39.
KINH ÚC-GIÀ TRƯỞNG GIẢ (II)[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời sau khi Phật nhập Niết-bàn không bao lâu, có một số
đông Tỳ-kheo thượng tôn trưởng lão du hóa tại Bệ-xá-li,
ở bên dòng sông Di hầu, tại ngôi lầu cao.
Bấy
giờ Trưởng giả Úc-già[2]
tổ chức đại bố thí như sau: Đãi ăn cho những khách từ
phương xa đến, đãi ăn cho các hành khách, các bệnh nhân
và các người nuôi bệnh; thường dọn cháo, thường dọn
cơm, cung cấp cho người trông nom tăng viện; thường mời
đại chúng gồm hai mươi vị Tỳ-kheo đến thọ thực, cứ
mỗi năm ngày đều có mời chúng Tỳ-kheo đến ăn. Ông tổ
chức đại bố thí như vậy.
Trên
biển lại còn có một chiếc tàu buồm lớn chở đầy hàng
hóa trở về, giá trị đến trăm ngàn, vừa bị chìm mất.
Số
đông Tỳ-kheo thượng tôn trưởng lão nghe Trưởng giả Úc-già
tổ chức đại bố thí như sau: Đãi ăn cho những khách từ
phương xa đến, đãi ăn cho các hành khách, các bệnh nhân
và các người nuôi bệnh; thường dọn cháo, thường dọn
cơm, cung cấp cho người trông nom tăng viện; thường mời
đại chúng gồm hai mươi vị Tỳ-kheo đến thọ thực, cứ
mỗi năm ngày đều có mời chúng Tỳ-kheo đến ăn.
Các
vị ấy nghe rồi bàn luận với nhau rằng:
“Này
chư Hiền, vị nào có thể đến nói với với Trưởng giả
Úc-già rằng: ‘Này Trưởng giả, nên thôi, chớ bố thí nữa.
Sau này Trưởng giả sẽ tự biết’?”
Rồi các vị ấy nghĩ như vầy: “Tôn giả A-nan là thị giả
của Phật, nhận được sự chỉ giáo của Đức Thế Tôn;
được Phật và các vị đồng phạm hạnh có trí khen ngợi.
Tôn giả A-nan có thể đến nói với Trưởng giả Úc-già rằng:
‘Này Trưởng giả, nên thôi, chớ bố thí nữa. Sau này Trưởng
giả sẽ tự biết’.”
“– Này chư Hiền, chúng ta nên cùng nhau đến Tôn giả A-nan
trình bày sự việc như thế.” Bấy giờ số đông Tỳ-kheo
thượng tôn trưởng lão đi đến chỗ Tôn giả A-nan, cùng
nhau chào hỏi, rồi ngồi sang một bên thưa rằng:
“Thưa
Hiền giả A-nan, ngài có biết không? Trưởng giả Úc-già tổ
chức đại bố thí như sau: đãi ăn cho những khách từ phương
xa đến, đãi ăn cho các hành khách, các bệnh nhân và các
người nuôi bệnh; thường dọn cháo, thường dọn cơm, cung
cấp cho người trông nom tăng viện; thường mời đại chúng
gồm hai mươi vị Tỳ-kheo đến thọ thực, cứ mỗi năm ngày
đều có mời chúng Tỳ-kheo đến ăn. Ông tổ chức đại bố
thí như vậy. Trên biển lại còn có một chiếc tàu buồm
lớn chở đầy hàng hóa trở về, giá trị đến trăm ngàn,
vừa bị chìm mất. Chúng tôi cùng bàn luận với nhau như thế
này: vị nào có thể đến nói với với Trưởng giả Úc-già
rằng ‘Này Trưởng giả, nên thôi, chớ bố thí nữa. Sau
này Trưởng giả sẽ tự biết’? Lại nghĩ như vầy: Tôn
giả A-nan là thị giả của Phật, nhận được sự chỉ giáo
của Đức Thế Tôn; được Phật và các vị đồng phạm hạnh
có trí khen ngợi. Tôn giả A-nan có thể đến nói với Trưởng
giả Úc-già rằng ‘Này Trưởng giả, nên thôi, chớ bố thí
nữa. Sau này Trưởng giả sẽ tự biết’. Này Hiền giả
A-nan, ngài có thể đến bảo với Trưởng giả Úc-già rằng
‘Này Trưởng giả, nên thôi, chớ bố thí nữa. Sau này Trưởng
giả sẽ tự biết Trưởng giả’.”
