
Bấy
giờ Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Thuở
xưa, khi Chuyển luân vương muốn thử châu báu, liền cho tập
trung bốn loại quân là quân voi, quân ngựa, quân xe và quân
bộ. Sau khi tập trung xong, vào lúc đêm tối, cho dựng cây
tràng phan cao và đặt hạt châu trên đó. Ra đến ngoài viên
quán, ánh sáng của minh châu soi sáng cả bốn loại quân. Ánh
sáng ấy chiếu xa nửa do-diên.
“Bấy
giờ có Phạm chí nghĩ rằng: ‘Ta nên đến xem Chuyển luân
vương và bốn loại quân, nhìn ngắm hạt châu lưu ly’. Phạm
chí lại nghĩ: ‘Thôi, hãy bỏ qua việc muốn thấy Chuyển
luân vương và bốn loại quân, nhìn ngắm hạt châu lưu ly,
ta nên đến khoảng rừng kia’.
“Nghĩ
xong, Phạm chí liền đến khu rừng. Sau khi đến nơi, vào trong
rừng, Phạm chí đến ngồi dưới một gốc cây. Ngồi chưa
bao lâu, có một con rái cá[2]
đi đến. Phạm chí trông thấy, hỏi:
“Xin
chào Rái cá! Ngươi từ đâu đến và muốn đi đâu?”
Đáp:
“Thưa
Phạm chí, hồ ấy trước kia tràn đầy mạch nước trong,
có nhiều ngó sen, hoa và cá, rùa. Trước đây tôi ở đó;
nhưng nay nó khô rang. Phạm chí nên biết, tôi muốn bỏ đi,
vào sông lớn kia. Tôi nay muốn đi; chỉ sợ loài người.”
Con
rái cá kia sau khi chuyện trò với Phạm chí xong, liền bỏ
đi. Phạm chí vẫn ngồi như cũ.
Lại
có chim cứu-mộ[3]
đến. Phạm chí trông thấy, liền nói:
“Xin
chào, Cứu-mộ! Ngươi từ đâu đến và muốn đi đâu?”
Đáp:
“Thưa
Phạm chí, hồ ấy trước kia tràn đầy mạch nước trong,
có nhiều ngó sen, hoa và cá, rùa. Trước đây tôi ở đó;
nhưng nay nó khô rang. Phạm chí nên biết, tôi muốn bỏ đi,
đến trú ngụ ở chỗ có nhiều xác trâu chết kia, hoặc ở
chỗ có lừa chết, nhiều xác người chết. Hôm nay tôi muốn
đi, nhưng chỉ sợ loài người.”
Chim
cứu-mộ ấy nói chuyện với Phạm chí như vậy rồi bỏ đi.
Phạm chí vẫn ngồi như cũ.
Lại
có kên kên[4]
đến. Phạm chí trông thấy, liền hỏi:
“Xin
chào Kên kên! Ngươi từ đâu lại và muốn đi đâu?”
Đáp:
“Thưa
Phạm chí, tôi từ mộ lớn này đến mộ lớn khác, giết
hại xong rồi đến đây. Nay tôi muốn ăn thịt voi chết, ngựa
chết, trâu chết, người chết. Tôi nay muốn đi; nhưng chỉ
sợ loài người.”
Kên
kên nói chuyện với Phạm chí như vậy rồi bỏ đi. Phạm
chí vẫn ngồi như cũ.
Lại
có chim ăn bã[5]
lại đến. Phạm chí trông thấy liền hỏi:
“Xin
chào Ăn bã. Ngươi từ đâu đến và muốn đi đâu?”
Đáp:
“Thưa
Phạm chí, ông có thấy Kên kên vừa đi đến đây không? Tôi
ăn cái mà nó nhả ra. Nay tôi muốn đi nhưng chỉ sợ loài
người.
Chim
ăn bã ấy nói chuyện với Phạm chí như vậy rồi bỏ đi.
Phạm chí vẫn ngồi như cũ.
Lại
có con sói[6]
đến. Phạm chí trông thấy rồi lại hỏi:
“Xin
chào Sói! Ngươi từ đâu lại và muốn đi đâu?”
Đáp:
“Thưa
Phạm chí, tôi từ suối sâu này đến suối sâu khác, từ
bụi rậm này đến bụi rậm khác, từ chỗ hẻo lánh này
đến chỗ hẻo lánh khác. Nay tôi muốn ăn thịt voi chết,
thịt ngựa chết, thịt trâu chết. Bây giờ tôi muốn đi nhưng
chỉ sợ loài người.
