43.
KINH BẤT TƯ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn
Cấp cô độc.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn nói rằng:
“Này
A-nan, người giữ giới không nên nghĩ rằng: ‘Mong sao tôi
không có sự hối hận’. Này A-nan, bởi vì pháp tánh vốn
vậy[2]
ai giữ giới, người ấy được sự không hối hận.
“Này
A-nan, người đã được sự không hối hận, không nên nghĩ
rằng: ‘Mong sao tôi được hân hoan. Này A-nan, bởi vì pháp
tánh vốn như vậy, ai không hối hận người ấy được hân
hoan.
“Này
A-nan, người đã được sự hân hoan không nên nghĩ rằng:
‘Mong sao tôi được hỷ’. Này A-nan, bởi vì pháp tánh vốn
vậy, ai có hân hoan, người ấy được hỷ.
“Này
A-nan, người đã có hỷ không nên nghĩ rằng: ‘Mong sao tôi
được tĩnh chỉ’. Này A-nan, bởi vì pháp tánh vốn như vậy,
ai có hỷ, người ấy được tĩnh chỉ.
“Này
A-nan, người đã được tĩnh chỉ không nên nghĩ rằng: ‘Mong
sao tôi có lạc’. Này A-nan, bởi vì pháp tánh vốn vậy, ai
đã có tĩnh chỉ, người ấy được cảm thọ lạc.
“Này
A-nan, người đã có lạc không nên nghĩ rằng: ‘Mong sao tôi
có định’. Này A-nan, bởi vì pháp tánh vốn vậy, ai có lạc,
người ấy có định.
“Này
A-nan, người đã có định không nên nghĩ rằng: ‘Mong sao
tôi thấy như thật, biết như chân’. Này A-nan, bởi vì pháp
tánh vốn vậy, ai có định, người ấy thấy như thật, biết
như chân.
“Này
A-nan, người thấy như thật, biết như chân không nên nghĩ
rằng: ‘Mong sao tôi có sự yếm ly’. Này A-nan, bởi vì pháp
tánh vốn như vậy, ai thấy như thật, biết như chân, người
ấy có sự yếm ly.
“Này
A-nan, người đã có sự yếm ly không nên nghĩ rằng: ‘Mong
sao tôi được vô dục’. Này A-nan, bởi vì pháp tánh vốn
như vậy, ai có sự yếm ly người ấy được vô dục.
“Này
A-nan, người đã vô dục không nên nghĩ rằng: ‘Mong sao tôi
được giải thoát’. Này A-nan, bởi vì pháp tánh vốn như
vậy, ai đã vô dục người ấy được giải thoát hết
thảy dâm, nộ, si.
“Này
A-nan, đấy là nhân trì giới mà được không hối hận, nhân
không hối hận mà được hân hoan, nhân hân hoan mà được
hỷ, nhân hỷ mà được chỉ, nhân chỉ mà được lạc, nhân
lạc mà được định.
“Này
A-nan, Đa văn Thánh đệ tử nhân định mà có tri kiến như
thật, nhân có tri kiến như thật mà có yếm ly, nhân có yếm
ly mà được vô dục, nhân vô dục mà được giải thoát,
nhân giải thoát mà có giải thoát tri kiến, biết đúng như
thật rằng: ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc
cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’.
“Này
A-nan, đó chính là các pháp hỗ trợ lẫn nhau, làm nhân cho
nhau. Như vậy, giới này đưa đến chỗ cao tột, tức là đưa
từ bờ này đến tận bờ kia.
Phật
thuyết như vậy. Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật
thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Tương đương
Pāli: A.x.2. Cetanā,
tư, không có nghĩa bất như bản Hán.
[2]
Hán: pháp tự nhiên法
自 然. Pāli:
dhammatā
esā, pháp tánh
là như thế.