38.
KINH ÚC-GIÀ TRƯỞNG GIẢ (I)[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật du hóa tại Bệ-xá-li, trong Đại lâm[2].
Bấy
giờ Trưởng giả Úc-già[3],
chỉ có một số phụ nữ theo hầu hạ và ông đang ở trước
các phụ nữ ấy, từ Bệ-xá-li ra đi. Ở khoảng giữa Đại
lâm và Bệ-xá-li[4],
chỉ để hoan lạc với các kỹ nữ, như vị quốc vương.
Rồi
thì, Trưởng giả Úc-già, uống rượu say túy lúy, bỏ các
phụ nữ kia ở lại đó, đi vào trong Đại lâm. Đang lúc Trưởng
giả Úc-già say rượu lúy túy, từ đàng xa trông thấy Đức
Thế Tôn ở giữa rừng cây, đoan chánh đẹp đẽ như vầng
trăng giữa đám sao, ánh sáng chói lọi rực rỡ, ánh sáng
như tòa núi vàng, đầy đủ tướng tốt, oai thần nguy nga,
các căn tịch tĩnh, không bị ngăn che, thành tựu sự điều
ngự, tâm vắng lặng tịch mặc. Trưởng giả thấy Đức Phật
rồi, lập tức tỉnh rượu. Sau khi tỉnh rượu, Trưởng giả
Úc-già liền đến chỗ Đức Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới
chân Phật rồi ngồi sang một bên.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn thuyết pháp cho ông, khuyến giáo, khích
lệ, làm cho hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng phương tiẹân
thuyết pháp cho ông, khuyến giáo, khích lệ, làm cho hoan hỷ
rồi, như thông lệ của chư Phật, trước hết nói về pháp
đoan chánh cho người nghe hoan duyệt; tức là nói về thí,
về giới, nói pháp sanh thiên, chê bai dục là tai hoạn, sanh
tử là ô uế, khen ngợi vô dục là vi diệu, đạo phẩm thanh
tịnh trong trắng. Sau khi Đức Thế Tôn nói những pháp ấy
cho ông rồi, ngài biết ông có tâm hoan hỷ, tâm cụ túc, tâm
nhu nhuyến, tâm nhẫn nại, tâm thăng tấn, tâm chuyên nhất,
tâm không nghi, tâm không bị che lấp, có khả năng, có sức
mạnh, có thể kham thọ Chánh pháp. Rồi như thông lệ của
chư Phật, Ngài nói về pháp yếu chân chánh[5],
Đức Thế Tôn thuyết cho ông nghe về Khổ, Tập, Diệt, Đạo.
Lúc
ấy Trưởng giả Úc-già, ngay trên chỗ ngồi, thấy được
bốn Thánh đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng như vải trắng
dễ nhuộm thành màu. Trưởng giả Úc-già, cũng giống như
vậy, ngay nơi chỗ ngồi thấy được bốn Thánh đế, là Khổ,
Tập, Diệt, Đạo.
Rồi
thì, Trưởng giả Úc-già thấy pháp và đắc pháp, giác ngộ
pháp bạch tịnh, đoạn trừ nghi, vượt qua hoặc, không còn
tôn sùng ai khác, không còn theo ai khác, không còn do dự, đã
trụ nơi quả chứng, được vô sở úy đối với giáo pháp
của Thế Tôn, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ
và thưa rằng:
“Bạch
Thế Tôn, con nay tự thân xin quy y Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo,
cúi mong Đức Thế Tôn chấp nhận cho con làm Ưu-bà-tắc; bắt
đầu từ hôm nay trọn đời, xin tự quy y cho đến mạng chung.
Bạch Thế Tôn, từ ngày hôm nay, con xin theo Đức Thế Tôn,
trọn đời lấy phạm hạnh làm đầu[6],
thọ trì năm giới.”
Sau
khi Trưởng giả Úc-già xin theo Đức Thế Tôn, trọn đời
lấy phạm hạnh làm đầu, thọ trì năm giới, cúi đầu đảnh
lễ dưới chân Phật nhiễu quanh ba vòng rồi ra đi.
Ông
liền trở về nhà, triệu tập các người vợ[7]
lại nói rằng:
“Các
ngươi biết không? Ta đã theo Đức Thế Tôn trọn đời lấy
phạm hạnh làm đầu, thọ trì năm giới. Các ngươi nếu còn
muốn được sống ở nơi đây thì có thể ở và làm việc
bố thí tạo phước. Nếu không muốn ở, ai về nhà nấy.
Nếu các ngươi muốn có chồng thì ta sẽ gả chồng cho.”
Bấy
giờ người vợ cả thưa Trưởng giả Úc-già rằng:
“Nếu
tôn ông đã theo Đức Phật, trọn đời lấy phạm hạnh làm
đầu, thọ trì năm giới, thì nên đem tôi gả cho người đàn
ông kia.”
Trưởng
giả Úc-già liền gọi người đàn ông kia đến, tay trái cầm
tay người vợ cả, tay phải bưng chậu nước bằng vàng, bảo
người kia rằng:
“Nay
ta đem người vợ cả này cho ngươi làm vợ.”
