63.
KINH BỆ-BÀ-LĂNG-KỲ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật du hóa tại nước Câu-tát-la[2].
Bấy
giờ Đức Thế Tôn và đại chúng Tỳ-kheo cùng đi trên đường;
giữa đường, Ngài mỉm cười rạng rỡ. Tôn giả A-nan thấy
Thế Tôn mỉm cười, liền chắp tay hướng về Thế Tôn và
bạch:
“Bạch
Thế Tôn, do nhân duyên gì Thế Tôn mỉm cười? Các Đức Như
Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, nếu không có nhân duyên
gì, thì không bao giờ cười suông. Con mong nghe được ý nghĩa
ấy.”
Bấy
giờ Đức Thế Tôn bảo:
“Này
A-nan, chính trong xứ sở này, Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở
Trước, Đẳng Chánh Giác, ngồi tại nơi đây mà nói pháp
cho các đệ tử.”
Lúc
đó Tôn giả A-nan, ngay tại chỗ ấy, liền nhanh chóng trải
chỗ ngồi, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch:
“Bạch
Thế Tôn, cúi mong Thế Tôn cũøng ngồi nơi đây mà nói pháp
cho các đệ tử. Như vậy, chỗ này là sở hành của hai Đức
Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác.”
Bấy
giờ Đức Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ mà Tôn giả A-nan
đã trải. Sau khi ngồi xuống Ngài bảo:
“A-nan,
ở trong xứ sở này, Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác, có giảng đường. Đức Ca-diếp Như Lai,
Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, sau khi ngồi ở trong đó,
bèn giảng pháp cho các đệ tử nghe. Này A-nan, trong xứ sở
này, xưa kia có thôn ấp, tên là Bệ-bà-lăng-kỳ[3],
giàu có cùng cực, dân chúng đông đúc. Này A-nan, trong thôn
ấp Bệ-bà-lăng-kỳ, có Phạm chí đại trưởng giả tên là
Vô Nhuế, giàu có tột đỉnh, của cải vô lượng, sản nghiệp
chăn nuôi, không thể tính toán, phong hộ, thực ấp đầy đủ
mọi thứ.
“Này
A-nan, Phạm chí đại trưởng giả Vô Nhuế có người con tên
là Ưu đa-la Ma-nạp[4],
được cha mẹ nuông chìu, thọ sanh thanh tịnh, cho đến bảy
đời cha mẹ, chủng tộc không tuyệt, đời đời không ác,
học rộng, nghe nhiều, đọc hết bốn điển kinh[5],
thấu triệt nhân duyên, chánh văn, hí là năm, cùng với cú
pháp và thuyết văn[6].
“Này
A-nan, đồng tử Ưu-đa-la có người bạn lành làm thợ đồ
gốm tên là Nan-đề-bà-la[7]
thường được đồng tử Ưu-đa-la yêu thương, tưởng nhớ,
ưa gặp gỡ không chán. Này A-nan, thợ đồ gốm Nan-đề-bà-la
quy y Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo, không nghi ngờ Ba ngôi tôn
quý[8],
không nghi hoặc Khổ, Tập, Diệt, Đạo; có tín, có giới,
học rộng, ưa bố thí, thành tựu trí tuệ; xa lìa sát sanh,
đoạn trừ sự sát sanh, xả bỏ đao gậy, biết hổ, biết
thẹn, có tâm từ bi, làm lợi ích tất cả cho đến loài côn
trùng; đối với tâm niệm sát sanh, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này
A-nan, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa lấy của không cho, đoạn
trừ việc không cho mà lấy, cái gì cho mới lấy, vui lòng
nhận những gì được cho; thường thích bố thí, hoan hỷ
không bỏn sẻn, không mong báo đáp; đối với tâm niệm không
cho mà lấy, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này
A-nan, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa phi phạm hạnh, đoạn
trừ phi phạm hạnh, siêng tu phạm hạnh, tinh tấn tu diệu
hạnh, thanh tịnh, không ô uế, lìa dục, đoạn dâm; đối
với tâm niệm phi phạm hạnh, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này
A-nan, thợ đồ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa nói dối, đoạn trừ
nói dối, nói chân thật, ưa chân thật, an trú nơi sự chân
thật không chút di động, hoàn toàn đáng tin cậy, không lừa
dối thế gian; đối với tâm niệm nói dối, vị ấy đã tịnh
trừ.
“Này
A-nan, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa nói hai lưỡi, đoạn trừ
nói hai lưỡi, tu hạnh không nói hai lưỡi, không phá hoại
ai, không nghe chuyện người này rồi mách lại người kia,
xúi dục phá hoại người này, không nghe chuyện người kia,
rồi mách lại người này, xúi dục phá hoại người kia, ai
chia lìa thì làm cho hòa hợp, ai hòa hợp thì làm cho hoan hỷ,
không lập bè đảng, không ưa bè đảng, không khen ngợi bè
đảng; đối với tâm niệm nói hai lưỡi, vị ấy đã tịnh
trừ.
“Này
A-nan, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa lời nói thô ác, đoạn
trừ lời nói thô ác. Nếu có những lời thô bạo, hung ác,
trái tai, khiến mọi người không hoan hỷ, mọi người không
thương mến, khiến người khác khổ não, không được định
tĩnh, vị ấy đoạn trừ lời nói như vậy. Nếu có những
lời hòa nhã, nhu thuận, lọt tai, vừa lòng, khiến được
hoan hỷ, được mến thương, khiến người khác an lạc, âm
thanh rõ ràng, không làm người sợ, khiến người khác định
tĩnh, vị ấy nói những lời như vậy; đối với tâm niệm
ưa nói thô ác, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này
A-nan, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa lời nói thêu dệt, đoạn
trừ lời nói thêu dệt, nói đúng lúc, nói chân thật, nói
về pháp, nói về nghĩa, nói về chỉ tức, nói về việc ưa
chỉ tức, nói việc thuận thời, thích hợp, khéo dạy, khéo
quở trách; đối với tâm niệm ưa nói thêu dệt, vị ấy
đã tịnh trừ.
