60.
KINH TỨ CHÂU[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng,
vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ Tôn giả A-nan ở nơi nhàn tĩnh, ngồi trầm lặng tư duy
và suy nghĩ như vầy: “Người đời thật hiếm, ít ai có
thể thỏa mãn đối với dục; ít ai có sự nhờm tởm, ghê
sợ dục cho đến chết. Người đời mà đối với dục có
sự thỏa mãn, nhàm tởm, ghê sợ cho đến chết, quả là quá
khó kiếm.”
Rồi
Tôn giả A-nan, vào lúc xế chiều, từ chỗ yên nghỉ đứng
dậy, đi đến trước Phật, đảnh lễ, rồi ngồi qua một
bên và thưa:
“Bạch
Đức Thế Tôn, hôm nay con ở chỗ nhàn tĩnh, ngồi trầm lặng
tư duy, đã suy nghĩ như vầy: “Người đời thật hiếm, ít
ai có thể thỏa mãn đối với dục; ít ai có sự nhờm tởm,
ghê sợ dục cho đến chết. Người đời mà đối với dục
có sự thỏa mãn, nhàm tởm, ghê sợ cho đến chết, quả là
quá khó kiếm!”
Phật
bảo A-nan:
“Đúng
như vậy, đúng như vậy! Người đời thật hiếm, ít ai có
thể thỏa mãn đối với dục; ít ai có sự nhờm tởm, ghê
sợ dục cho đến chết. Người đời mà đối với dục có
sự thỏa mãn, nhàm tởm, ghê sợ cho đến chết, quả là quá
khó kiếm!
“Nhưng
này A-nan, trong thế gian, những người đối với dục mà không
thỏa mãn, không nhờm tởm, ghê sợ cho đến chết thì thật
quá nhiều! Thật quá nhiều! Vì sao? Này A-nan, trong đời quá
khứ, có nhà vua tên là Đảnh Sanh[2]
làm Chuyển luân vương, thông minh trí tuệ, có bốn loại quân,
ngự trị thiên hạ, tự do tự tại, là pháp vương hành động
theo chánh pháp, thành tựu bảy báu. Bảy báu ấy là: xe báu,
voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, cư sĩ báu và tướng
quân báu. Đó là bảy báu. Vị ấy có đủ một ngàn người
con trai, mặt mày khôi ngô, dõng mãnh, không khiếp sợ, nhiếp
phục được người khác. Vị ấy thống lãnh khắp cả cõi
đất này cho đến biển cả, không dùng đao gậy, chỉ dùng
pháp giáo hóa, khiến cho an lạc.
“Này
A-nan, một thời gian hết sức lâu xa về sau, vua Đảnh Sanh
ấy nghĩ rằng: ‘Ta có châu Diêm-phù giàu có, hoan lạc cùng
cực, nhân dân đông đúc. Ta có bảy báu; đầy đủ một ngàn
người con. Ta muốn ngay ở cung điện này mưa báu bảy ngày,
dâng đến tận đầu gối’. Này A-nan, vua Đảnh Sanh có đại
như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại
oai thần, nên vừa khởi tâm ưa thích như vậy, tức thì ở
trong cung mưa báu bảy ngày, dâng đến đầu gối.
“Này
A-nan, một thời gian hết sức lâu xa về sau, vua Đảnh Sanh
kia lại nghĩ rằng: ‘Ta có châu Diêm-phù giàu có, hoan lạc
cùng cực, nhân dân đông đúc. Ta có bảy báu, đầy đủ một
ngàn đứa con, và ở trong cung này, mưa báu bảy ngày, dâng
đến đầu gối. Ta nhớ đã từng nghe nơi người xưa nói
rằng, ở phương Tây có châu tên là Cù-đà-ni[3],
giàu có, hoan lạc cùng cực, nhân dân đông đúc. Nay ta muốn
đến xem châu Cù-đà-ni. Sau khi đến, ta sẽ thống trị’.