Người
ấy nghe rồi, liền vì quá sợ hãi, nên lông trong thân đều
dựng đứng, thưa Trưởng giả Úc-già rằng:
“Thưa
Trưởng giả, ngài muốn giết tôi chăng? Ngài muốn giết tôi
chăng?”
Trưởng
giả trả lời rằng:
“Ta
không giết ngươi đâu. Vì ta đã theo Phật trọn đời lấy
phạm hạnh làm đầu, thọ trì năm giới, do đó ta sẽ đem
người vợ cả này cho ông làm vợ.
Trưởng
giả Úc-già khi đã cho người vợ cả này và ngay trong khi
đó, hoàn toàn không có lòng hối tiếc.
Bấy
giờ, với vô lượng trăm ngàn đại chúng vây quanh, Đức
Thế Tôn ở trong đó tán thán khen ngợi Trưởng giả Úc-già
rằng Trưởng giả Úc-già có tám pháp vị tằng hữu.
Rồi
thì, có một vị Tỳ-kheo, khi đêm đã qua, vào lúc hừng sáng,
khoác y ôm bát, đi đến nhà Trưởng giả Úc-già.
Trưởng
giả Úc-già từ đàng xa trông thấy Tỳ-kheo đi đến, liền
từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai sửa áo, chắp tay hướng
về Tỳ-kheo mà thưa rằng:
“Kính
chào Tôn giả. Tôn giả đã từ lâu không đến đây. Mời
ngồi nơi giường này.
Bấy
giờ Tỳ-kheo ngồi xuống giường ấy. Trưởng giả Úc-già
đảnh lễ dưới chân Tỳ-kheo rồi ngồi sang một bên. Tỳ-kheo
bảo rằng:
“Này
Trưởng giả. Ông có điều thiệân lợi, có công đức lớn.
Vì sao vậy? Đức Thế Tôn, với vô lượng trăm ngàn đại
chúng vây quanh, ở trong đó tán thán khen ngợi Trưởng giả
Úc-già rằng Trưởng giả Úc-già có tám pháp vị tằêng hữu.
Này trưởng giả, ông có những pháp gì?”
Trưởng
giả Úc-già trả lời Tỳ-kheo rằng:
“Đức
Thế Tôn không hề nói sai, nhưng con không biết Đức Thế
Tôn vì lẽ gì nói như vậy. Nhưng mong Tôn giả nghe cho, về
những pháp gì mà con có.
“Một
thời Phật du hóa tại Bệ-xá-li, trong Đại lâm. Bấy giờ
con chỉ có một số phụ nữ theo hầu hạ và đang ở trước
các phụ nữ ấy, từ Bệ-xá-li ra đi. Con đi đến khoảng
giữa Đại lâm và Bệ-xá-li, chỉ để hoan lạc với các kỹ
nữ, như vị quốc vương. Rồi thì, thưa Tôn giả, con lúc
bấy giờ uống rượu say lúy túy, bỏ các phụ nữ kia ở
lại đó, đi vào trong Đại lâm. Thưa Tôn giả, con đang lúc
say rượu lúy túy, từ đàng xa trông thấy Đức Thế Tôn ở
giữa rừng cây, đoan chánh đẹp đẽ như vầng trăng giữa
đám sao, ánh sáng chói lọi rực rỡ, ánh sáng như tòa núi
vàng, đầy đủ tướng tốt, oai thần nguy nga, các căn tịch
tĩnh, không bị ngăn che, thành tựu sự điều ngự, tâm vắng
lặng tịch mặc. Con thấy Đức Phật rồi, lập tức tỉnh
rượu. Bạch Tôn giả, con có pháp ấy.”
Thầy
Tỳ-kheo khen rằng:
“Này
Trưởng giả, nếu có pháp ấy thì thật là kỳ diệu, thật
là hy hữu.”
“Bạch
Tôn giả, con không phải chỉ có pháp này mà thôi. Lại nữa,
bạch Tôn giả,
Sau
khi tỉnh rượu, con liền đến chỗ Đức Phật, cúi đầu
đảnh lễ dưới chân Phật rồi ngồi sang một bên. Bấy giờ
Đức Thế Tôn thuyết pháp cho con, khuyến giáo, khích lệ,
làm cho hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng phương tiên thuyết
pháp cho con, khuyến giáo, khích lệ, làm cho hoan hỷ rồi, như
thông lệ của chư Phật, trước hết nói về pháp đoan chánh
cho người nghe hoan duyệt; tức là nói về thí, về giới,
nói pháp sanh thiên, chê bai dục là tai hoạn, sanh tử là ô
uế, khen ngợi vô dục là vi diệu, đạo phẩm thanh tịnh trong
trắng. Sau khi Đức Thế Tôn nói những pháp ấy cho con rồi,
Phật biết con có tâm hoan hỷ, tâm cụ túc, tâm nhu nhuyến,
tâm nhẫn nại, tâm thăng tấn, tâm chuyên nhất, tâm không
nghi, tâm không bị che lấp, có khả năng, có sức mạnh, có
thể kham thọ Chánh pháp. Rồi như thông lệ của chư Phật,
ngài nói về pháp yếu chân chánh, Đức Thế Tôn thuyết cho
con nghe về Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Lúc ấy con, ngay trên chỗ
ngồi, thấy được bốn Thánh đế, là Khổ, Tập, Diệt, Đạo.