“Này
A-nan, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc kinh doanh buôn bán,
đoạn trừ việc kinh doanh buôn bán, xả bỏ đong lường và
đấu hộc, xả bỏ việc nhận hàng hóa, không cột trói người,
không trông mong sự đo lường tà vạy, không vì chút lợi
nhỏ mà lấn lướt, lừa dối người; đối với tâm niệm
kinh doanh buôn bán, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này
A-nan, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa nhận đàn bà góa, đồng
nữ, đoạn trừ việc nhận đàn bà góa, đồng nữ; đối
với tâm niệm nhận đàn bà góa, đồng nữ, vị ấy đã tịnh
trừ.
“Này
A-nan, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc nhận nô tỳ, đoạn
trừ việc nhận nô tỳ; đối với tâm niệm nhận nô tỳ,
vị ấy đã tịnh trừ.
“Này
A-nan, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc nhận voi, ngựa,
trâu, dê, đoạn trừ việc nhận voi, ngựa, trâu, dê; đối
với tâm niệm nhận voi, ngựa, trâu, dê vị ấy đã tịnh
trừ.
“Này
A-nan, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc nhận gà, heo, đoạn
trừ việc nhận gà, heo; đối với tâm niệm nhận gà, heo,
vị ấy đã tịnh trừ.
“Này
A-nan, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc nhận ruộng đất,
quán xá, đoạn trừ việc nhận ruộng đất, quán xá; đối
với tâm niệm nhận ruộng đất, quán xá, vị ấy đã tịnh
trừ.
“Này
A-nan, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc nhận nếp, lúa,
đậu sống, đoạn trừ việc nhận nếp, lúa, đậu sống;
đối với tâm niệm nhận nếp, lúa, đậu sống, vị ấy đã
tịnh trừ.
“Này
A-nan, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc uống rượu, đoạn
trừ việc uống rượu; đối với tâm niệm uống rượu, vị
ấy đã tịnh trừ.
“Này
A-nan, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc dùng giường sang,
cao rộng, đoạn trừ việc dùng giường sang, cao rộng; đối
với tâm niệm dùng giường sang, cao rộng, vị ấy đã tịnh
trừ.
“Này
A-nan, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc đeo vòng hoa, đeo
chuỗi ngọc, thoa hương, đánh phấn, đoạn trừ việc đeo
vòng hoa, chuỗi ngọc, thoa hương, đánh phấn; đối với tâm
niệm đeo vòng hoa, chuỗi ngọc, thoa hương, đánh phấn, vị
ấy đã tịnh trừ.
“Này
A-nan, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc ca múa, xướng hát
hoặc đến nghe, xem, đoạn trừ việc ca múa, xướng hát hoặc
đến nghe, xem; đối với tâm niệm ca múa, xướng hát và đến
xem, nghe, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này
A-nan, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc nhận vàng, bạc,
châu báu, đoạn trừ việc nhận vàng, bạc, châu báu; đối
với tâm niệm nhận vàng, bạc, châu báu, vị ấy đã tịnh
trừ.
“Này
A-nan, thợ gốm Nan-đề-bà-la lìa việc ăn quá ngọ, đoạn
trừ việc ăn quá ngọ, thường ăn một bữa, không ăn ban
đêm, học hạnh ăn đúng thời; đối với tâm niệm ăn quá
ngọ, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này
A-nan, thợ gốm Nan-đề-bà-la trọn đời tay không cầm cuốc,
không tự tay đào đất, cũng không bảo người khác đào;
nếu đất ở đê chận nước lở ra, hoặc đất do chuột
đào lên thì lấy làm đồ gốm đưa lên và nói với người
mua rằng: ‘Các ngài, nếu có đậu oản[9],
gạo giẻ, lúa mạch, đậu ma lớn nhỏ, đậu bệ và hạt
cải, sau khi trút xuống rồi, ngài cứ mang gốm này mà đi,
tùy theo ý muốn[10]’.
“Này
A-nan, thợ gốm Nan-đề-bà-la trọn đời hầu hạ cha mẹ,
cha mẹ mù lòa chỉ trông cậy vào vị ấy; cho nên vị ấy
phải hầu hạ.
“Này
A-nan, thợ gốm Nan-đề-bà-la vào một sáng sớm, đi đến
trước Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác;
sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Ngài, rồi ngồi qua một bên.
Đức Ca-diếp Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác
thuyết pháp cho vị ấy, khuyến khích phát khởi lòng ngưỡng
mộ, thành tựu tâm hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng phương
tiện thuyết pháp cho vị ấy, khuyến khích phát khởi lòng
ngưỡng mộ, thành tựu tâm hoan hỷ xong, Đức Ca-diếp Như
Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác ngồi im lặng.
“Này
A-nan, sau khi được Đức Ca-diếp Như Lai, Bậc Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác thuyết pháp, khuyến khích phát khởi lòng
ngưỡng mộ, thành tựu tâm hoan hỷ rồi, thợ gốm Nan-đề-bà-la
từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Ngài, đi
quanh ba vòng, rồi lui ra.
“Bấy
giờ đồng tử Ưu-đa-la cưỡi xe ngựa trắng, cùng với năm
trăm đồng tử nữa, vào lúc vừa sáng, từ thôn ấp Bệ-bà-lăng-kỳ
ra đi, đến một chỗ vô sự[11],
muốn giáo hóa các đệ tử từ nhiều nước đến, dạy chúng
đọc sách Phạm chí[12].
Bấy giờ đồng tử Ưu-đa-la từ xa trông thấy thợ gốm Nan-đề-bà-la
đi đến; thấy rồi liền hỏi:
“–
Nan-đề-bà-la, anh từ đâu đến?”