Sói
nói chuyện với Phạm chí như vậy rồi bỏ đi. Phạm chí
vẫn ngồi như cũ.
Lại
có con quạ[7]
đến, trông thấy, Phạm chí liền hỏi:
“Xin
chào Quạ. Ngươi từ đâu đến và muốn đi đâu?”
Đáp:
“Này
Phạm chí, ông trán cứng, si cuồng; sao lại hỏi tôi từ đâu
đến và muốn đi đâu?”
Con
quạ mắng vào mặt Phạm chí rồi bỏ đi. Phạm chí vẫn ngồi
như cũ.
Lại
có con đười ươi[8]
đến, Phạm chí trông thấy liền hỏi:
“Xin
chào Đười ươi! Ngươi từ đâu đến và muốn đi đâu?”
Đáp:
“Thưa
Phạm chí, tôi từ vườn này đến vườn khác, từ đền miếu[9]
này đến đền miếu khác, từ rừng này đến rừng khác;
uống nước suối trong, ăn trái cây tốt, rồi đến đây.
Nay tôi muốn đi, không sợ loài người.
Đười
ươi nói chuyện cùng Phạm chí như vậy rồi bỏ đi.
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Ta
nói các thí dụ ấy là muốn các ngươi hiểu rõ nghĩa. Các
ngươi nên biết, nói các thứ dụ ấy như thế, có nghĩa của
nó.
“Bây
giờ, con thú rái cá nói chuyện với Phạm chí như vậy rồi
bỏ đi, Ta nói thí dụ này có nghĩa như thế nào? – Giả
sử có Tỳ-kheo nào nương vào thôn ấp mà sống[10].
Vào buổi sáng sớm, Tỳ-kheo mang y ôm bát vào thôn khất thực
mà không thủ hộ thân, không thủ hộ các căn, không an trụ
chánh niệm, nhưng vị ấy lại thuyết pháp; những pháp hoặc
do Phật thuyết, hoặc do Thanh văn thuyết. Nhờ đó vị ấy
được lợi, như được áo chăn, đồ ăn, thức uống, giường
nệm, thuốc thang, đầy đủ các nhu cầu cho sự sống. Sau
khi được lợi, vị ấy càng đắm trước xúc chạm mềm mại[11],
không thấy tai họa, không thể xả bỏ, mặc tình sử dụng.
Tỳ-kheo ấy thực hành ác giới, thành tựu ác pháp, đứng
sát bờ mé, trở nên tệ mạt, hủ bại, không phải phạm
hạnh mà tự xưng là phạm hạnh, không phải Sa-môn mà tự
xưng là Sa-môn. Cũng như Phạm chí thấy rái cá rồi hỏi:
‘Xin chào Rái cá! Ngươi từ đâu lại và muốn đi đâu?’
Đáp: ‘Thưa Phạm chí, hồ ấy trước kia tràn đầy mạch
nước trong, có nhiều ngó sen, nhiều hoa và cá, rùa. Trước
tôi ở đó nhưng nay khô rang. Phạm chí nên biết, tôi muốn
bỏ đi vào sông lớn kia. Giờ tôi muốn đi, chỉ sợ loài
người’. Ta nói, Tỳ-kheo ấy cũng lại như thế, rơi vào
trong pháp ác, bất thiện, ô uế, tạo gốc rễ của sự hữu
trong tương lai, tạo nhân khổ báo, phiền nhiệt của sanh,
già, bệnh, chết. Cho nên, Tỳ-kheo chớ sống như con rái cá,
chớ nương vào phi pháp để bảo tồn sự sống. Hãy tịnh
hóa thân hành, tịnh hóa khẩu hành và tịnh hóa ý hành, an
trú nơi vô sự, khoác y phấn tảo, thường hành khất thực,
thứ lớp khất thực, thiểu dục tri túc, ưa sống viễn ly
mà tu tập tinh cần, an trụ nơi chánh niệm, chánh trí, chánh
định, chánh tuệ, thường nên viễn ly. Nên học như vậy.