Này A-nan, vua Đảnh Sanh có đại như ý túc, có đại oai đức,
có đại phước hựu, có đại oai thần, nên vừa khởi tâm
ưa thích như vậy, liền dùng như ý túc cưỡi lên hư không
mà đi, cùng với bốn loại quân. Này A-nan, vua Đảnh Sanh trong
phút chốc liền đến trú ở châu Cù-đà-ni kia.
“Này
A-nan, sau khi đến ở, nhà vua đã ngự trị châu Cù-đà-ni
suốt vô lượng trăm ngàn vạn năm.
“Này
A-nan, một thời gian hết sức lâu xa về sau nữa, vua Đảnh
Sanh kia lại nghĩ: ‘Ta có châu Diêm-phù giàu có, hoan lạc
cùng cực, nhân dân đông đúc. Ta có bảy báu, đầy đủ một
ngàn đứa con, và ở trong cung này, mưa báu bảy ngày, dâng
đến đầu gối. Ta lại có thêm châu Cù-đà-ni. Ta đã từng
nghe người xưa có nói rằng, ở phương Đông có châu tên
là Phất-bà-bệ-đà-đề[4]
giàu có, hoan lạc cùng cực, nhân dân đông đúc. Nay ta muốn
đến xem châu Phất-bà-bệ-đà-đề. Sau khi đến, ta sẽ thống
trị’. Này A-nan, vua Đảnh Sanh có đại như ý túc, có đại
oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần, nên vừa
khởi tâm ưa thích như vậy, liền dùng như ý túc cưỡi lên
hư không mà đi, cùng với bốn loại quân. Này A-nan, vua Đảnh
Sanh trong phút chốc liền đến trú ở châu Phất-bà-bệ-đà-đề
kia. Này A-nan, sau khi đến ở, nhà vua ngự trị châu Phất-bà-bệ-đà-đề
suốt vô lượng trăm ngàn vạn năm.
“Này
A-nan, một thời gian hết sức lâu xa về sau nữa, vua Đảnh
Sanh kia lại nghĩ: ‘Ta có châu Diêm-phù giàu có, hoan lạc
cùng cực, nhân dân đông đúc. Ta có bảy báu, đầy đủ một
ngàn người con, và ở trong cung mưa báu bảy ngày dâng đến
đầu gối. Ta lại có thêm châu Cù-đà-ni, có thêm châu Phất-bà-bệ-đà-đề.
Ta lại từng nghe người xưa có nói rằng, ở phương Bắc
có châu tên là Uất-đơn-viết[5],
giàu có, hoan lạc cùng cực, nhân dân đông đúc, họ tuy không
có ngã tưởng, không có thọ dụng riêng[6],
nhưng ta muốn cùng quyến thuộc đi xem châu Uất-đơn-viết,
để thống trị’. Này A-nan, vua Đảnh Sanh có đại như ý
túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai
thần, nên vừa khởi tâm ưa thích như vậy, liền dùng như
ý túc cưỡi hư không mà đi cùng với bốn loại quân. Này
A-nan, nhà vua thấy đất trắng bằng phẳng từ xa, bảo các
cận thần:
“–
Các khanh có thấy đất trắng bằng phẳng của châu Uất-đơn-viết
này không?
“Các
cận thần đáp:
“–
Dạ thấy, tâu Thiên vương.
“Nhà
vua lại bảo:
“–
Các khanh biết không? Đó là lúa tự nhiên của người xứ
Uất-đơn-viết. Người Uất-đơn-viết thường ăn loại thức
ăn đó. Các khanh cũng nên ăn loại thức ăn đó.
“Này
A-nan, xa xa, vua Đảnh Sanh lại thấy tại châu Uất-đơn-viết
có biết bao loại cây quí báu, khoe đủ màu sắc ở trong lan
can, liền bảo cận thần:
“–
Các khanh có thấy biết bao nhiêu loại cây quí báu, khoe đủ
màu sắc ở trong lan can tại châu Uất-đơn-viết không?
“Các
cận thần đáp:
“–
Dạ thấy, tâu Thiên vương.