“Nan-đề-bà-la
đáp:
“–
Hôm nay tôi từ chỗ Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác, sau khi cúng dường lễ bái Ngài xong thì
đến đây. Này Ưu-đa-la, bạn có thể cùng với tôi đến
chỗ Đức Ca-diếp Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh
Giác để cúng dường, lễ bái Ngài?
“Khi
ấy, đồng tử Ưu-đa-la đáp:
“–
Này anh Nan-đề-bà-la, tôi không muốn thấy Sa-môn trọc đầu.
Sa-môn trọc đầu không thể đắc đạo, vì đạo khó chứng
đắc.
“Rồi
thì, thợ gốm Nan-đề-bà-la túm lấy chỏm tóc của đồng
tử Ưu-đa-la kéo xuống xe. Lúc đó đồng tử Ưu-đa-la nghĩ:
‘Anh thợ gốm Nan-đề-bà-la này không bỡn cợt, không khùng,
không si, nay kéo tóc mình chắc có điều gì?’ Nghĩ xong liền
bảo:
“–
Này anh Nan-đề-bà-la, tôi đi theo anh, tôi đi theo anh!
“Bấy
giờ Nan-đề-bà-la hoan hỷ nói rằng:
“–
Lành thay, chúng ta đi.
“Thợ
gốm Nan-đề-bà-la và đồng tử Ưu-đa-la cùng nhau đến chỗ
Đức Ca-diếp Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác.
Đến nơi, hai người đảnh lễ rồi ngồi qua một bên. Thợ
gốm Nan-đề-bà-la bạch Đức Ca-diếp Như Lai, Bậc Vô Sở
Trước, Đẳng Chánh Giác rằng:
“–
Bạch Thế Tôn, đồng tử Ưu-đa-la này là bạn của con. Bạn
này thường ưa đến thăm, thường thích đến thăm con, không
hề nhàm chán, nhưng không có lòng tin và cung kính đối với
Thế Tôn. Mong Thế Tôn khéo léo thuyết pháp cho bạn con, hoan
hỷ, khởi lòng tin và cung kính.”
“Bấy
giờ Đức Ca-diếp Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh
Giác thuyết pháp cho thợ gốm Nan-đề-bà-la và đồng tử
Ưu-đa-la, khuyến khích, phát khởi lòng ngưỡng mộ, thành
tựu tâm hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng phương tiện thuyết
pháp cho hai vị ấy, khuyến khích phát khởi lòng ngưỡng mộ,
thành tựu tâm hoan hỷ xong, Đức Thế Tôn ngồi im lặng. Bấy
giờ, sau khi được Đức Ca-diếp Như Lai, Bậc Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác thuyết pháp, khuyến khích phát khởi lòng
ngưỡng mộ, thành tựu tâm hoan hỷ, hai vị liền từ chỗ
ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Ngài, đi quanh ba vòng,
rồi lui ra.
“Lúc
trở về, đi chưa bao xa, đồng tử Ưu-đa-la lại hỏi:
“–
Này anh Nan-đề-bà-la, anh đã được nghe pháp vi diệu như
thế từ Đức Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác,
tại sao anh còn ở nhà, không thể lìa bỏ để học Thánh
đạo?
“Bấy
giờ thợ gốm Nan-đề-bà-la đáp:
“–
Này Ưu-đa-la, chính bạn đã biết tôi phải trọn đời hầu
hạ, nuôi nấng cha mẹ; vì cha mẹ tôi mù lòa, chỉ trông cậy
ở mình tôi. Tôi vì hầu hạ phụng dưỡng cha mẹ vậy.
“Bấy
giờ đồng tử Ưu-đa-la hỏi:
“–
Này Nan-đề-bà-la, tôi có thể theo Đức Ca-diếp Như Lai, Bậc
Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác xuất gia học đạo, thọ
giới cụ túc, làm Tỳ-kheo, tu hành phạm hạnh được chăng?
“Lúc
đó, thợ gốm Nan-đề-bà-la và đồng tử Ưu-đa-la từ nơi
ấy quay trở lại chỗ Đức Ca-diếp Như Lai, Bậc Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác, đến nơi, đảnh lễ Ngài, rồi ngồi qua
một bên. Thợ gốm Nan-đề-bà-la bạch Đức Ca-diếp Như Lai,
Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác rằng:
“–
Bạch Thế Tôn, đồng tử Ưu-đa-la này trở về chưa bao xa,
lại hỏi con rằng: ‘Này anh Nan-đề-bà-la, từ Đức Ca-diếp
Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, anh được nghe
pháp vi diệu như thế; tại sao anh còn ở nhà, không thể lìa
bỏ để học Thánh đạo?’ Bạch Thế Tôn, con đã trả lời
rằng: ‘Chính bạn đã rõ, tôi phải trọn đời hầu hạ,
phụng dưỡng cha mẹ. Cha mẹ tôi mù lòa, chỉ trông cậy vào
một mình tôi. Như vậy, tôi phải hầu hạ, phụng dưỡng
cha mẹ’. Ưu-đa-la lại hỏi: ‘Này anh Nan-đề-bà-la, tôi
có thể theo Đức Ca-diếp Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng
Chánh Giác, xuất gia học đạo, thọ cụ túc giới, làm Tỳ-kheo,
tu hành phạm hạnh được không?’ Bạch Thế Tôn, mong Ngài
độ cho bạn con xuất gia, học đạo, truyền trao giới cụ
túc cho bạn con được làm Tỳ-kheo.
“Đức
Ca-diếp Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác im lặng
nhận lời của Nan-đề-bà-la. Sau khi biết Đức Ca-diếp Như
Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác im lặng nhận lời, thợ
gốm Nan-đề-bà-la từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới
chân Ngài, đi quanh ba vòng rồi lui ra.