“Lúc
chim cứu-mộ đến nói chuyện với Phạm chí như vậy rồi
bỏ đi. Ta nói thí dụ này có nghĩa như thế nào? Giả sử
có Tỳ-kheo nào nương vào thôn ấp mà sống. Vào buổi sáng
sớm, Tỳ-kheo mang y ôm bát vào thôn khất thực mà không thủ
hộ thân, không thủ hộ các căn, không an trú chánh niệm,
nhưng vị ấy lại vào nhà người mà thuyết pháp; những pháp
hoặc do Phật thuyết, hoặc do Thanh văn thuyết. Nhờ đó vị
ấy được lợi, như được áo chăn, đồ ăn, thức uống,
giường nệm, thuốc thang, đầy đủ các nhu cầu cho sự sống.
Sau khi được lợi, vị ấy càng đắm trước xúc chạm mềm
mại, không thấy tai họa, không thể xả bỏ, mặc tình xử
dụng. Tỳ-kheo ấy thực hành ác giới, thành tựu ác pháp,
đứng sát bờ mé, trở nên tệ mạt, hủ bại, không phải
phạm hạnh mà tự xưng là phạm hạnh, không phải Sa-môn mà
tự xưng là Sa-môn. Cũng như Phạm chí thấy cứu-mộ rồi
hỏi: ‘Xin chào Cứu-mộ! Ngươi từ đâu lại và muốn đi
đâu?’ Đáp: ‘Thưa Phạm chí, hồ ấy trước kia tràn đầy
mạch nước trong, có nhiều ngó sen, hoa và cá, rùa. Trước
đây tôi ở đó; nhưng nay nó khô rang. Phạm chí nên biết,
tôi muốn bỏ đi, đến trú ngụ ở chỗ có nhiều xác trâu
chết kia, hoặc ở chỗ có lừa chết, nhiều xác người chết.
Hôm nay tôi muốn đi, nhưng chỉ sợ loài người’. Ta nói,
Tỳ-kheo ấy cũng lại như thế, rơi vào trong pháp ác, bất
thiện, ô uế, tạo gốc rễ của sự hữu trong tương lai,
tạo nhân khổ báo, phiền nhiệt của sanh, già, bệnh, chết.
Cho nên, Tỳ-kheo chớ sống như con cứu-mộ, chớ nương vào
phi pháp để bảo tồn sự sống. Hãy tịnh hóa thân hành,
tịnh hóa khẩu hành và tịnh hóa ý hành, an trú nơi vô sự,
khoác y phấn tảo, thường hành khất thực, thứ lớp khất
thực, thiểu dục tri túc, ưa sống viễn ly mà tu tập tinh
cần, an trụ nơi chánh niệm, chánh trí, chánh định, chánh
tuệ, thường nên viễn ly. Nên học như vậy.
“Bầy
kên kên nói chuyện với Phạm chí rồi bỏ đi. Ta nói thí
dụ có nghĩa như thế nào? Giả sử có Tỳ-kheo nào nương
vào thôn ấp mà sống. Vào buổi sáng sớm, Tỳ-kheo mang y ôm
bát vào thôn khất thực mà không thủ hộ thân, không thủ
hộ các căn, không an trú chánh niệm, nhưng vị ấy lại vào
nhà người mà thuyết pháp; những pháp hoặc do Phật thuyết,
hoặc do Thanh văn thuyết. Nhờ đó vị ấy được lợi, như
được áo chăn, đồ ăn, thức uống, giường nệm, thuốc
thang, đầy đủ các nhu cầu cho sự sống. Sau khi được lợi,
vị ấy càng đắm trước xúc chạm mềm mại, không thấy
tai họa, không thể xả bỏ, mặc tình xử dụng. Tỳ-kheo ấy
thực hành ác giới, thành tựu ác pháp, đứng sát bờ mé,
trở nên tệ mạt, hủ bại, không phải phạm hạnh mà tự
xưng là phạm hạnh, không phải Sa-môn mà tự xưng là Sa-môn.
Giống như Phạm chí thấy kên kên rồi hỏi: ‘Xin chào Kên
kên, ngươi từ đâu lại và muốn đi đâu?’ Đáp: “Thưa
Phạm chí, tôi từ mộ lớn này đến mộ lớn khác, sát hại
rồi đến đây. Nay tôi muốn ăn thịt voi chết, thịt ngựa
chết, thịt trâu chết, thịt người chết. Bây giờ tôi muốn
đi nhưng chỉ sợ loài người’. Ta nói thí dụ ấy cũng lại
như vậy. Cho nên Tỳ-kheo chớ sống như kên kên, chớ nương
vào phi pháp để bảo tồn sự sống. Hãy tịnh hóa thân hành,
tịnh hóa khẩu hành và ý hành, an trụ nơi vô sự, mang phấn
tảo y, thường hành khất thực, thứ lớp khất thực, thiểu
dục tri túc, ưa sống viễn ly mà tu tập tinh cần, trụ lập
chánh niệm, chánh trí, chánh định, chánh tuệ, thường nên
viễn ly. Nên học như thế.
