42.
KINH HÀ NGHĨA[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng,
vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ vào lúc xế chiều, Tôn giả A-nan từ chỗ độc cư tĩnh
tọa[2]
đứng dậy, đến trước Đức Phật, đảnh lễ dưới chân
rồi ngồi sang một bên, thưa rằng:
“Bạch
Thế Tôn, giữ giới có ý nghĩa gì?[3]”.
Đức
Thế Tôn đáp:
“Này
A-nan, giữ giới có ý nghĩa là khiến cho không hối hận[4].
Này A-nan, nếu ai giữ giới, người ấy được sự không hối
hận”.
“Bạch
Thế Tôn, không hối hận thì có ý nghĩa gì?”
“Này
A-nan, không hối hận thì có ý nghĩa khiến cho được hân
hoan[5].
A-nan, nếu ai không hối hận, người ấy được sự hân hoan”.
“Bạch
Thế Tôn, hân hoan có ý nghĩa gì?”
“Này
A-nan, hân hoan có ý nghĩa là khiến cho có hỷ[6].
Này A-nan, nếu ai hân hoan, người ấy có hỷ”.
“Bạch
Thế Tôn, hỷ có ý nghĩa gì?”
“Này
A-nan, hỷ có ý nghĩa là khiến cho tĩnh chỉ[7].
Này A-nan, nếu ai có hỷ, người ấy có tĩnh chỉ của thân”.
“Bạch
Thế Tôn, tĩnh chỉ có ý nghĩa gì?”
“Này
A-nan, tĩnh chỉ có ý nghĩa là khiến cho lạc[8].
A-nan, nếu ai tĩnh chỉ người ấy có cảm thọ lạc.
“Bạch
Thế Tôn, lạc có ý nghĩa gì?”
“Này
A-nan, lạc có nghĩa khiến cho có định[9].
A-nan, nếu ai có lạc người ấy có định.
“Bạch
Thế Tôn, định có ý nghĩa gì?”
“Này
A-nan, định có ý nghĩa là khiến cho thấy như thật, biết
như chơn[10].
A-nan, nếu ai có định người ấy thấy như thật, biết như
chơn.
“Bạch
Thế Tôn, thấy như thật, biết như chơn có ý nghĩa gì?”
“Này
A-nan, thấy như thật, biết như chơn có ý nghĩa là khiến
cho yếm ly[11].
Này A-nan, thấy như thật, biết như chơn người ấy có sự
yếm ly.
“Bạch
Thế Tôn, yếm ly có ý nghĩa gì?”
“Này
A-nan, yếm ly có ý nghĩa là khiến cho vô dục[12].
A-nan, nếu ai yếm ly người ấy được vô dục.
“Bạch
Thế Tôn, vô dục có ý nghĩa gì?”
“Này
A-nan, vô dục có ý nghĩa là khiến cho giải thoát. Này A-nan,
nếu ai vô dục thì người ấy được giải thoát hết thảy
dâm, nộ, si.
“Cho
nên, này A-nan, nhân trì giới mà được không hối hận, nhân
không hối hận mà được hân hoan, nhân hân hoan mà được
hỷ, nhân hỷ mà được chỉ, nhân chỉ mà được lạc, nhân
lạc mà được định.
“Này
A-nan, Đa văn Thánh đệ tử nhân định mà có tri kiến như
thật, nhân có tri kiến như thật mà có yếm ly, nhân có yếm
ly mà được vô dục, nhân vô dục mà được giải thoát,
nhân giải thoát mà có giải thoát tri kiến, biết đúng như
thật rằng: ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc
cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’.
“Này
A-nan, đó chính là các pháp hỗ trợ lẫn nhau, làm nhân cho
nhau. Như vậy, giới này đưa đến chỗ cao tột, tức là đưa
từ bờ này đến tận bờ kia[13].
Phật
thuyết như vậy. Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật
thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Tương đương
Pāli: A.x. 1. Kimatthiya.
[2]
Hán: yến tọa晏
(có bản viết: 燕) 坐. Pāli:
patisallāna
hoặc paṭisallāna.
[3]
Pāli: kimatthiya,
có ý nghĩa gì, mục đích
gì, ích lợi gì?
[4]
Hán: bất hối不
悔. Pāli:
avippaṭisāra,
không hối hận.
[5]
Hán: hoan duyệt歡
悅. Pāli:
pāmojja, hân hoan,
thích thú, vui vẻ.
[6]
Hán: hỷ喜.
Pāli: pīti,
trạng thái hỷ giống như xuất thần.
[8]
Hán: lạc樂.
Pāli: sukha,
an lạc, an ổn khoái lạc.
[9]Định定.
Pāli: samādhi.
[10]
Hán: kiến như thật, tri như chân見
如 實 知 如 真. Pāli:
yathābhūtaññaṇadassana,
tri kiến như thật.
[11]
Hán: yếm厭. Pāli:
nibbidā,
sự chán ghét, nhàm tờm.
[12]
Hán: vô dục無
欲. Pāli:
virāga, ly dục,
ly tham; không còn tham dục.
[13]
Pāli: iti
kho Ananda kusalāni
sīlāni
anupubbena aggāya
parentī
ti, đó là
các thiện giới lần lượt dẫn đến
chỗ cao tột.