“Sau
khi Nan-đề-bà-la đi chưa bao lâu, Đức Ca-diếp Như Lai, Bậc
Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác độ cho đồng tử Ưu-đa-la
xuất gia, học đạo, truyền trao giới cụ túc. Sau khi cho Ưu-đa-la
xuất gia, cho thọ cụ túc xong, Ngài ở thôn ấp Bệ-bà-lăng-kỳ
vài ngày, rồi mang y, cầm bát cùng với đại chúng Tỳ-kheo
du hành, muốn đến ấp Ba-la-nại, nước Ca-tư[13].
Đến Ba-la-nại, Ngài trú trong vườn Lộc dã tại Tiên nhân
trú xứ[14].
“Bấy
giờ, vua Giáp-bệ[15]
nghe Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác,
đang du hành trong nước Ca-tư, cùng với đại chúng Tỳ-kheo,
đến Ba-la-nại, trú trong vườn Lộc dã tại Tiên nhân xư.ù
Nghe rồi, vua bảo người đánh xe:
“–
Ngươi hãy sửa soạn xe, hôm nay ta muốn đi đến chỗ Đức
Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác.
“Người
đánh xe kia vâng lời vua bảo liền sửa soạn xa giá, sửa
soạn xong, tâu với vua rằng:
“–
Con đã sửa soạn xe đẹp, xin tùy ý Thiên vương.
“Vua
Giáp-bệ, ngồi xe đẹp, từ Ba-la-nại ra đi, đến vườn Lộc
dã, chỗ trú xứ Tiên nhơn. Từ xa, vua Giáp-bệ thấy, giữa
rừng cây, Đức Ca-diếp Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng
Chánh Giác trang nghiêm đẹp đẽ như vầng trăng giữa vòm
sao, chói lọi sáng ngời như núi vàng, tướùng tốt vẹn toàn,
oai nghi lồng lộng, các căn vắng lặng, không bị ngăn che,
hoàn toàn tự chế ngự, lắng tâm tĩnh mặc. Sau khi thấy,
vua xuống xe, đi đến chỗ Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác, đảnh lễ, rồi ngồi qua một bên. Sau khi
nhà vua ngồi xuống, Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác thuyết pháp, khuyến khích phát khởi lòng
ngưỡng mộ, thành tựu tâm hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng
phương tiện thuyết pháp cho nhà vua, khuyến khích phát khởi
lòng ngưỡng mộ, thành tựu hoan hỷ rồi, Ngài ngồi im lặng.
Sau khi được Đức Ca-diếp Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng
Chánh Giác, khuyến khích phát khởi lòng ngưỡng mộ, thành
tựu hoan hỷ rồi, nhà vua liền đứng dậy, kéo lệch vai áo
đang mặc, chắp tay hướng về Phật và bạch:
“–
Mong Thế Tôn cùng với đại chúng Tỳ-kheo ngày mai nhận lời
mời của con!
“Đức
Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, im lặng
nhận lời mời của vua Giáp-bệ. Sau khi biết Đức Như Lai
đã im lặng nhận lời, nhà vua cúi đầu đảnh lễ, đi quanh
ba vòng rồi lui ra, trở về nhà.
“Đêm
ấy, vua hạ lệnh sắp sửa đủ các món ăn, thức uống ngon
lành, sạch sẽ, mỹ diệu, với đủ các thức ăn loại cứng,
loại mềm. Việc bày biện đã xong ngay đêm ấy. Lúc tảng
sáng, vua trải giường ngồi, rồi sai người đến bạch Phật
rằng: ‘Bạch Thế Tôn, nay giờ đã đến, thức ăn đã sẵn
sàng, mong Thế Tôn đến đúng thời’.
“Bấy
giờ, vào lúc sáng sớm, Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác mang y, cầm bát và có chúng Tỳ-kheo theo sau,
đi đến nhà của vua Giáp-bệ, ngồi vào chỗ ngồi phía trên
chúng Tỳ-kheo. Vua Giáp-bệ thấy Phật và chúng Tỳ-kheo ngồi
xong, tự tay múc nước rửa, tự tay bưng hầu các thức ăn,
thức uống, đầy đủ các món ngon, sạch, mỹ diệu, khiến
các Ngài ăn no. Ăn rồi dọn bát, lấy nước rửa xong, nhà
vua lấy ghế nhỏ ngồi riêng một bên để nghe pháp. Vua Giáp-bệ
ngồi xong, Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh
Giác thuyết pháp cho vua, khuyến khích phát khởi lòng ngưỡng
mộ, thành tựu tâm hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng phương
tiện thuyết pháp cho vua, khuyến khích phát khởi lòng ngưỡng
mộ, thành tựu tâm hoan hỷ xong rồi, Ngài ngồi im lặng. Sau
khi được Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác thuyết
pháp, khuyến khích phát khởi lòng ngưỡng mộ, thành tựu
tâm hoan hỷ rồi, vua Giáp-bệ từ chỗ ngồi đứng dậy, kéo
lệch vai áo đang mặc, chắp tay hướng về Đức Như Lai và
bạch:
“–
Mong Thế Tôn và chúng Tỳ-kheo nhận lời của con mà an cư
mùa mưa tại Ba-la-nại này. Con xin xây cất năm trăm gian phòng,
năm trăm giường nệm và cúng thí các vật dụng[16],
cung cấp nếp trắng và đủ các món thực phẩm của vua, để
cúng dường Ngài và chúng Tỳ-kheo.
“Đức
Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác bảo nhà
vua:
“–
Thôi, thôi, Đại vương, chỉ cần có tâm hoan hỷ là đủ.
“Ba
lần như thế, vua Giáp-bệ chắp tay hướng về Đức Ca-diếp
Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác thưa:
“–
Mong Thế Tôn và chúng Tỳ-kheo nhận lời mời của con mà an
cư mùa mưa tại Ba-la-nại này. Con xin xây cất năm trăm gian
phòng, năm trăm giường nệm, và cúng thí các vật dụng, cung
cấp nếp trắng và các món ăn thực phẩm của vua để cúng
dường Phật và chúng Tỳ-kheo.