“Bầy
chim ăn bã kia nói chuyện với Phạm chí rồi bỏ đi. Ta nói
thí dụ ấy có nghĩa như thế nào? Giả sử có thầy Tỳ-kheo
nào nương vào thôn ấp để sống. Vào lúc sáng sớm, Tỳ-kheo
ấy mang y cầm bát vào thôn xóm khất thực mà không thủ hộ
thân, không thủ hộ ý, không giữ gìn các căn, không an trú
chánh niệm. Vị ấy vào phòng Tỳ-kheo-ni giáo hóa, thuyết
pháp; những pháp hoặc do Phật thuyết, hoặc do Thanh văn thuyết.
Tỳ-kheo-ni kia vào bao nhiêu nhà khác nói tốt nói xấu, thọ
nhận phẩm vật của tín thí rồi mang về cho vị Tỳ-kheo
ấy. Nhân đó vị Tỳ-kheo ấy được lợi, như được áo
chăn, đồ ăn thức uống, giường nệm, thuốc thang, đầy
đủ các nhu cầu cho sự sống. Sau khi được lợi, vị ấy
đắm trước sự xúc chạm mềm mại, không thấy tai họa,
không thể xả bỏ, mặc tình xử dụng. Vị Tỳ-kheo ấy thực
hành ác giới, thành tựu ác pháp, đứng sát bờ mé, trở
nên tệ mạt hủ bại, không phải phạm hạnh mà tự xưng
là phạm hạnh, không phải Sa-môn mà tự xưng là Sa-môn. Giống
như Phạm chí thấy chim ăn bã rồi hỏi: ‘Xin chào Ăn bã!
Ngươi từ đâu lại và muốn đi đâu?’ Đáp: ‘Thưa Phạm
chí, ông thấy con kên kên vừa đi đó không? Tôi ăn cái mà
nó nhả ra. Bây giờ tôi muốn đi nhưng chỉ sợ loài người’.
Ta nói Tỳ-kheo ấy cũng lại như vậy. Cho nên Tỳ-kheo chớ
sống như con chim ăn bã, chớ nương vào phi pháp để bảo
tồn sự sống. Hãy tịnh hóa thân hành và tịnh hóa khẩu
hành, ý hành, an trú nơi vô sự, mang y phấn tảo, thường
hành khất thực, thứ lớp khất thực, thiểu dục tri túc,
ưa sống viễn ly mà tu tập tinh cần, trú lập chánh niệm,
chánh trí, chánh định, chánh tuệ, thường phải viễn ly.
Nên học như thế.
“Bầy
con sói nói chuyện với Phạm chí rồi bỏ đi. Ta nói ví dụ
này có nghĩa như thế nào? Giả sử có một Tỳ-kheo sống
tại một thôn nghèo. Nếu Tỳ-kheo biết trong thôn ấp có nhiều
bậc trí tuệ tinh tấn phạm hạnh thì liền tránh đi. Nếu
biết trong thôn ấp và thành quách không có bậc trí tuệ tinh
tấn phạm hạnh nào thì đến ở, suốt chín tháng hoặc mười
tháng. Các Tỳ-kheo khác thấy liền hỏi: ‘Hiền giả du hành
xứ nào?’ Tỳ-kheo ấy đáp: ‘Tôi sống tại thôn nghèo kia’.
Các Tỳ-kheo nghe xong liền nghĩ: Hiền giả này làm việc khó
làm. Lý do vì sao? Vì Hiền giả này có thể sống tại thôn
nghèo ấy’. Các Tỳ-kheo ấy liền cùng cung kính, đảnh lễ,
cúng dường. Nhân đó vị Tỳ-kheo ấy được lợi ích, như
được áo chăn, đồ ăn thức uống, giường nệm, thuốc thang,
đầy đủ các nhu cầu cho sự sống. Sau khi được lợi, vị
ấy lại đắm trước thêm, không thấy tai họa, không thể
xả bỏ, mặc tình xử dụng. Tỳ-kheo ấy thực hành ác giới,
thành tựu ác pháp, đứng sát bờ mé, trở thành tệ mạt,
hủ bại, không phải phạm hạnh mà tự xưng là phạm hạnh,
không phải Sa-môn mà tự xưng là Sa-môn. Giống như Phạm chí
thấy con sói rồi hỏi: ‘Xin chào Sói! Ngươi từ đâu lại
và đi về đâu?’ Đáp: ‘Thưa Phạm chí, tôi từ suối sâu
này đến suối sâu khác, từ bụi rậm này đến bụi rậm
khác, từ chốn hẻo lánh này đến chốn hẻo lánh khác rồi
đến đây. Nay tôi muốn ăn thịt voi chết, thịt ngựa chết,
thịt trâu chết, thịt người chết. Giờ tôi muốn đi nhưng
chỉ sợ loài người’. Ta nói Tỳ-kheo ấy lại cũng như vậy.
