57. KINH TỨC
VỊ TỲ-KHEO THUYẾT[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn
Cấp cô độc.
Bấy
giờ, Thế Tôn nói các Tỳ-kheo rằng:
“Tâm
giải thoát chưa thuần thục mà muốn cho thuần thục, có năm
pháp để tu tập. Những gì là năm?
“Tỳ-kheo,
tự mình là thiện tri thức, cùng sống chung với thiện tri
thức và cùng hòa hợp với thiện tri thức. Tâm giải thoát
chưa thuần thục mà muốn cho thuần thục thì đó là pháp
tu tập thứ nhất.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo, tu tập cấm giới, thủ hộ tùng giải thoát,
lại phải khéo thâu nhiếp oai nghi lễ tiết, thấy tội lỗi
nhỏ nhặt cũng thường sanh lòng lo sợ, thọ trì học giới.
Tâm giải thoát chưa thuần thục mà muốn cho thuần thục thì
đó là pháp tu tập thứ hai.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo, nên nói điều đáng nói, phù hợp nghĩa của
bậc Thánh, khiến tâm nhu nhuyến, làm cho tâm không bị che
lấp, tức là nói về giới, nói về định, nói về tuệ,
nói về giải thoát, nói về giải thoát tri kiến, nói về
sự tổn giảm lần lần, nói về việc không ưa tụ họp,
nói về thiểu dục, nói về tri túc, nói về pháp đoạn trừ,
nói về vô dục, nói về pháp diệt, nói về tĩnh tọa, nói
về duyên khởi. Có được những điều được nói như vậy
của Sa-môn, được trọn đủ, dễ được chứ không khó.
Tâm giải thoát chưa thuần thục mà muốn cho thuần thục thì
đó là pháp tu tập thứ ba.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo, thường tu hành tinh tấn, đoạn trừ pháp ác
bất thiện, tu các pháp thiện, thường tự khởi ý, chuyên
nhất kiên cố; vì mục đích tìm cầu gốc rễ thiện mà không
xả bỏ phương tiện. Tâm giải thoát chưa thuần thục mà
muốn cho thuần thục thì đó là pháp tu tập thứ tư.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo, tu hành về trí tuệ, quán sát sự hưng thịnh
và suy vi của các pháp; chứng trí như vậy, bằng Thánh tuệ
minh đạt, phân biệt thấu hiểu, mà chân chánh diệt tận
khổ đau. Tâm giải thoát chưa thuần thục mà muốn cho thuần
thục thì đó là pháp tu tập thứ năm.
“Vị
ấy khi đã có năm pháp tu tập như vậy rồi, lại phải tu
bốn pháp khác nữa. Những gì là bốn? Tu ố lộâ để đoạn
trừ dục. Tu từ để đoạn trừ sân nhuế. Tu sổ tức để
đoạn trừ tâm niệm tán loạn. Tu vô thường để đoạn trừ
ngã mạn.
“Nếu
Tỳ-kheo nào tự mình là thiện tri thức, cùng sống chung với
thiện tri thức và cùng hòa hợp với thiện tri thức, thì
nên biết vị ấy chắc chắn tu tập cấm giới, thủ hộ tùng
giải thoát, lại khéo thâu nhiếp các oai nghi, lễ tiết, thấy
tội nhỏ cũng sanh lòng lo sợ, thọ trì học giới.
“Nếu
Tỳ-kheo tự mình là thiện tri thức, cùng sống chung với thiện
tri thức và cùng hòa hợp với thiện tri thức, thì nên biết,
vị ấy nói điều đáng nói, đúng theo nghĩa của bậc thánh,
khiến tâm nhu nhuyến, làm cho tâm chẳng bị ngăn che, tức
là nói về giới, nói về định, nói về tuệ, nói về giải
thoát, nói về giải thoát tri kiến, nói về sự tổn giảm
dần dần, nói về việc không ưa tụ họp, nói về thiểu
dục, nói về tri túc, nói về pháp đoạn, nói về pháp diệt,
nói về vô dục, nói về tĩnh tọa, nói về duyên khởi. Có
được những điều được nói như vậy của Sa-môn, được
trọn đủ, dễ được chứ không khó.
“Nếu
Tỳ-kheo tự mình là thiện tri thức, cùng sống chung với thiện
tri thức và cùng hòa hợp với thiện tri thức, thì nên biết
rằng, vị ấy chắc chắn thường tu hành tinh tấn, đoạn
các pháp ác bất thiện, thường khởi tâm chuyên nhất kiên
cố, vì mục đích tìm cầu gốc rễ thiện mà không xả bỏ
phương tiện.
“Nếu
Tỳ-kheo nào tự mình là thiện tri thức, cùng sống chung với
thiện tri thức và cùng hòa hợp với thiện tri thức, thì
nên biết rằng, vị ấy chắc chắn tu hành về trí tuệ, quán
sát sự hưng thịnh và suy vi của các pháp; chứng trí như
vậy, bằng Thánh tuệ minh đạt, phân biệt thấu hiểu, mà
chân chánh diệt tận khổ đau.
“Nếu
Tỳ-kheo nào tự mình là thiện tri thức, cùng sống chung với
thiện tri thức và cùng hòa hợp với thiện tri thức, thì
nên biết rằng, vị ấy chắc chắn tu ố lộ để đoạn trừ
dục. Tu từ để đoạn trừ sân nhuế. Tu sổ tức để đoạn
trừ tâm niệm tán loạn. Tu vô thường để đoạn trừ ngã
mạn.
“Nếu
Tỳ-kheo nào đắc vô thường tưởng, chắc chắn đắc vô
ngã tưởng. Nếu Tỳ-kheo nào đắc vô ngã tưởng thì ngay
trong đời hiện tại đoạn hết thảy ngã mạn, chứng đắc
tịch tĩnh, diệt tận, vô vi, Niết-bàn”.
Phật
thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan
hỷ phụng hành.
Chú
thích