40.
KINH THỦ TRƯỞNG GIẢ (I)[1]
Tôi
nghe như vầy:
Môt
thời Phật du hóa tại A-la-bệ Già-la[2],
trong Hòa lâm.
Bấy
giờ Thủ Trưởng giả[3],
cùng với năm trăm Đại trưởng giả đi đến chỗ Phật,
cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật rồi ngồi sang một bên.
Năm trăm Trưởng giả cũng cúi đầu đảnh lễ dưới chân
Phật rồi ngồi sang một bên.
Đức
Thế Tôn bảo rằng:
“Này
Thủ Trưởng giả, nay ông có một chúng rất đông này, Trưởng
giả, ông dùng phương pháp gì để nhiếp hóa đại chúng này?”
Bấy
giờ Thủ Trưởng giả thưa rằng:
“Bạch
Thế Tôn, có bốn sự nhiếp[4],
như Đức Thế Tôn đã dạy. Một là huệ thí, hai là ái ngôn,
ba là dĩ lợi, bốn là đẳng lợi[5].
Bạch Thế Tôn, con dùng bốn phương pháp ấy để nhiếp hóa
đồ chúng này, hoặc là dùng bố thí, hoặc là dùng ái ngôn,
hoặc là dùng lợi, hoặc là dùng đẳng lợi.
Đức
Thế Tôn khen rằng:
“Lành
thay! Lành thay! Này Thủ Trưởng giả, ông có thể bằng như
pháp ấy mà nhiếp hóa đại chúng, lại bằng như môn ấy
mà nhiếp hóa đại chúng, lại bằng như nhân duyên mà nhiếp
hóa đại chúng[6].
Này Thủ Trưởng giả, nếu trong quá khứ có Sa-môn, Phạm
chí nào[7],
bằng như pháp mà nhiếp hóa đại chúng, tất cả những sự
nhiếp hóa đấy đều hoàn toàn[8]
ở trong bốn sự nhiếp này. Này Thủ Trưởng giả, nếu trong
vị lai có Sa-môn, Phạm chí nào bằng như pháp nhiếp hóa đại
chúng, tất cả những sự nhiếp hóa ấy hoàn toàn ở trong
bốn sự nhiếp này. Này Thủ Trưởng Giả, nếu trong hiện
tại có Sa-môn, Phạm chí nào bằng như pháp nhiếp hóa đại
chúng, tất cả những pháp ấy đều hoàn toàn ở trong bốn
sự nhiếp này.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn thuyết pháp cho Thủ Trưởng giả, khuyến
giáo, khích lệ, làm cho hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng phương
tiẹân thuyết pháp cho ông, khuyến giáo, khích lệ, làm cho
hoan hỷ rồi, Ngài ngồi im lặng.
Bấy
giờ, sau khi được Đức Thế Tôn thuyết pháp cho, khuyến
giáo, khích lệ, làm cho hoan hỷ rồi, Thủ Trưởng giả liền
từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Đức Phật, nhiễu quanh
ba vòng rồi ra đi.
Trở
về nhà, khi từ cổng ngoài, nếu có gặp người nào, ông
đều thuyết pháp cho, khuyến giáo, khích lệ, làm cho hoan hỷ.
Khi đến trong cổng ngõ giữa, cổng nhỏ trong nhà và đến
bên trong nhà, nếu gặp người nào ông đều thuyết pháp cho,
khuyến giáo, khích lệ, làm cho hoan hỷ. Sau khi vào nhà, trải
giường, ngồi kiết già, tâm câu hữu với từ, biến mãn
một phương, thành tựu và an trụ. Cũng vậy, hai, ba, bốn
phương, tứ duy, thượng hạ, biến khắp tất cả, tâm câu
hữu với từ, không kết, không nhuế, không oán, không tránh,
rộng lớn bao la vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả
thế gian, thành tựu và an trụ. Cũng vậy, với bi và hỷ;
tâm câu hữu với xả, không kết, không oán, không nhuế, không
tránh, rộng lớn bao la, khéo tu tập biến mãn tất cả thế
gian thành tựu và an trụ.
Bấy
giờ chư Thiên ở cõi Tam thập tam thiên tập trung tại pháp
đường xuýt xoa khen ngợi Thủ Trưởng giả.