Cho nên Tỳ-kheo chớ sống như con sói, chớ nên nương theo
phi pháp để bảo tồn mạng sống. Hãy tịnh hóa thân hành,
tịnh hóa khẩu hành và ý hành, an trú nơi vô sự, mang y phấn
tảo, thường hành khất thực, thứ lớp khất thực, thường
hành thiểu dục tri túc, ưa sống viễn ly mà tu tập tinh cần,
trụ lập chánh niệm chánh trí, chánh định, chánh tuệ, thường
phải viễn ly. Nên tu học như vậy.
“Lúc
chim quạ mắng vào mặt Phạm chí rồi bỏ đi; Ta nói ví dụ
ấy có nghĩa thế nào? Giả sử có Tỳ-kheo nào nương nơi
vô sự xứ nghèo nàn mà an cư tọa hạ. Nếu Tỳ-kheo ấy biết
trong thôn ấp và thành quách có nhiều bậc trí tuệ tinh tấn
phạm hạnh thì liền tránh đi. Nếu biết trong thôn ấp và
thành quách không có bậc trí tuệ, tinh tấn phạm hạnh nào
thì đến ở hai, ba tháng. Các Tỳ-kheo khác thấy, liền hỏi:
‘Hiền giả tọa hạ nơi nào?’ Đáp rằng: ‘Chư Hiền,
hiện giờ tôi nương nơi vô sự xứ nghèo nàn kia mà an cư
tọa hạ. Tôi không giống như bọn ngu si kia, làm sẳn giường
chõng, rồi sống trong đó với năm sự đầy đủ[12],
buổi sáng rồi buổi chiều, buổi chiều rồi buổi sáng, miệng
chạy theo vị, vị trôi theo miệng, cầu rồi lại cầu, xin
rồi lại xin’. Lúc các Tỳ-kheo nghe xong, liền nghĩ: “Hiền
giả này làm những việc khó làm. Lý do vì sao? Hiền giả
này có thể nương nơi vô sự xứ nghèo nàn kia mà an cư tọa
hạ’. Các Tỳ-kheo ấy liền cùng cung kính, lễ bái, cúng
dường. Nhân đó vị Tỳ-kheo ấy được lợi, như được
áo chăn, đồ ăn thức uống, giường nệm thuốc thang, đầy
đủ các nhu cầu cần cho sự sống. Sau khi được lợi, vị
Tỳ-kheo ấy lại đắm trước sự xúc chạm mềm mại, không
thấy tai họa, không thể xả bỏ, mặc tình sử dụng. Tỳ-kheo
ấy thực hành ác giới, thành tựu ác pháp, đứng sát bờ
mé, trở thành tệ mạt hủ bại, không phải phạm hạnh mà
tự xưng là phạm hạnh, không phải Sa-môn mà tự xưng là
Sa-môn. Giống như Phạm chí thấy chim quạ rồi hỏi: ‘Xin
chào Quạ! Ngươi từ đâu đến và muốn đi về đâu?’ Đáp:
‘Này Phạm chí, ông là kẻ trán cứng, cuồng si, làm sao hỏi
tôi rằng: ‘Ngươi từ đâu lại và muốn đi về đâu?’.’
Ta nói Tỳ-kheo ấy lại cũng như vậy. Cho nên Tỳ-kheo chớ
sống như con quạ, chớ nương theo phi pháp để bảo tồn sự
sống. Hãy tịnh hóa thân hành, tịnh hóa khẩu hành và ý hành,
an trú nơi vô sự, mang y phấn tảo, thường hành khất thực,
thứ lớp khất thực, thiểu dục tri túc, ưa sống viễn ly
mà tu tập tinh cần, trú lập chánh niệm, chánh trí, chánh
định, chánh tuệ, thường viễn ly. Nên học như thế.