Tôn
giả A-nan thưa với các Tỳ-kheo thượng tôn trưởng lão rằng:
“Thưa
các Tôn giả, Trưởng giả Úc-già tính tình nghiêm nghị; nếu
tôi tự tiện nói thì biết đâu làm Trưởng giả không vui.
Thưa các ngài, tôi đại diện cho ai để nói đây?”
Các
Tỳ-kheo thượng tôn trưởng lão trả lời rằng:
“Hiền
giả nên xưng là chúng Tỳ-kheo bảo như vậy. Sau khi ngài xưng
là chúng Tỳ-kheo bảo vậy, ông ấy sẽ không còn nói gì nữa.”
Tôn
giả A-nan liền im lặng nhận lời các vị Tỳ-kheo thượng
tôn trưởng lão. Bấy giờ các Tỳ-kheo thượng tôn trưởng
lão biết Tôn giả A-nan im lặng nhận lời rồi, liền từ
chỗ ngồi đứng dậy đi quanh Tôn giả A-nan rồi ai về chỗ
ấy. Sau khi đêm qua vào lúc hừng sáng, Tôn giả A-nan khoác
y, cầm bát đi đến nhà Trưởng giả Úc-già. Trưởng giả
Úc-già thấy Tôn giả A-nan từ xa đi lại, liền từ chỗ ngồi
đứng dậy, trịch vai sửa áo chắp tay hướng về Tôn giả
A-nan thưa rằng:
“Kính
chào Tôn giả A-nan, Tôn giả từ lâu không đến đây. Mời
ngồi lên giường này.”
Tôn
giả A-nan liền ngồi lên giường ấy. Trưởng giả Úc-già
đảnh lễ dưới chân Tôn giả A-nan, rồi ngồi sang một bên.
Tôn giả A-nan bảo rằng:
“Trưởng
giả có biết không? Trưởng giả đã tổ chức đại bố thí
như sau: đãi ăn cho những khách từ phương xa đến, đãi ăn
cho các hành khách, các bệnh nhân và các người nuôi bệnh;
thường dọn cháo, thường dọn cơm, cung cấp cho người trông
nom tăng viện; thường mời đại chúng gồm hai mươi vị Tỳ-kheo
đến thọ thực, cứ mỗi năm ngày đều có mời chúng Tỳ-kheo
đến ăn. Trưởng giả tổ chức đại bố thí như vậy. Trên
biển lại còn có một chiếc tàu buồm lớn chở đầy hàng
hóa trở về, giá trị đến trăm ngàn, vừa bị chìm mất.
Này Trưởng giả, nên thôi, chớ bố thí nữa. Sau này Trưởng
giả sẽ tự biết.”
Trưởng
giả thưa rằng:
“Bạch
Tôn giả A-nan, đây là lời nói của ai vậy?”
Tôn
giả A-nan đáp rằng:
“Này
Trưởng giả, tôi truyền lại lời của chúng Tỳ-kheo.”
Trưởng
giả thưa rằng:
“Nếu
Tôn giả A-nan truyền lại lời của chúng Tỳ-kheo, thì không
có gì phải luận. Còn nếu tự mình nói như vậy thì có thể
làm cho con rất không được vừa lòng. Bạch Tôn giả A-nan,
nếu con có thí xả như thế, có huệ thí như thế, dù tất
cả tài vật đều khô cạn, cũng chỉ làm cho con mãn nguyện
thôi. Giống như ý nguyện của Chuyển luân vương vậy.