“Này
chư Hiền, Thủ Trưởng giả có đại thiện lợi, đại công
đức. Vì sao thế? Này chư Hiền, Thủ Trưởng giả ấy, sau
khi được Đức Phật thuyết pháp, khuyến giáo, khích lệ,
làm cho hoan hỷ rồi, ông liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh
lễ Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi ra đi. Trở về nhà, khi
từ cổng ngoài, nếu có gặp người nào, ông đều thuyết
pháp cho, khuyến giáo, khích lệ, làm cho hoan hỷ. Khi đến
trong cổng ngõ giữa, cổng nhỏ trong nhà và đến bên trong
nhà, nếu gặp người nào ông đều thuyết pháp cho, khuyến
giáo, khích lệ, làm cho hoan hỷ. Sau khi vào nhà, trải giường,
ngồi kiết già, tâm câu hữu với từ, biến mãn một phương,
thành tựu và an trụ. Cũng vậy, hai, ba, bốn phương, tứ duy,
thượng hạ, biến khắp tất cả, tâm câu hữu với từ, không
kết, không nhuế, không oán, không tránh, rộng lớn bao la vô
lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu
và an trụ. Cũng vậy, với bi và hỷ; tâm câu hữu với xả,
không kết, không oán, không nhuế, không tránh, rộng lớn bao
la, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian thành tựu và
an trụ.”
Bấy
giờ, Tỳ-sa-môn Đại thiên vương, sắc tượng nguy nga, ánh
sáng rực rỡ, lúc đêm gần về sáng, đi đến nhà Thủ Trưởng
giả, nói rằng:
“Này
Trưởng giả, ông có đại thiện lợi, có đại công đức.
Vì sao thế? Hôm nay ở cõi Tam thập tam thiên vì Trưởng giả
mà tập trung tại pháp đường xuýt xoa khen ngợi: ‘Thủ Trưởng
giả ấy có đại thiện lợi, có đại công đức. Vì sao thế?
Này chư Hiền, vì Thủ Trưởng giả ấy, sau khi được Đức
Phật thuyết pháp, khuyến giáo, khích lệ, làm cho hoan hỷ
rồi, ông liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ Phật,
nhiễu quanh ba vòng rồi ra đi. Trở về nhà, khi từ cổng ngoài,
nếu có gặp người nào, ông đều thuyết pháp cho, khuyến
giáo, khích lệ, làm cho hoan hỷ. Khi đến trong cổng ngõ giữa,
cổng nhỏ trong nhà và đến bên trong nhà, nếu gặp người
nào ông đều thuyết pháp cho, khuyến giáo, khích lệ, làm
cho hoan hỷ. Sau khi vào nhà, trải giường, ngồi kiết già,
tâm câu hữu với từ, biến mãn một phương, thành tựu và
an trụ. Cũng vậy, hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng hạ,
biến khắp tất cả, tâm câu hữu với từ, không kết, không
nhuế, không oán, không tránh, rộng lớn bao la vô lượng, khéo
tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ.
Cũng vậy, với bi và hỷ; tâm câu hữu với xả, không kết,
không oán, không nhuế, không tránh, rộng lớn bao la, khéo tu
tập biến mãn tất cả thế gian thành tựu và an trụ’.”
Bấy
giờ Thủ Trưởng giả im lặng không nói gì cả; không ngắm,
không nhìn Tỳ-sa-môn Đại thiên vương. Vì sao thế? Vì tôn
trọng định tâm và để thủ họâ định tâm của mình.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn ở giữa vô lượng trăm nghìn đại chúng,
khen ngợi Thủ Trưởng giả:
“Thủ
Trưởng giả có bảy pháp vị tằêng hữu. Sau khi Ta thuyết
pháp cho Thủ Trưởng giả ấy, khuyến giáo, khích lệ, làm
cho hoan hỷ rồi, ông liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh
lễ Ta, nhiễu quanh ba vòng rồi ra đi. Trở về nhà, khi từ
cổng ngoài, nếu có gặp người nào, ông đều thuyết pháp
cho, khuyến giáo, khích lệ, làm cho hoan hỷ. Khi đến trong
cổng ngõ giữa, cổng nhỏ trong nhà và đến bên trong nhà,
nếu gặp người nào ông đều thuyết pháp cho, khuyến giáo,
khích lệ, làm cho hoan hỷ. Sau khi vào nhà, trải giường, ngồi
kiết già, tâm câu hữu với từ, biến mãn một phương, thành
tựu và an trụ. Cũng vậy, hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng
hạ, biến khắp tất cả, tâm câu hữu với từ, không kết,
không nhuế, không oán, không tránh, rộng lớn bao la vô lượng,
khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an
trụ. Cũng vậy, với bi và hỷ; tâm câu hữu với xả, không
kết, không oán, không nhuế, không tránh, rộng lớn bao la,
khéo tu tập biến mãn tất cả thế gian thành tựu và an trụ.