“Con
đười ươi kia nói chuyện với Phạm chí rồi bỏ đi, Ta nói
ví dụ ấy có nghĩa thế nào? Giả sử có Tỳ-kheo nương vào
thôn ấp mà sống. Vào buổi sáng sớm, Tỳ-kheo ấy mang y cầm
bát vào thôn khất thực, khéo thủ hộ thân, gìn giữ các
căn, vững vàng chánh niệm. Từ thôn ấp khất thực rồi,
ăn xong. Sau khi thu xếp y bát, rửa tay chân xong vắt Ni-sư-đàn
lên vai, đi đến nơi vô sự, hoặc đến dưới gốc cây, hoặc
vào nhà trống, trải Ni-sư-đàn mà ngồi kiết già, chánh thân,
chánh nguyện, chuyên niệm hướng nội, đoạn trừ tham lam,
muốn cho mình được tâm không não hại; thấy của cải và
vật dụng sinh tồn của người khác không móng khởi tâm tham
lam mong sẽ được về mình. Đối với tâm tham lam vị ấy
đã tịnh trừ. Cũng vậy, đối với sân nhuế, thùy miên,
trạo hối, đoạn nghi, độ hoặc, ở trong thiện pháp không
còn do dự. Đối với tâm nghi hoặc, vị ấy đã tịnh trừ.
Vị ấy đã tịnh trừ năm triền cái này, chúng làm cho tâm
ô uế, trí yếu kém; ly dục, ly pháp ác bất thiện, cho đến,
chứng đắc quả thiền thứ tư, thành tựu và an trụ. Vị
ấy chứng đắc định tâm như vậy, thanh tịnh không uế,
không phiền, nhu nhuyến, bất động, hướng đến chứng ngộ
lậu tận trí thông, rồi vị ấy liền biết như thật rằng:
‘Đây là khổ, đây là khổ tập, đây là khổ diệt và đây
là khổ diệt đạo’. Biết như thật rằng: ‘Đây là lậu,
đây là lậu tập, đây là lậu diệt và đây là lậu diệt
đạo’. Sau khi đã biết như vậy, đã thấy như vậy, tâm
giải thoát dục lậu, tâm giải thoát hữu lậu, tâm giải
thoát vô minh lậu. Sau khi giải thoát, biết như thật rằng:
‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã
làm xong, không còn tái sanh nữa’. Giống như Phạm chí thấy
đười ươi rồi hỏi: ‘Xin chào Đười ươi! Ngươi từ đâu
lại và đi về đâu?’ Đáp: ‘Thưa Phạm chí, tôi từ vườn
này đến vườn khác, từ đền miếu này đến đền miếu
khác, từ rừng này đến rừng khác, uống nước suối trong,
ăn trái cây tốt. Nay tôi muốn đi, chẳng sợ loài người’.
Ta nói Tỳ-kheo kia lại cũng như vậy. Cho nên Tỳ-kheo chớ
sống như loài rái cá, chớ sống như chim cứu-mộ, chớ sống
như kên kên, chớ sống như chim ăn bã, chớ sống như con sói,
chớ sống như quạ, mà nên sống như đười ươi. Lý do vì
sao? Bởi vì Bậc Vô trước chân nhân trong thế gian giống
như đười ươi.
Phật
thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan
hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Bản Hán, quyển 13. Không thấy Pāli tương đương.
[2]
Thát thú 獺
獸.
[3]
Cứu-mộ điểu 究
暮 鳥, không rõ
chim gì.
[4]
Thứu điểu 鷲
鳥.
[5]
Thực thổ điểu 食
吐 鳥, chim ăn đồ
(do thú khác) ói ra.
[6]
Sài thú 豺
獸.
[7]
Ô điểu 烏
鳥.
[8]
Tinh tinh thú 猩
猩 獸.
[9]
Nguyên Hán: quán觀.
[10]
Y thôn ấp hành 依 村 邑 行, trái với hành ư vô
sự 行 於 無 事. Xem cht.15, kinh số 26. Pāli, có lẽ gāmantaviharī.
[11]
Hán: xúc y觸
猗.
[12]
Năm sự, tham chiếu No.125 (51.3) Tăng Nhất 49, Đại 2, tr.817b:
1. Lười biếng, 2. Ngủ nhiều, 3. Tâm loạn, 4. Các căn bất
định, 5. Thích ở chợ hơn chỗ vắng vẻ.