“Vua
lại đáp:
“–
Các khanh biết không? Đó là thứ cây áo[7]
của người xứ Uất-đơn-viết. Người Uất-đơn-viết dùng
thứ ấy mà mặc. Các khanh cũng nên dùng thứ ấy mà mặc.
“Này
A-nan, trong phút chốc, nhà vua đến trú ở châu Uất-đơn-viết.
Này A-nan, sau khi cùng quyến thuộc đến đó, vua Đảnh Sanh
thống trị châu Uất-đơn-viết suốt cả trăm ngàn vạn năm.
“Này
A-nan, một thời gian hết sức lâu xa về sau nữa, vua Đảnh
Sanh kia lại nghĩ: ‘Ta có châu Diêm-phù giàu có vô cùng, nhân
dân đông đúc. Ta có bảy báu, đầy đủ một ngàn người
con và ở trong cung mưa báu bảy ngày, dâng đến đầu gối.
Ta cũng có châu Cù-đà-ni, cũng có châu Phất-bà-bệ-đà-đề
lại có thêm châu Uất-đơn-viết. Ta lại từng nghe người
xưa nói rằng, có cõi trời tên là Tam thập tam thiên. Nay ta
muốn đến thấy Tam thập tam thiên’.
“Này
A-nan, vua Đảnh Sanh có đại như ý túc, có đại oai đức,
có đại phước hựu, có đại oai thần, nên vừa khởi tâm
ưa thích như vậy, liền dùng như ý túc cưỡi hư không cùng
với bốn loại quân, hướng theo ánh sáng mặt trời mà đi.
Này A-nan, từ xa, vua Đảnh Sanh đã thấy ở trong Tam thập
tam thiên, trên đỉnh núi chúa Tu di, có một vật lớn như
một đám mây lớn, liền bảo các cận thần:
“–
Các khanh có thấy ở trên đỉnh núi chúa Tu di trong cõi trời
Tam thập tam (có một vật) như một đám mây lớn ấy chăng?
“Các
cận thần đáp:
“–
Dạ thấy, tâu Thiên vương.
“Nhà
vua lại bảo:
“–
Các khanh biết chăng? Đó là cây Trú đạc[8]
của trời Tam thập tam thiên vậy. Dưới gốc cây này, vào
mùa hạ tháng tư, các vị Trời ở Tam thập tam thiên vui chơi
với đầy đủ năm thứ dục lạc.
“Này
A-nan, từ xa, vua Đảnh Sanh thấy ở trong trời Tam thập tam
thiên, trên đỉnh núi chúa Tu di, gần về hướng Nam có một
vật giống như đám mây lớn, liền bảo các cận thần:
“–
Các khanh có thấy ở trong trời Tam thập tam thiên, trên đỉnh
núi Tu di, gần về mé Nam, có một vật giống như đám mây
lớn không?
“–
Có thấy, tâu Thiên vương.
“Nhà
vua lại bảo:
“–
Các khanh biết không? Đó là nhà Chánh pháp[9]
của Tam thập tam thiên. Vị Trời Tam thập tam thiên ở trong
nhà ấy, vào những ngày mồng tám, mười bốn hoặc mười
lăm, vì loài trời, vì loài người mà tư duy về pháp, tư
duy về nghĩa.
“Này
A-nan, vua Đảnh Sanh liền đến cõi Tam thập tam thiên. Đến
nơi, nhà vua đi vào nhà Chánh pháp. Ở đó, Thiên Đế-thích
nhường một nửa chỗ ngồi cho vua Đảnh Sanh và mời ngồi.
Vua Đảnh Sanh liền ngồi xuống trên nửa chỗ ngồi của Thiên
Đế-thích. Bấy giờ, nhà vua và Thiên Đế-thích hoàn toàn
không khác gì nhau; ánh sáng và ánh sáng không khác, màu sắc
và màu sắc không khác, hình dung và hình dung không khác, oai
nghi lễ tiết và y phục cũng không khác nhau; chỉ có con mắt
nháy là khác nhau.