Tôn
giả A-nan hỏi rằng:
“Này
Trưởng giả, thế nào là ý nguyện của Chuyển luân vương?”
Trưởng
giả đáp:
“Bạch
Tôn giả A-nan, người nghèo trong thôn nghĩ như vầy: ‘Mong
sao ta trở nên giàu nhất trong thôn’. Đó là ý nguyện của
người ấy. Người giàu trong thôn nghĩ như vầy: ‘Mong sao
ta trở nên giàu nhất trong ấp’. Đó là ý nguyện của người
đó. Người giàu trong ấp suy nghĩ như vầy: ‘Mong sao ta giàu
nhất trong thành’. Đó là ý nguyện của người ấy. Người
giàu trong thành nghĩ như vầy: ‘Mong sao ta làm được chức
tông chánh trong thành’. Đó là ý nguyện của người ấy.
Vị tông chánh trong thành nghĩ như vầy: ‘Mong sao ta làm được
quan quốc tướng. Đó là ý nguyện của người ấy. Quan quốc
tướng suy nghĩ như vầy: ‘Mong sao ta làm được vị tiểu
vương’. Đó là ý nguyện của người ấy. Vị tiểu vương
suy nghĩ như vầy: ‘Mong sao ta làm được Chuyển luân vương’.
Đó là ý nguyện của người ấy. Vị Chuyển luân vương suy
nghĩ như vầy: ‘Mong sao ta làm được điều mà một thiện
nam tử[3]
có thể làm, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa
bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo để
thành tựu phạm hạnh vô thượng, tự tri, tự giác, tự tác
chứng, thành tựu và an trụ, biết như thật rằng: ‘Sự
sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm
xong, không còn tái sanh nữa’. Đó là ý nguyện Chuyển luân
vương.
“Bạch
Tôn giả A-nan, nếu con có thí xả như thế, có huệ thí như
thế, dù cho tất cả tài vật đều khô cạn, cũng chỉ làm
cho con mãn nguyện thôi, như thế là ý nguyện của vị Chuyển
luân vương. Bạch Tôn giả A-nan, con có pháp ấy.”
Tôn
giả A-nan khen rằng:
“Này
Trưởng giả, nếu có pháp ấy thì thật là kỳ diệu, thật
là hy hữu.”
“Bạch
Tôn giả, con không phải chỉ có pháp này mà thôi. Lại nữa,
bạch Tôn giả A-nan, khi con đến chúng viên, nếu trước hết
mà gặp một vị Tỳ-kheo nào, con liền đảnh lễ. Nếu vị
Tỳ-kheo ấy kinh hành, thì con cũng kinh hành. Nếu vị ấy ngồi,
con cũng ngồi theo một bên, ngồi rồi nghe pháp. Vị Tôn giả
ấy thuyết pháp cho con nghe; con cũng thuyết pháp cho vị Tôn
giả ấy nghe. Vị Tôn giả ấy vấn sự con, con cũng vấn sự
vị Tôn giả ấy. Vị Tôn giả ấy trả lời câu hỏi của
con, con cũng trả lời vị Tôn giả ấy. Con nhớ chưa từng
có lần nào con khinh mạn các vị Tỳ-kheo thượng tôn trưởng
lão, trung hay hạ. Bạch Tôn giả A-nan, con có pháp ấy.”
Tôn
giả A-nan khen rằng:
“Này
Trưởng giả, nếu có pháp ấy thì thật là kỳ diệu, thật
là hy hữu.”