“Hôm
nay chư Thiên ở Tam thập tam thiên vì Trưởng già ấy mà tập
trung ở pháp đường để khen ngợi: ‘Thủ Trưởng giả có
đại thiện lợi, đại công đức. Vì sao thế? Này chư Hiền,
Thủ Trưởng giả ấy, sau khi được Đức Phật thuyết pháp,
khuyến giáo, khích lệ, làm cho hoan hỷ rồi, ông liền từ
chỗ ngồi dứng dậy đảnh lễ Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi
ra đi. Trở về nhà, khi từ cổng ngoài, nếu có gặp người
nào, ông đều thuyết pháp cho, khuyến giáo, khích lệ, làm
cho hoan hỷ. Khi đến trong cổng ngõ giữa, cổng nhỏ trong
nhà và đến bên trong nhà, nếu gặp người nào ông đều
thuyết pháp cho, khuyến giáo, khích lệ, làm cho hoan hỷ. Sau
khi vào nhà, trải giường, ngồi kiết già, tâm câu hữu với
từ, biến mãn một phương, thành tựu và an trụ. Cũng vậy,
hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng hạ, biến khắp tất
cả, tâm câu hữu với từ, không kết, không nhuế, không oán,
không tránh, rộng lớn bao la vô lượng, khéo tu tập, biến
mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ. Cũng vậy, với
bi và hỷ; tâm câu hữu với xả, không kết, không oán, không
nhuế, không tránh, rộng lớn bao la, khéo tu tập biến mãn
tất cả thế gian thành tựu và an trụ’.
“Hôm nay Tỳ-sa-môn Đại thiên vương, sắc tượng nguy nga,
ánh sáng rực rỡ, lúc đêm gần về sáng, đi đến nhà Thủ
Trưởng giả, nói:
“–
Này Trưởng giả, ông có đại thiện lợi, có đại công đức.
Vì sao thế? Hôm nay ở cõi Tam thập tam thiên vì Trưởng giả
mà tập trung tại pháp đường xuýt xoa khen ngợi: ‘Thủ Trưởng
giả ấy có đại thiện lợi, có đại công đức. Vì sao thế?
Này chư Hiền, vì Thủ Trưởng giả ấy, sau khi được Đức
Phật thuyết pháp, khuyến giáo, khích lệ, làm cho hoan hỷ
rồi, ông liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ Phật,
nhiễu quanh ba vòng rồi ra đi. Trở về nhà, khi từ cổng ngoài,
nếu có gặp người nào, ông đều thuyết pháp cho, khuyến
giáo, khích lệ, làm cho hoan hỷ. Khi đến trong cổng ngõ giữa,
cổng nhỏ trong nhà và đến bên trong nhà, nếu gặp người
nào ông đều thuyết pháp cho, khuyến giáo, khích lệ, làm
cho hoan hỷ. Sau khi vào nhà, trải giường, ngồi kiết già,
tâm câu hữu với từ, biến mãn một phương, thành tựu và
an trụ. Cũng vậy, hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng hạ,
biến khắp tất cả, tâm câu hữu với từ, không kết, không
nhuế, không oán, không tránh, rộng lớn bao la vô lượng, khéo
tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ.
Cũng vậy, với bi và hỷ; tâm câu hữu với xả, không kết,
không oán, không nhuế, không tránh, rộng lớn bao la, khéo tu
tập biến mãn tất cả thế gian thành tựu và an trụ’.”
Bấy
giờ có một Tỳ-kheo, sau khi đêm đã qua, vào lúc sáng sớm,
khoác y ôm bát đến nhà Thủ Trưởng giả. Thủ Trưởng giả
từ xa trông thấy Tỳ-kheo, liền từ chỗ ngồi đứng dậy,
chắp tay hướng về thầy Tỳ-kheo mà thưa:
“Kính
chào Tôn giả! Tôn giả đã lâu không đến đây. Mời ngồi
trên giường này.”