“Này
A-nan, vua Đảnh Sanh kia một thời gian hết sức lâu xa về
sau nữa, lại nghĩ: ‘Ta có châu Diêm-phù giàu có, hoan lạc
cùng cực, nhân dân đông đúc. Ta có bảy báu, đầy đủ một
ngàn người con, và ở trong cung mưa báu bảy ngày dâng đến
đầu gối. Ta lại có châu Cù-đà-ni, có châu Phất-bà-bệ-đà-đề,
có châu Uất-đơn-viết. Ta cũng đã thấy Tam thập tam thiên
vân tập đại hội. Ta đã được vào nhà Chánh pháp của
chư Thiên, lại được Thiên Đế-thích nhường cho một nửa
chỗ ngồi, và ta đã ngồi trên một nửa chỗ ngồi của Thiên
Đế-thích. Ta với Thiên Đế-thích hoàn toàn không khác gì
nhau; ánh sáng không khác, màu sắc không khác, hình dung không
khác, oai nghi lễ tiết cho đến y phục cũng không sai khác,
chỉ có con mắt nháy là khác nhau mà thôi. Nay có lẽ ta đuổi
Thiên Đế-thích đi, cướp lấy phân nửa chỗ ngồi ấy mà
làm vua loài Trời và loài Người, tự do tự tại.
“Này
A-nan, vua Đảnh Sanh vừa khởi ý niệm như vậy, bất giác
rơi xuống châu Diêm-phù, liền mất như ý túc, nhuốm bệnh,
đau nguy kịch. Đến lúc sắp chết, các cận thần đến bên
nhà vua hỏi rằng:
“–
Tâu Thiên vương, nếu có vị Phạm chí, cư sĩ và kẻ bày
tôi hay thần dân nào đến hỏi các hạ thần rằng: ‘Lúc
băng hà Đảnh Sanh vương chỉ bảo những gì?’ Tâu Thiên
vương, các hạ thần trả lời thế nào cho Phạm chí, cư sĩ
hay thần dân ấy?
“Nhà
vua bảo cận thần:
“–
Nếu có Phạm chí, cư sĩ, hay thần dân nào đến hỏi các
khanh rằng: ‘Lúc băng hà, nhà vua đã nói những gì?’ Thì
các khanh nên đáp như thế này: ‘Vua Đảnh Sanh đã được
châu Diêm-phù, nhưng khi chết vẫn chưa thỏa mãn. Vua Đảnh
Sanh đã được bảy báu, nhưng khi chết vẫn chưa được thỏa
mãn. Vua Đảnh Sanh đã đầy đủ một ngàn người con, nhưng
khi chết vẫn chưa thỏa mãn. Vua Đảnh Sanh đã có bảy ngày
mưa báu, nhưng khi chết vẫn chưa thỏa mãn. Vua Đảnh Sanh
đã được châu Cù-đà-ni, nhưng khi chết vẫn chưa thỏa mãn.
Vua Đảnh Sanh đã được châu Phất-bà-bệ-đà-đề, nhưng
khi chết vẫn chưa thỏa mãn. Vua Đảnh Sanh đã được châu
Uất-đơn-viết, nhưng khi chết vẫn chưa thỏa mãn. Vua Đảnh
Sanh đã thấy chư Thiên tụ hội, nhưng khi chết vẫn chưa
thỏa mãn. Vua Đảnh Sanh đã hưởng đầy đủ các đặc tính
của năm thứ dục lạc, sắc, thanh, hương, vị, xúc; nhưng
khi chết vẫn chưa thỏa mãn’. Nếu có vị Phạm chí, hay
thần dân nào đến hỏi các khanh rằng: ‘Lúc băng hà vua
Đảnh Sanh đã nói những gì?’ Thì các khanh nên trả lời
đúng như thế.”
Bấy
giờ Đức Thế Tôn đọc bài tụng:
Trời
mưa trân bảo quí,
Chưa
thỏa lòng kẻ dục.
