52.
KINH THỰC (I)[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn
Cấp cô độc. Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Không
thể biết biên tế[2]
cùng cực của hữu ái. Trước vốn không có hữu ái, nhưng
nay sanh ra hữu ái, do đó mới có thể biết được nhân của
hữu ái.
“Hữu
ái có thức ăn[3]
chứ không phải không thức ăn. Thức ăn của hữu ái là gì?
Vô minh là thức ăn.
“Vô
minh cũng có thức ăn chứ không phải không thức ăn. Thức
ăn của vô minh là gì? Năm triền cái[4]
là thức ăn.
“Năm
triền cái cũng có thức ăn chứ không phải không thức ăn.
Thức ăn của năm triền cái là gì? Ba ác hành là thức ăn.
“Ba
ác hành cũng có thức ăn chứ không phải không thức ăn. Thức
ăn của ba ác hành là gì? Không thủ hộ các căn là thức
ăn.
“Không
thủ hộ các căn cũng có thức ăn chứ không phải không thức
ăn. Thức ăn của không thủ hộ các căn là gì? Không chánh
niệm chánh trí là thức ăn.
“Không
chánh niệm chánh trí cũng có thức ăn chứ không phải không
thức ăn. Thức ăn của không chánh niệm chánh trí là gì?
Không chánh tư duy là thức ăn.
“Không
chánh tư duy cũng có thức ăn chứ không phải không thức ăn.
Thức ăn của không chánh tư duy là gì? Không có tín là thức
ăn.
“Không
có tín cũng có thức ăn chứ không phải không thức ăn. Thức
ăn của không có tín là gì? Nghe pháp ác là thức ăn.
“Nghe
pháp ác cũng có thức ăn chứ không phải không thức ăn. Thức
ăn của nghe pháp ác là gì? Gần gũi ác tri thức là thức
ăn.
“Gần
gũi ác tri thức cũng có thức ăn chứ không phải không thức
ăn. Thức ăn của gần gũi ác tri thức là gì? Người ác là
thức ăn.
“Như
thế, có đủ người ác liền có đủ sự gần gũi ác tri
thức. Có đủ sự gần gũi ác tri thức rồi liền có đủ
sự nghe pháp ác. Có đủ sự nghe pháp ác rồi, liền có đủ
sự sanh lòng bất tín. Có đủ sự sanh lòng bất tín rồi,
liền không chánh tư duy. Có đủ sự không chánh tư duy rồi,
liền có đủ sự không chánh niệm chánh trí. Có đủ sự
không chánh niệm chánh trí rồi, liền có đủ sự không thủ
hộ các căn. Có đủ sự không thủ hộ các căn rồi, liền
có đủ ba ác hành. Đủ ba ác hành rồi, liền có đủ năm
triền cái. Đủ năm triền cái rồi, liền có đủ vô minh.
Có đủ vô minh rồi, liền đầy đủ hữu ái.
“Như
vậy, hữu ái này lần lượt được tựu thành trọn vẹn.
“Biển
cả cũng có thức ăn chứ không phải không có thức ăn. Thức
ăn của biển cả là gì? Sông lớn là thức ăn.
“Sông
lớn cũng có thức ăn chứ không phải không có thức ăn. Thức
ăn của sông lớn là gì? Sông nhỏ là thức ăn.
“Sông
nhỏ cũng có thức ăn chứ không phải không có thức ăn. Thức
ăn của sông nhỏ là gì? Lạch lớn[5]
là thức ăn.
“Lạch
lớn cũng có thức ăn chứ không phải không có thức ăn. Thức
ăn của lạch lớn là gì? Lạch nhỏ là thức ăn.
“Lạch
nhỏ cũng có thức ăn chứ không phải không có thức ăn. Thức
ăn của lạch nhỏ là gì? Suối, chằm trong các sườn núi
là thức ăn.
“Suối,
chằm trong các sườn núi cũng có thức ăn chứ không phải
không có thức ăn. Thức ăn của suối, chằm trong các sườn
núi là gì? Mưa là thức ăn.
“Có
lúc mưa lớn. Mưa lớn rồi thì suối, chằm trong các sườn
núi tràn đầy. Suối, chằm trong các sườn núi tràn đầy
rồi thì lạch nhỏ tràn đầy. Lạch nhỏ tràn đầy rồi thì
lạch lớn tràn đầy. Lạch lớn tràn đầy thì sông nhỏ tràn
đầy. Sông nhỏ tràn đầy thì sông lớn tràn đầy. Sông lớn
tràn đầy thì biển cả tràn đầy. Như vậy, biển cả kia
lần hồi tràn đầy trọn vẹn.
“Giống
như vậy, hữu ái cũng có thức ăn chứ không phải không có
thức ăn. Thức ăn của hữu ái là gì? Vô minh là thức ăn.
“Vô
minh cũng có thức ăn chứ không phải không thức ăn. Thức
ăn của vô minh là gì? Năm triền cái là thức ăn.
“Năm
triền cái cũng có thức ăn chứ không phải không thức ăn.
Thức ăn của năm triền cái là gì? Ba ác hành là thức ăn.