“Đức
Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác cũng ba lần
bảo:
“–
Thôi, thôi, Đại vương, chỉ cần có tâm hoan hỷ là đủ.
“Bấy
giờ vua Giáp-bệ không nhẫn được, không vừa ý, tâm rất
ưu sầu, nghĩ rằng: ‘Đức Ca-diếp Như Lai, Bậc Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác không nhận lời mời của ta mà an cư mùa
mưa tại Ba-la-nại này cùng với chúng Tỳ-kheo’. Nghĩ xong,
nhà vua bạch Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác:
“–
Bạch Thế Tôn, có kẻ bạch y tại gia nào phụng sự Thế
Tôn giống con chăng?
“Đức
Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đáp:
“–
Có, và ở tại thôn Bệ-bà-lăng-kỳ giàu có, hoan lạc tột
cùng, nhân dân đông đúc, thuộc lãnh thổ của Đại vương.
Này Đại vương, ở trong thôn Bệ-bà-lăng-kỳ ấy có thợ
gốm Nan-đề-bà-la; này Đại vương, thợ gốm Nan-đề-bà-la
quy y Phật, Pháp và chúng Tỳ-kheo, không hoài nghi Ba ngôi báu,
không nghi hoặc Khổ, Tập, Diệt, Đạo, có tín, trì giới,
học rộng, ưa bố thí, thành tựu trí tuệ, xa lìa sát sanh,
đoạn trừ sát sanh, xả bỏ dao gậy, biết hổ thẹn, có tâm
từ bi, làm lợi ích cho đến cả tất cả loài côn trùng.
Đối với tâm niệm sát sanh vị ấy đã tịnh trừ.
“Này
Đại vương, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa lấy của không
cho, đoạn trừ việc không cho mà lấy, cái gì cho mới lấy,
vui lòng nhận những gì được cho; thường thích bố thí,
hoan hỷ không bỏn xẻn, không mong báo đáp; đối với tâm
niệm không cho mà lấy, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này
Đại vương, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa phi phạm hạnh,
đoạn trừ phi phạm hạnh, siêng tu phạm hạnh, tinh tấn tu
diệu hạnh, thanh tịnh, không ô uế, lìa dục, đoạn dâm;
đối với tâm niệm phi phạm hạnh, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này
Đại vương, thợ đồ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa nói dối,
đoạn trừ nói dối, nói chân thật, ưa chân thật, an trú
nơi sự chân thật không chút di động, hoàn toàn đáng tin
cậy, không lừa dối thế gian; đối với tâm niệm nói dối,
vị ấy đã tịnh trừ.
“Này
Đại vương, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa nói hai lưỡi,
đoạn trừ nói hai lưỡi, tu hạnh không nói hai lưỡi, không
phá hoại ai, không nghe chuyện người này rồi mách lại người
kia, xúi dục phá hoại người này, không nghe chuyện người
kia, rồi mách lại người này, xúi dục phá hoại người kia,
ai chia lìa thì làm cho hòa hợp, ai hòa hợp thì làm cho hoan
hỷ, không lập bè đảng, không ưa bè đảng, không khen ngợi
bè đảng; đối với tâm niệm nói hai lưỡi, vị ấy đã
tịnh trừ.
“Này
Đại vương, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa lời nói thô ác,
đoạn trừ lời nói thô ác. Nếu có những lời thô bạo,
hung ác, trái tai, khiến mọi người không hoan hỷ, mọi người
không thương mến, khiến người khác khổ não, không được
định tĩnh, vị ấy đoạn trừ lời nói như vậy. Nếu có
những lời hòa nhã, nhu thuận, lọt tai, vừa lòng, khiến được
hoan hỷ, được mến thương, khiến người khác an lạc, âm
thanh rõ ràng, không làm người sợ, khiến người khác định
tĩnh, vị ấy nói những lời như vậy; đối với tâm niệm
ưa nói thô ác, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này
Đại vương, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa lời nói thêu dệt,
đoạn trừ lời nói thêu dệt, nói đúng lúc, nói chân thật,
nói về pháp, nói về nghĩa, nói về chỉ tức, nói về việc
ưa chỉ tức, nói việc thuận thời, thích hợp, khéo dạy,
khéo quở trách; đối với tâm niệm ưa nói thêu dệt, vị
ấy đã tịnh trừ.
“Này
Đại vương, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc kinh doanh
buôn bán, đoạn trừ việc kinh doanh buôn bán, xả bỏ đong
lường và đấu hộc, xả bỏ việc nhận hàng hóa, không cột
trói người, không trông mong sự đo lường tà vạy, không
vì chút lợi nhỏ mà lấn lướt, lừa dối người; đối với
tâm niệm kinh doanh buôn bán, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này
Đại vương, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa nhận đàn bà góa,
đồng nữ, đoạn trừ việc nhận đàn bà góa, đồng nữ;
đối với tâm niệm nhận đàn bà góa, đồng nữ, vị ấy
đã tịnh trừ.
“Này
Đại vương, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc nhận nô
tỳ, đoạn trừ việc nhận nô tỳ; đối với tâm niệm nhận
nô tỳ, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này
Đại vương, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc nhận voi,
ngựa, trâu, dê, đoạn trừ việc nhận voi, ngựa, trâu, dê;
đối với tâm niệm nhận voi, ngựa, trâu, dê vị ấy đã
tịnh trừ.
“Này
Đại vương, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc nhận gà,
heo, đoạn trừ việc nhận gà, heo; đối với tâm niệm nhận
gà, heo, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này
Đại vương, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc nhận ruộng
đất, quán xá, đoạn trừ việc nhận ruộng đất, quán xá;
đối với tâm niệm nhận ruộng đất, quán xá, vị ấy đã
tịnh trừ.
“Này
Đại vương, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc nhận nếp,
lúa, đậu sống, đoạn trừ việc nhận nếp, lúa, đậu sống;
đối với tâm niệm nhận nếp, lúa, đậu sống, vị ấy đã
tịnh trừ.