Lúc
đó Tỳ-kheo liền ngồi trên giường đó. Thủ Trưởng giả
đảnh lễ dưới chân Tỳ-kheo, rồi ngồi sang một bên. Tỳ-kheo
nói:
“Này
Trưởng giả, ông có đại thiện lợi, đại công đức. Vì
sao thế? Đức Thế Tôn vì ông ở giữa vô lượng trăm ngàn
đại chúng mà khen ngợi Thủ Trưởng giả: ‘Thủ Trưởng
giả có bảy pháp vị tằêng hữu. Sau khi Ta thuyết pháp cho
Thủ Trưởng giả ấy, khuyến giáo, khích lệ, làm cho hoan
hỷ rồi, ông liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ Ta,
nhiễu quanh ba vòng rồi ra đi. Trở về nhà, khi từ cổng ngoài,
nếu có gặp người nào, ông đều thuyết pháp cho, khuyến
giáo, khích lệ, làm cho hoan hỷ. Khi đến trong cổng ngõ giữa,
cổng nhỏ trong nhà và đến bên trong nhà, nếu gặp người
nào ông đều thuyết pháp cho, khuyến giáo, khích lệ, làm
cho hoan hỷ. Sau khi vào nhà, trải giường, ngồi kiết già,
tâm câu hữu với từ, biến mãn một phương, thành tựu và
an trụ. Cũng vậy, hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng hạ,
biến khắp tất cả, tâm câu hữu với từ, không kết, không
nhuế, không oán, không tránh, rộng lớn bao la vô lượng, khéo
tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ.
Cũng vậy, với bi và hỷ; tâm câu hữu với xả, không kết,
không oán, không nhuế, không tránh, rộng lớn bao la, khéo tu
tập biến mãn tất cả thế gian thành tựu và an trụ.
“Hôm
nay chư Thiên ở Tam thập tam thiên vì Trưởng già ấy mà tập
trung ở pháp đường để khen ngợi: ‘Thủ Trưởng giả có
đại thiện lợi, đại công đức. Vì sao thế? Này chư Hiền,
Thủ Trưởng giả ấy, sau khi được Đức Phật thuyết pháp,
khuyến giáo, khích lệ, làm cho cho hoan hỷ rồi, ông liền
từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ Phật, nhiễu quanh ba vòng
rồi ra đi. Trở về nhà, khi từ cổng ngoài, nếu có gặp
người nào, ông đều thuyết pháp cho, khuyến giáo, khích lệ,
làm cho hoan hỷ. Khi đến trong cổng ngõ giữa, cổng nhỏ trong
nhà và đến bên trong nhà, nếu gặp người nào ông đều
thuyết pháp cho, khuyến giáo, khích lệ, làm cho hoan hỷ. Sau
khi vào nhà, trải giường, ngồi kiết già, tâm câu hữu với
từ, biến mãn một phương, thành tựu và an trụ. Cũng vậy,
hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng hạ, biến khắp tất
cả, tâm câu hữu với từ, không kết, không nhuế, không oán,
không tránh, rộng lớn bao la vô lượng, khéo tu tập, biến
mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ. Cũng vậy, với
bi và hỷ; tâm câu hữu với xả, không kết, không oán, không
nhuế, không tránh, rộng lớn bao la, khéo tu tập biến mãn
tất cả thế gian thành tựu và an trụ’.
“Hôm nay Tỳ-sa-môn Đại thiên vương, sắc tượng nguy nga,
ánh sáng rực rỡ, lúc đêm gần về sáng, đi đến nhà Thủ
Trưởng giả, nói:
“–
Này Trưởng giả, ông có đại thiện lợi, có đại công đức.
Vì sao thế? Hôm nay ở cõi Tam thập tam thiên vì Trưởng giả
mà tập trung tại pháp đường xuýt xoa khen ngợi: ‘Thủ Trưởng
giả ấy có đại thiện lợi, có đại công đức. Vì sao thế?
Này chư Hiền, vì Thủ Trưởng giả ấy, sau khi được Đức
Phật thuyết pháp, khuyến giáo, khích lệ, làm cho hoan hỷ
rồi, ông liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ Phật,
nhiễu quanh ba vòng rồi ra đi. Trở về nhà, khi từ cổng ngoài,
nếu có gặp người nào, ông đều thuyết pháp cho, khuyến
giáo, khích lệ, làm cho hoan hỷ. Khi đến trong cổng ngõ giữa,
cổng nhỏ trong nhà và đến bên trong nhà, nếu gặp người
nào ông đều thuyết pháp cho, khuyến giáo, khích lệ, làm
cho hoan hỷ. Sau khi vào nhà, trải giường, ngồi kiết già,
tâm câu hữu với từ, biến mãn một phương, thành tựu và
an trụ. Cũng vậy, hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng hạ,
biến khắp tất cả, tâm câu hữu với từ, không kết, không
nhuế, không oán, không tránh, rộng lớn bao la vô lượng, khéo
tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ.