“Bạch
Tôn giả A-nan, con không phải chỉ có pháp này mà thôi. Lại
nữa, bạch Tôn giả A-nan, khi con ở giữa chúng Tỳ-kheo, hành
sự bố thí, thì có chư Thiên trụ giữa hư không bảo con
rằng: ‘Này Trưởng giả, đây là vị A-la-hán, đây là vị
Hướng A-la-hán, đây là vị A-na-hàm, đây là vị Hướng A-na-hàm,
đây là vị Tư-đà-hàm, đây là vị Hướng Tư-đà-hàm, đây
là vị Tu-đà-hoàn, đây là vị Hướng Tu-đà-hoàn. Vị này
tinh tấn, vị này không tinh tấn’. Bạch Tôn giả, khi con
cúng thí cho đại chúng Tỳ-kheo, con nhớ chưa từng có ý phân
biệt. Bạch Tôn giả A-nan, con có pháp ấy.”
Tôn
giả A-nan khen rằng:
“Này
Trưởng giả, nếu có pháp ấy thì thật là kỳ diệu, thật
là hy hữu.”
“Bạch
Tôn giả A-nan, con không phải chỉ có pháp này mà thôi. Lại
nữa, bạch Tôn giả, khi con hành sự bố thí ở trong chúng
Tỳ-kheo, có chư Thiên trên hư không bảo con rằng: ‘Này Trưởng
giả, có Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Pháp
được Thế Tôn khéo thuyết, và Thánh chúng của Như Lai khéo
thú hướng’. Bạch Tôn giả, con không do vi trời kia mà có
tín, không do vị trời kia mà dục lạc, không nghe theo vị
kia, nhưng con tự có tịnh trí để biết Đức Như Lai, Vôâ
Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết,
và Thánh chúng của Như Lai khéo thú hướng. Bạch Tôn giả,
con có pháp ấy.”
Tôn
giả A-nan khen rằng:
“Này
Trưởng giả, nếu có pháp ấy thì thật là kỳ diệu, thật
là hy hữu.”
“Bạch
Tôn giả A-nan, con không phải chỉ có pháp này mà thôi. Lại
nữa, bạch Tôn giả A-nan, con ly dục, ly ác bất thiện pháp,
v.v..., cho đến, thành tựu và an trụ[1].
Bạch Tôn giả A-nan, con có pháp ấy.”
Tôn
giả A-nan khen rằng:
“Này
Trưởng giả, nếu ông có pháp ấy thì thật là kỳ diệu,
thật là hy hữu.”
Rồi
thì, Trưởng giả Úc-già liền thưa với Tôn giả A-nan rằng:
“Tôn
giả A-nan, mời ở lại đây thọ thực.”
Tôn
giả A-nan im lặng nhận lời mời của Trưởng giả Úc-già.
Sau khi biết Tôn giả A-nan đã im lặng nhận lời, Trưởng
giả Úc-già liền từ chỗ ngồi đứng dậy, tự mình múc
nước rửa tay, rồi đem tất cả rất nhiều món ăn cứng
và mềm rất mỹ diệu tinh khiết, ngon lành, tự tay hầu sớt,
để cho Tôn giả ăn được no đủ. Ăn xong, dọn cất đồ
đạc và dùng nước rồi, lấy một giường nhỏ ngồi riêng
để nghe pháp.
Tôn
giả A-nan thuyết pháp cho Trưởng giả, khuyến giáo, khích
lệ, làm cho hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng phương tiẹân
thuyết pháp cho ông, khuyến giáo, khích lệ, làm cho hoan hỷ
rồi, Tôn giả liền từ chỗ ngồi đứng dậy mà đi.
Tôn
giả A-nan thuyết pháp như vậy. Trưởng giả Úc-già sau khi
nghe Tôn giả A-nan thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Không thấy Pāli tương đương. Xem cht.1, kinh số 38 trên.
[2]
Có lẽ Pāli: Ugga-gahapi Vesālika, gia chủ Ugga, người Vesāli.
[3]
Hán: tộc tánh tử 族 姓 子.
Pāli: kulaputta.