“Này
Đại vương, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc uống rượu,
đoạn trừ việc uống rượu; đối với tâm niệm uống rượu,
vị ấy đã tịnh trừ.
“Này
Đại vương, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc dùng giường
sang, cao rộng, đoạn trừ việc dùng giường sang, cao rộng;
đối với tâm niệm dùng giường sang, cao rộng, vị ấy đã
tịnh trừ.
“Này
Đại vương, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc đeo vòng
hoa, đeo chuỗi ngọc, thoa hương, đánh phấn, đoạn trừ việc
đeo vòng hoa, chuỗi ngọc, thoa hương, đánh phấn; đối với
tâm niệm đeo vòng hoa, chuỗi ngọc, thoa hương, đánh phấn,
vị ấy đã tịnh trừ.
“Này
Đại vương, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc ca múa, xướng
hát hoặc đến nghe, xem, đoạn trừ việc ca múa, xướng hát
hoặc đến nghe, xem; đối với tâm niệm ca múa, xướng hát
và đến xem, nghe, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này
Đại vương, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc nhận vàng,
bạc, châu báu, đoạn trừ việc nhận vàng, bạc, châu báu;
đối với tâm niệm nhận vàng, bạc, châu báu, vị ấy đã
tịnh trừ.
“Này
Đại vương, thợ gốm Nan-đề-bà-la lìa việc ăn quá ngọ,
đoạn trừ việc ăn quá ngọ, thường ăn một bữa, không
ăn ban đêm, học hạnh ăn đúng thời; đối với tâm niệm
ăn quá ngọ, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này
Đại vương, thợ gốm Nan-đề-bà-la trọn đời tay không cầm
cuốc, không tự tay đào đất, cũng không bảo người khác
đào; nếu đất ở đê chận nước lở ra, hoặc đất do chuột
đào lên thì lấy làm đồ gốm đưa lên và nói với người
mua rằng: ‘Các ngài, nếu có đậu oản, gạo giẻ, lúa mạch,
đậu ma lớn nhỏ, đậu bệ và hạt cải, sau khi trút xuống
rồi, ngài cứ mang gốm này mà đi, tùy theo ý muốn’.
“Này
Đại vương, thợ gốm Nan-đề-bà-la trọn đời hầu hạ cha
mẹ, cha mẹ mù lòa chỉ trông cậy vào vị ấy; cho nên vị
ấy phải hầu hạ.
“Này
Đại vương, Ta nhớ lúc xưa có lần du hành tại thôn ấp
Bệ-bà-lăng-kỳ. Này Đại vương, bấy giờ vào lúc sáng sớm,
Ta mang y, cầm bát vào thôn ấp Bệ-bà-lăng-kỳ khất thực;
khất thực theo thứ tự, Ta đến nhà thợ gốm Nan-đề-bà-la.
Lúc đó, vì bận chút việc, nên Nan-đề-bà-la đi vắng. Đại
vương, Ta hỏi cha mẹ Nan-đề-bà-la rằng:
“‘–
Này Trưởng lão, thợ gốm bây giờ ở đâu?’
“Cha
mẹ người ấy đáp:
“‘–
Bạch Thế Tôn, đứa hầu vì bận chút việc nên tạm thời
đi khỏi, không ở nhà. Bạch Thiện Thệ, đứa hầu ấy vì
bận chút việc nên tạm thời đi khỏi nhà, không có ở nhà.
Bạch Thế Tôn, trong rá có cơm gạo tẻ, trong chảo có canh
đậu. Mong Thế Tôn thương xót chúng con, lấy dùng theo ý Ngài’.
“Này
Đại vương, Ta liền thọ nhận pháp Uất-đơn-viết[17],
lấy cơm canh ở trong rá rồi đi. Thợ gốm Nan-đề-bà-la,
sau khi trở về nhà, thấy cơm trong rá còn ít, canh trong chảo
giảm bớt, hỏi cha mẹ rằng:
“‘–
Ai lấy bớt cơm canh?’
“Cha
mẹ đáp:
“‘Này
con, hôm nay Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh
Giác đến đây khất thực. Ngài lấy cơm và canh trong rá,
trong chảo rồi đi’.
“Thợ
gốm Nan-đề-bà-la nghe xong liền nghĩ rằng: ‘Ta có lợi ích
lớn lao, có công đức lớn lao. Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở
Trước, Đẳng Chánh Giác, đối với nhà ta, Ngài tùy ý tự
tại’. Nhờ đó vị ấy hoan hỷ, ngồi kiết già lắng tâm
tịnh mặc suốt bảy ngày, mười lăm ngày sau vẫn còn hoan
lạc. Cha mẹ trong gia đình ấy suốt bảy ngày cũng được
hoan hỷ.
“Lại
nữa, này Đại vương, Ta nhớ xưa có lần du hành tại thôn
ấp Bệ-bà-lăng-kỳ, bấy giờ vào lúc sáng sớm, ta mang y,
cầm bát vào thôn Bệ-bà-lăng-kỳ khất thực. Khất thực
theo thứ tự, ta đến nhà thợ gốm Nan-đề-bà-la. Bấy giờ
Nan-đề-bà-la vì bận chút việc nên đi vắng. Này Đại vương,
ta hỏi cha mẹ Nan-đề-bà-la rằng:
“‘–
Này Trưởng lão, thợ gốm bấy giờ ở đâu?’
Hai
người ấy đáp:
“‘–
Bạch Đức Thế Tôn, đứa hầu ấy vì bận chút việc nên
tạm thời đi khỏi, không ở nhà. Bạch Đức Thiện Thệ,
đứa hầu ấy, vì bận chút việc, đi khỏi một lát, không
có ở đây. Bạch Đức Thế Tôn, trong chảo lớn có cơm nếp,
trong chảo nhỏ có canh; mong Đức Thế Tôn thương xót chúng
con, lấy dùng theo ý của Ngài’.