Cũng vậy, với bi và hỷ; tâm câu hữu với xả, không kết,
không oán, không nhuế, không tránh, rộng lớn bao la, khéo tu
tập biến mãn tất cả thế gian thành tựu và an trụ.
“Bấy
giờ Thủ Trưởng giả im lặng không nói gì cả, không ngắm,
không nhìn Tỳ-sa-môn Đại thiên vương. Vì sao thế? Vì tôn
trọng định tâm và để thủ hộ địng tâm của mình.”
Bấy
giờ Thủ Trưởng giả thưa với thầy Tỳ-kheo rằng:
“Bạch
Tôn giả lúc bấy giờ không có người bạch y nào chăng?”
Tỳ-kheo
đáp:
“Không
có người bạch y nào.”
Và
hỏi lại:
“Nếu
có người bạch y thì sẽ có sai lầm gì?”
Trưởng giả đáp:
“Bạch Tôn giả, hoặc có người không tin lời của Đức
Thế Tôn; người ấy sẽ ấy sẽ vĩnh viễn bất nghĩa, bất
nhẫn[9],
sanh vào chỗ cực ác, thọ vô lượng khổ. Nếu kẻ nào tin
lời Đức Thế Tôn người ấy do việc đó sẽ cung kính lễ
bái con. Bạch Tôn giả, con cũng không thích được như vậy.
Bạch Tôn giả, mời ở lại đây thọ thực.”
Tỳ-kheo
ấy im lặng nhận lời. Sau khi biết Tỳ-kheo đã im lặng nhận
lời, Trưởng giả Úc-già liền từ chỗ ngồi đứng dậy,
tự mình múc nước rửa tay, rồi đem tất cả rất nhiều
món ăn cứng và mềm rất mỹ diệu tinh khiết, ngon lành, tự
tay hầu sớt, để cho Tỳ-kheo ăn được no đủ. Ăn xong, dọn
cất đồ đạc và dùng nước rồi, lấy một giường nhỏ
ngồi riêng để nghe pháp.
Thầy
Tỳ-kheo thuyết pháp cho Trưởng giả, khuyến giáo, khích lệ,
làm cho hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng phương tiện thuyết
pháp cho ông, khuyến giáo, khích lệ, làm cho hoan hỷ rồi,
Tỳ-kheo liền từ chỗ ngồi đứng dậy mà đi. Đi đến chỗ
Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật rồi ngồi sang
một bên, rồi đem trình bày đầy đủ lại cuộc thảo luận
giữa thầy và Thủ Trưởng giả lên Đức Phật.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn bảo các thầy Tỳ-kheo rằng:
“Ta
vì cớ ấy mà khen Thủ Trưởng giả có bảy pháp vị tằng
hữu. Lại nữa, Thủ Trưởng giả có pháp vị tằng hữu thứ
tám là Thủ Trưởng giả vô cầu, vô dục.
Phật
thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan
hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Tương đương Pāli: A. viii. 24 Hatthaka.
[2]
A-la-bệ Già-la 阿邏鞞伽邏.
Pāli: Āḷaviyaṃ viharati Aggaḷave cetiye, trú ở Āḷavi, trong
miếu Aggaḷava. Aggaḷava, mọât ngôi miếu tại Āḷavi, Phật
thường dừng chân tại đây, và cũng tại đây Phật thiết
lập một số điều khoản trong giới bổn Tỳ-kheo. Āḷavi
là một thị trấn cách Sāvatthi 30 do-tuần.
[3]
Thủ Trưởng giả 手長者.
Pāli: Hattaka, cũng gọi là Āḷavaka, con trai của vua xứ Āḷavi.
[4]
Tứ sự nhiếp四事攝,
hay Tứ nhiếp pháp 四攝法.
Pāli: Cattāri saṅgahavatthūni: dānaṃ, peyyavajjaṃ, atthacariyā,
samānattatā.
[5]
Huệ thí, ái ngôn, dĩ lợi, đẳng lợi惠施愛言以利等利.
Thường nói là: Bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự. Xem
giải thích Tập Dị 9 (DTK. 1536, tr.402c).
[6]
Hán: như pháp, như môn, như nhân duyên如法如門如因緣.
[7]
Pāli: ye hi keci… bất cứ ai…
[8]
Hán: hoặc hữu dư 或有餘.
[9]
Hán: bất nghĩa, bất nhẫn; có lẽ phải hiểu là: không được
lợi ích, không được an ổn; Pāli: na attha, na khema.