“Ba
ác hành cũng có thức ăn chứ không phải không thức ăn. Thức
ăn của ba ác hành là gì? Không thủ hộ các căn là thức
ăn.
“Không
thủ hộ các căn cũng có thức ăn chứ không phải không thức
ăn. Thức ăn của không thủ hộ các căn là gì? Không chánh
niệm chánh trí là thức ăn.
“Không
chánh niệm chánh trí cũng có thức ăn chứ không phải không
thức ăn. Thức ăn của không chánh niệm chánh trí là gì?
Không chánh tư duy là thức ăn.
“Không
chánh tư duy cũng có thức ăn chứ không phải không thức ăn.
Thức ăn của không chánh tư duy là gì? Không có tín là thức
ăn.
“Không
có tín cũng có thức ăn chứ không phải không thức ăn. Thức
ăn của không có tín là gì? Nghe pháp ác là thức ăn.
“Nghe
pháp ác cũng có thức ăn chứ không phải không thức ăn. Thức
ăn của nghe pháp ác là gì? Gần gũi ác tri thức là thức
ăn.
“Gần
gũi ác tri thức cũng có thức ăn chứ không phải không thức
ăn. Thức ăn của gần gũi ác tri thức là gì? Người ác là
thức ăn.
“Như
thế, có đủ người ác liền có đủ sự gần gũi ác tri
thức. Có đủ sự gần gũi ác tri thức rồi liền có đủ
sự nghe pháp ác. Có đủ sự nghe pháp ác rồi, liền có đủ
sự sanh lòng bất tín. Có đủ sự sanh lòng bất tín rồi,
liền không chánh tư duy. Có đủ sự không chánh tư duy rồi,
liền có đủ sự không chánh niệm chánh trí. Có đủ sự
không chánh niệm chánh trí rồi, liền có đủ sự không thủ
hộ các căn. Có đủ sự không thủ hộ các căn rồi, liền
có đủ ba ác hành. Đủ ba ác hành rồi, liền có đủ năm
triền cái. Đủ năm triền cái rồi, liền có đủ vô minh.
Có đủ vô minh rồi, liền đầy đủ hữu ái.
“Như
vậy, hữu ái này lần lượt được tựu thành trọn vẹn.
“Minh
giải thoát cũng có thức ăn chứ không phải không có thức
ăn. Thức ăn của minh giải thoát là gì? Bảy giác chi là thức
ăn.
“Bảy
giác chi cũng có thức ăn chứ không phải không có thức ăn.
Thức ăn của bảy giác chi là gì? Bốn niệm xứ là thức
ăn.
“Bốn
niệm xứ cũng có thức ăn chứ không phải không có thức
ăn. Thức ăn của bốn niệm xứ là gì? Ba diệu hạnh là thức
ăn.
“Ba
diệu hạnh cũng có thức ăn chứ không phải không có thức
ăn. Thức ăn của ba diệu hạnh là gì? Thủ hộ các căn là
thức ăn.
“Thủ
hộ các căn cũng có thức ăn chứ không phải không có thức
ăn. Thức ăn của gìn giữ các căn là gì? Chánh niệm chánh
trí là thức ăn.
“Chánh
niệm chánh trí cũng có thức ăn chứ không phải không có
thức ăn. Thức ăn của chánh niệm chánh trí là gì? Chánh
tư duy là thức ăn.
“Chánh
tư duy cũng có thức ăn chứ không phải không có thức ăn.
Thức ăn của chánh tư duy là gì? Tín là thức ăn.
“Tín
cũng có thức ăn chứ không phải không có thức ăn. Thức
ăn của tín là gì? Nghe điều thiện là thức ăn.
“Nghe
điều thiện cũng có thức ăn chứ không phải không có thức
ăn. Thức ăn của nghe điều thiện là gì? Gần gũi thiện
tri thức là thức ăn.
“Gần
gũi thiện tri thức cũng có thức ăn chứ không phải không
có thức ăn. Thức ăn của gần gũi thiện tri thức là gì?
Người thiện là thức ăn.
“Đó
là, có đủ người thiện liền có đủ sự gần gũi thiện
tri thức. Đủ sự gần gũi thiện tri thức liền có đủ sự
nghe điều thiện. Có đủ sự nghe điều thiện liền có đủ
tín. Có đủ tín liền có đủ chánh tư duy. Có đủ chánh
tư duy liền có đủ chánh niệm chánh trí. Có đủ chánh niệm
chánh trí mới có đủ sự thủ hộ các căn. Có đủ sự thủ
hộ các căn liền có đủ ba diệu hành. Có đủ ba diệu hành
liền có đủ bốn niệm xứ. Có đủ bốn niệm xứ liền
có đủ bảy giác chi. Có đủ bảy giác chi liền đầy đủ
minh giải thoát. Như vậy, minh giải thoát này lần lượt được
thành tựu toàn vẹn”.
“Biển
cả cũng có thức ăn chứ không phải không có thức ăn. Thức
ăn của biển cả là gì? Sông lớn là thức ăn.