“Này
Đại vương, Ta liền thọ nhận pháp Uất-đơn-viết, lấy
cơm canh trong chảo lớn và chảo nhỏ rồi đi. Sau khi trở
về nhà, thợ gốm Nan-đề-bà-la thấy cơm trong chảo lớn
còn ít, canh trong chảo nhỏ giảm bớt, hỏi cha mẹ rằng:
“‘–
Ai lấy cơm trong chảo lớn, lấy canh trong chảo nhỏ?’
“Cha
mẹ đáp:
“‘–
Này con, hôm nay Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng
Chánh Giác đến đây khất thực. Ngài lấy cơm trong chảo
lớn và chảo nhỏ rồi đi.’
“Nghe
xong, thợ gốm Nan-đề-bà-la nghĩ rằng: ‘Ta có lợi ích lớn
lao, có công đức lớn lao. Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác đối với nhà ta, đã tùy ý tự tại’.
Nhờ đó, vị ấy hoan hỷ, ngồi kiết già lắng tâm tịnh
mặc suốt bảy ngày, mười lăm ngày sau vẫn còn hoan lạc;
cha mẹ trong gia đình ấy suốt bảy ngày cũng được hoan lạc.
“Lại
nữa, này Đại vương, Ta nhớ xưa kia có lần an cư mùa mưa
tại thôn Bệ-bà-lăng-kỳ. Bấy giờ Ta mới làm nhà chưa kịp
lợp. Nhà làm gốm cũ của thợ gốm Nan-đề-bà-la vừa mới
lợp. Này Đại vương, Ta bảo các Tỳ-kheo đang đứng hầu
rằng: ‘Các ông hãy đến dở nhà cũ làm đồ gốm của thợ
gốm Nan-đề-bà-la đem về lợp nhà Ta’. Tỳ-kheo hầu hạ
vâng lời Ta dạy, liền đến nhà của Nan-đề-bà-la và dở
nhà cũ làm đồ gốm, bó lại rồi mang về lợp nhà của Ta.
Cha mẹ thợ gốm Nan-đề-bà-la nghe dở nhà cũ làm đồ gốm
liền hỏi:
“‘–
Ai dở nhà cũ làm đồ gốm của Nan-đề-bà-la đó?’
“Các
Tỳ-kheo đáp:
“‘–
Trưởng lão, chúng tôi là các Tỳ-kheo hầu Đức Ca-diếp Như
Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, đến dở nhà cũ làm
đồ gốm của Nan-đề-bà-la bó lại, mang về lợp nhà của
Ngài’.
“Cha
mẹ của thợ gốm bảo:
“‘–
Chư Hiền, chư Hiền hãy đem đi theo ý muốn, không có ai ngăn
cản đâu’.
“Sau
khi trở về, thợ gốm Nan-đề-bà-la thấy nhà cũ làm đồ
gốm bị dở, liền hỏi cha mẹ:
“‘–
Ai dở nhà cũ làm đồ gốm của mình vậy?’
“Cha
mẹ đáp:
“‘– Này con, hôm nay các Tỳ-kheo hầu Đức Ca-diếp Như
Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, đến dở nhà cũ làm
đồ gốm, bó lại, đem về lợp nhà của Ngài’.
“Nghe
xong, Nan-đề-bà-la nghĩ: ‘Ta có lợi ích lớn, có công đức
lớn lao. Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh
Giác đối với trong nhà ta, đã tùy ý tự tại’.
“Vì
việc ấy, vị ấy hoan hỷ, ngồi kiết già lắng tâm tĩnh
mặc suốt bảy ngày; mười lăm ngày sau vẫn còn hoan lạc.
Cha mẹ trong gia đình ấy suốt bảy ngày cũng được hoan lạc.
“Này
Đại vương, nhà cũ làm đồ gốm của thợ gốm Nan-đề-bà-la
suốt bốn tháng mùa mưa hoàn toàn không bị dột. Vì sao như
vậy? Vì nhờ oai thần của Phật. Này Đại vương, thợ gốm
Nan-đề-bà-la không có điều gì không nhẫn được, không
có điều gì không thích thú, nên tâm không ưu sầu, đã nghĩ
rằng: ‘Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh
Giác đối với gia đình ta đã được tùy ý tự tại’.
“Này
Đại vương, Đại vương có điều không nhẫn được, có
điều không thích thú, nên tâm quá ưu sầu, đã nghĩ rằng:
‘Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác và
chúng Tỳ-kheo không nhận lời mời của ta mà an cư mùa mưa
tại Ba-la-nại này’.
“Bấy
giờ Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác
thuyết pháp cho vua Giáp-bệ, khuyến khích phát lòng ngưỡng
mộ, thành tựu tâm hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng phương
tiện thuyết pháp cho vua, khuyến khích phát khởi lòng ngưỡng
mộ, thành tựu tâm hoan hỷ xong, Ngài từ chỗ ngồi đứng
dậy và ra đi.
“Khi
Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác ra đi
chưa bao lâu, vua Giáp-bệ hạ lệnh cho người hầu cận: ‘Các
ngươi dùng năm trăm cỗ xe chất đầy gạo, nếp và đủ các
món thực phẩm của vua, chở đến nhà thợ gốm Nan-đề-bà-la
và nói với Nan-đề-bà-la rằng: ‘Này Nan-đề-bà-la, năm
trăm cỗ xe này chất đầy gạo trắng, và đủ các món thực
phẩm mà vua thường dùng, do vua Giáp-bệ bảo chở đến tặng
cho ông. Mong ông thương xót; hôm nay xin ông nhận cho’. Lúc
đó, người hầu cận vâng lời vua, dùng năm trăm cỗ xe chất
đầy gạo trắng, và đủ các món thực phẩm của vua, chở
đến nhà thợ gốm Nan-đề-bà-la. Đến nơi, vị ấy nói:
“–
Thưa thợ gốm Nan-đề-bà-la, năm trăm cỗ xe này chất đầy
gạo trắng, và đủ các món thực phẩm của nhà vua dùng,
do vua Giáp-bệ bảo chở đến biếu tặng ông. Mong ông thương
xót; hôm nay, xin ông nhận cho.