Ham
muốn, khổ; nào vui.
Kẻ
trí cần phải biết.
Giả
sử được đống vàng,
Cao
như núi Hy-mã,
Vẫn
chưa đủ mảy may;
Kẻ
trí nghĩ như vậy.
Được
ngũ dục trên trời,
Chẳng
cho đó là vui.
Dứt
ái, không đắm dục;
Là
đệ tử Chánh giác.
Rồi
Đức Thế Tôn bảo:
“Này
A-nan, vua Đảnh Sanh ngày xưa ấy, Ông cho là ai khác chăng?
Chớ nghĩ như vậy. Nên biết rằng, vị ấy chính là Ta vậy.
Này A-nan, lúc bấy giờ ta được lợi ích, cũng làm lợi ích
cho người khác, cho mọi người, thương xót thế gian, vì trời
và vì loài người mà cầu nghĩa và lợi ích, cầu an ổn khoái
lạc. Lúc bấy giờ, Ta nói pháp không đến chỗ rốt ráo,
không rốt ráo bạch tịnh, không rốt ráo phạm hạnh. Vì không
rốt ráo phạm hạnh hoàn toàn, lúc ấy Ta không lìa khỏi sự
sanh, già, bệnh, chết, khóc than, ảo não, cũng chưa thể thoát
ra ngoài mọi khổ đau. Này A-nan, hôm nay Ta xuất hiện ở thế
gian, là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh
Thành Tựu, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo
Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, hiệu là Phật, là Chúng Hựu. Nay
Ta đã làm lợi ích cho mình, cũng làm lợi ích cho người khác,
cho mọi người, thương xót thế gian, vì trời và vì người
mà cầu nghĩa và lợi ích, cầu an ổn khoái lạc.
“Nay
Ta thuyết pháp đã đến chỗ rốt ráo, rốt ráo bạch tịnh,
rốt ráo phạm hạnh. Khi đã rốt ráo phạm hạnh; Ta lìa khỏi
sự sanh, già, bệnh, chết, khóc than, ảo não. Ta đã thoát
khỏi mọi khổ đau.”
Đức
Phật thuyết giảng như vậy, Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo
sau khi nghe thuyết giảng, hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Không thấy Pāli
tương đương.
Tham chiếu Divy. tr.210-226. Hán biệt dịch, No.39. Phật Thuyết Đảnh
Sanh Vương Cố Sự Kinh, Tây Tấn Pháp Cự dịch; No.40. Văn-đà-kiệt
Vương Kinh, Bắc Lương Đàm-vô-sấm
dịch; No.125 (17.7) Tăng
Nhất, phẩm 17 kinh số 7.
[2]Đảnh
Sanh 頂
生, Pāli:
Muddhāvasitta;
No.40 âm là Văn-đà-kiệt.
Thường gọi là Quán đảnh
vương, vua được
truyền ngôi bằng phép quán đảnh.
[3]
Cù-đà-ni 瞿
陀 尼, tức Tây
ngưu hóa châu (đại
lục phía tây, nơi lấy bò làm vật ngang giá để
trao đổi
hàng hóa).
[4]
Phất-bà-bệ-đà-đề 弗
婆 鞞 陀 提. Pāli:
pubbavideha, châu Thắng thân ở phương Đông.
[5]
Uất-đơn-viết 鬱
單 日; phiên âm
khác: Bắc Câu-lô châu. Pāli:
Uttara-kura.
[6]
Nghĩa là, không có ý tưởng về tự ngã hay linh hồn và không
có tư hữu hay sở hữu cá nhân.
[7]
Y thọ 衣
樹. Người ở đây
dùng vỏ cây làm y phục.
[8]
Trú đạc
thọ 晝
度 樹, “cây đo
bóng ngày”. Pāli:
pāricchattaka,
cũng dịch là san hô thọ, viên sanh thọ.
[9]
Chánh pháp đường 正
法 堂; Pāli:
Dhammasabhā,
hội trường của chư Thiên.