“Sông
lớn cũng có thức ăn chứ không phải không có thức ăn. Thức
ăn của sông lớn là gì? Sông nhỏ là thức ăn.
“Sông
nhỏ cũng có thức ăn chứ không phải không có thức ăn. Thức
ăn của sông nhỏ là gì? Lạch lớn là thức ăn.
“Lạch
lớn cũng có thức ăn chứ không phải không có thức ăn. Thức
ăn của lạch lớn là gì? Lạch nhỏ là thức ăn.
“Lạch
nhỏ cũng có thức ăn chứ không phải không có thức ăn. Thức
ăn của lạch nhỏ là gì? Suối, chằm trong các sườn núi
là thức ăn.
“Suối,
chằm trong các sườn núi cũng có thức ăn chứ không phải
không có thức ăn. Thức ăn của suối, chằm trong các sườn
núi là gì? Mưa là thức ăn.
“Có
lúc mưa lớn. Mưa lớn rồi thì suối, chằm trong các sườn
núi tràn đầy. Suối, chằm trong các sườn núi tràn đầy
rồi thì lạch nhỏ tràn đầy. Lạch nhỏ tràn đầy rồi thì
lạch lớn tràn đầy. Lạch lớn tràn đầy thì sông nhỏ tràn
đầy. Sông nhỏ tràn đầy thì sông lớn tràn đầy. Sông lớn
tràn đầy thì biển cả tràn đầy. Như vậy, biển cả kia
lần hồi tràn đầy trọn vẹn.
“Cũng
vậy, minh giải thoát cũng có thức ăn chứ không phải không
có thức ăn. Thức ăn của minh giải thoát là gì? Bảy giác
chi là thức ăn.
“Bảy
giác chi cũng có thức ăn chứ không phải không có thức ăn.
Thức ăn của bảy giác chi là gì? Bốn niệm xứ là thức
ăn.
“Bốn
niệm xứ cũng có thức ăn chứ không phải không có thức
ăn. Thức ăn của bốn niệm xứ là gì? Ba diệu hạnh là thức
ăn.
“Ba
diệu hạnh cũng có thức ăn chứ không phải không có thức
ăn. Thức ăn của ba diệu hạnh là gì? Thủ hộ các căn là
thức ăn.
“Thủ
hộ các căn cũng có thức ăn chứ không phải không có thức
ăn. Thức ăn của gìn giữ các căn là gì? Chánh niệm chánh
trí là thức ăn.
“Chánh
niệm chánh trí cũng có thức ăn chứ không phải không có
thức ăn. Thức ăn của chánh niệm chánh trí là gì? Chánh
tư duy là thức ăn.
“Chánh
tư duy cũng có thức ăn chứ không phải không có thức ăn.
Thức ăn của chánh tư duy là gì? Tín là thức ăn.
“Tín
cũng có thức ăn chứ không phải không có thức ăn. Thức
ăn của tín là gì? Nghe điều thiện là thức ăn.
“Nghe
điều thiện cũng có thức ăn chứ không phải không có thức
ăn. Thức ăn của nghe điều thiện là gì? Gần gũi thiện
tri thức là thức ăn.
“Gần
gũi thiện tri thức cũng có thức ăn chứ không phải không
có thức ăn. Thức ăn của gần gũi thiện tri thức là gì?
Người thiện là thức ăn.
“Đó
là, có đủ người thiện liền có đủ sự gần gũi thiện
tri thức. Đủ sự gần gũi thiện tri thức liền có đủ sự
nghe điều thiện. Có đủ sự nghe điều thiện liền có đủ
tín. Có đủ tín liền có đủ chánh tư duy. Có đủ chánh
tư duy liền có đủ chánh niệm chánh trí. Có đủ chánh niệm
chánh trí mới có đủ sự thủ hộ các căn. Có đủ sự thủ
hộ các căn liền có đủ ba diệu hành. Có đủ ba diệu hành
liền có đủ bốn niệm xứ. Có đủ bốn niệm xứ liền
có đủ bảy giác chi. Có đủ bảy giác chi liền đầy đủ
minh giải thoát. Như vậy, minh giải thoát này lần lượt được
thành tựu toàn vẹn”. Phật thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo
sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
Tham chiếu Pāli: A.x. 61-62 Āhāra. Tham chiếu thêm kinh số 51
trên.
Phần lớn nội dung giống như kinh 51 trên, chỉ khác ở chỗ
kinh 51 nói là tập (nguyên nhân tập khởi) thì kinh này
nói là thực (thức ăn).
Hán: hữu ái giả tắc hữu thực 有愛者則有食.
Pāli: bhavataṇhaṃ pāhaṃ, bhikkhave, sāhāraṃ vadāmi, “Ta
nói, này các Tỳ-kheo, hữu ái có thức ăn.” Kinh số 51: tập,
chỉ cho nguyên nhân tập khởi. Bản Pāli: āhāra (thức ăn)
đồng nghĩa paccāya (duyên).
Xem cht.6 kinh 51.
Hán: đại xuyên 大川.
Pāli: mahāsobbha, hồ lớn.