“Bấy
giờ thợ gốm Nan-đề-bà-la từ chối, không nhận và nói
với các người hầu vua rằng:
“–
Chư Hiền, vua Giáp-bệ phải lo đại sự cho nước nhà nên
chi phí nhiều. Tôi biết như vậy, nên không thọ nhận.”
Đến
đây, Đức Phật bảo A-nan:
“Này
A-nan, ý ông nghĩ thế nào? Đồng tử Ưu-đa-la lúc bấy giờ,
ông cho là người nào chăng? Chớ nghĩ vậy. Nên biết rằng
chính là Ta vậy. Này A-nan, Ta lúc bấy giờ đã làm lợi ích
cho chính mình, cũng làm lợi ích cho người khác, làm lợi
ích cho mọi người, thương xót thế gian. Vì loài trời và
loài người mà Ta đã cầu nghĩa, cầu sự lợi ích, an ổn
khoái lạc. Lúc bấy giờ ta thuyết pháp không được rốt
ráo, không rốt ráo bạch tịnh, không rốt ráo phạm hạnh.
Không rốt ráo phạm hạnh, nên bấy giờ ta không xa lìa được
sanh, già, bệnh, chết, ưu sầu, khóc lóc, cũng không thoát
được mọi khổ đau. Này A-nan, nay Ta xuất hiện ở đời,
là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành,
Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự,
Thiên Nhân Sư, hiệu là Phật, Chúng Hựu. Hôm nay ta đã làm
lợi ích cho chính mình, cũng làm lợi ích cho người khác,
lợi ích cho nhiều người, thương xót thế gian. Vì trời và
người mà Ta tìm cầu nghĩa, tìm cầu sự an ổn khoái lạc.
Nay Ta thuyết pháp được rốt ráo, rốt ráo bạch tịnh, rốt
ráo phạm hạnh. Do rốt ráo phạm hạnh, Ta đã lìa khỏi sanh,
già, bệnh, chết, ưu sầu, khóc lóc. Nay ta đã thoát được
mọi khổ đau.”
Phật
thuyết như vậy. Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật
dạy xong, hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Bản Hán, quyển 12. Tham chiếu Pāli, M. 81. Ghaṭīkāra-sutta,
kinh Thợ Gốm.
[2]
Câu-tát-la 拘
薩 羅. Pāli: Kosala.
[3]
Bệ-bà-lăng-kỳ 鞞
婆 陵 耆. Pāli:
Vebhaḷinga.
[4]
Ưu-đa-la Ma-nạp 優
多 羅 摩 納. Pāli theo
đây là Uttramāṇava, thay vì là Jotipāla-māṇāva trong bản
Pāli tham chiếu.
[5]
Tứ điển kinh 四
典 經, chỉ bốn
bộ Veda. Bản Pāli: tiṇṇaṃ vedānaṃ pāragū, thông suốt
ba bộ Veda.
[6]
Hán: thâm đạt nhân duyên chánh văn hý ngũ cú thuyết 深
達 因 緣 正 文 戲 五 句 說.
Pāli: sanighaṇḍu-keṭubhānaṃ sākkharappabhedānaṃ itihāsa-pañcamānaṃ
padako veyyākaraṇo, tinh thông ngữ vựng, nghi quỹ, phân tích
âm vận, và thứ năm (kể luôn cả tinh thông Thánh điển Veda)
là truyền thuyết lục, giỏi ngữ cú, văn pháp. Tham chiếu,
No.99 (600) Tạp 23, kinh 600: tụng thuộc các kinh điển, danh
tự của vật loại, phẩm loại sai biệt của vạn vật, phân
tích và kết hợp tự loại, và thứ năm là lịch thế bản
mạt. Trong bản Hán, nighaṇḍu (ngữ vựng) được hiểu là
nidāna (nhân duyên). Pāli: keṭubha: sách về nghi quỹ, hay nghi
thức; trong bản Hán: chánh văn. Pāli: itihāsa, truyền
thuyết lục, hay truyện truyền kỳ; bản Hán: hý (chuyện
cười).
[7]
Nan-đề-bà-la đào sư 難
提 波 羅 陶 師, theo đây
Pāli là Nandipāla. Nhưng bản Pāli tham chiếu: Ghaṭīkāra (thợ
gốm).
[8]
Hán: tam tôn三
尊.
[9]
Hán: oản đậu 豌
豆, giống đậu
Hà-lan.
[10]
Hình thức kinh tế trao đổi. Pāli: ettha yo icchati taṇḍulapabhivattāni
(-pavibhattāni, paṭivibhattāni) vā muggapabhivattāni va kāḷāyapabhivattāni
vā nikkhipitvā yaṃ icchati taṃ haratū’ti, “ai cần cái gì
(đồ gốm), sau khi để lại đây những thứ dư thừa như
gạo, đậu xanh, đậu oản, hãy lấy thứ cần (đồ gốm)
ấy đi”.
[11]
Hán: vô sự xứ 無
事 處, chỉ khu
rừng yên tĩnh. Pāli: arañña.
[12]
Phạm chí thư 梵
志 書, sách của
Bà-la-môn.
[14]
Tiên nhân trú xứ Lộc dã viên 仙
人 住 處 鹿 野 園. Pāli:
Isipatana-migadāya.
[15]
Giáp-bệ 頰
鞞; Tống-Nguyên-Minh:
tần-bệ 頻
鞞. Pāli: Kikin.
[16]
Hán: thí câu chấp施
拘 執, không rõ
thí vật gì.
[17]
Viết曰;
bản Minh: việt越.