Cũng như vải trắng dễ nhuộm thành màu, con cũng giống như
vậy, ngay nơi chỗ ngồi thấy được bốn Thánh đế, là Khổ,
Tập, Diệt, Đạo. Bạch Tôn giả, con có pháp ấy.”
Thầy
Tỳ-kheo khen rằng:
“Này
Trưởng giả, nếu có pháp ấy thì thật là kỳ diệu, thật
là hy hữu.”
“Bạch
Tôn giả, con không phải chỉ có pháp này mà thôi. Lại nữa,
bạch Tôn giả, con thấy pháp, giác ngộ pháp, đắc pháp bạch
tịnh, đoạn trừ nghi, vượt qua hoặc, không còn tôn sùng
người khác, không còn theo người khác, không còn do dự, đã
trụ nơi quả chứng, được vô sở úy đối với giáo pháp
của Đức Thế Tôn. Bạch Tôn giả, lúc ấy, con liền từ
chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật
thưa rằng: ‘Bạch Thế Tôn, hôm nay con tự thân xin quy y Phật,
quy y Pháp và Chúng Tỳ-kheo, mong Đức Thế Tôn nhận con là
Ưu-bà-tắc, bắt đầu từ hôm nay cho đến trọn đời, xin’
tự thân quy y cho đến khi mạng chung. Bạch Thế Tôn, từ nay
con xin theo Đức Thế Tôn trọn đời, lấy phạm hạnh làm
đầu, thọ trì năm giới’. Bạch Tôn giả, từ khi con theo
Đức Thế Tôn, trọn đời lấy phạm hạnh làm đầu, thọ
trì năm giới, chưa từng biết mình đã phạm giới. Bạch
Tôn giả, con có pháp ấy.
Thầy
Tỳ-kheo khen rằng:
“Này
Trưởng giả, nếu có pháp ấy thì thật là kỳ diệu, thật
là hy hữu.”
“Bạch
Tôn giả, con không phải chỉ có pháp này mà thôi. Lại nữa,
bạch Tôn giả, bấy giờ sau khi con theo Đức Thế Tôn, trọn
đời lấy phạm hạnh làm đầu, thọ trì năm giới rồi, cúi
đầu nhiễu quanh Phật ba vòng rồi ra về. Trở về nhà, con
liền tập trung các phụ nữ, rồi nói rằng:
“–
Các ngươi biết không? Ta đã theo Đức Thế Tôn trọn đời
lấy phạm hạnh làm đầu, thọ trì năm giới. Các ngươi nếu
còn muốn được sống ở nơi đây thì có thể ở và làm
việc bố thí tạo phước. Nếu không muốn ở, ai về nhà
nấy. Nếu các ngươi muốn có chồng thì ta sẽ gả chồng
cho.
“Bấy
giờ người vợ cả thưa với con rằng:
“–
Nếu tôn ông đã theo Đức Phật, trọn đời lấy phạm hạnh
làm đầu, thọ trì năm giới, thì nên đem tôi gả cho người
đàn ông kia.
“Con
bấy giờ gọi người đàn ông kia đến, tay trái cầm tay người
vợ cả, tay phải bưng chậu nước bằng vàng, bảo người
kia rằng:
“–
Nay ta đem người vợ cả này cho ngươi làm vợ.
“Người
ấy nghe rồi, liền vì quá sợ hãi, nên lông trong thân đều
dựng đứng, thưa với con rằng:
“–
Thưa Trưởng giả, ngài muốn giết tôi chăng? Ngài muốn giết
tôi chăng?”
“Con
nói với người ấy rằng:
“–
Ta không giết ngươi đâu. Vì ta đã theo Phật trọn đời lấy
phạm hạnh làm đầu, thọ trì năm giới, do đó ta sẽ đem
người vợ cả này cho ông làm vợ.
“Thưa
Tôn giả, con đã cho người vợ cả này và ngay trong khi cho
đó, hoàn toàn không có lòng hối tiếc.”
Thầy
Tỳ-kheo khen rằng:
“Này
Trưởng giả, nếu có pháp ấy thì thật là kỳ diệu, thật
là hy hữu.”
“Bạch
Tôn giả, con không phải chỉ có pháp này mà thôi. Lại nữa,
bạch Tôn giả, khi con đến chúng viên[8],
nếu trước hết mà gặp một vị Tỳ-kheo nào, con liền đảnh
lễ. Nếu vị Tỳ-kheo ấy kinh hành, thì con cũng kinh hành.
Nếu vị ấy ngồi, con cũng ngồi theo một bên, ngồi rồi
nghe pháp. Vị Tôn giả ấy thuyết pháp cho con nghe; con cũng
thuyết pháp cho vị Tôn giả ấy nghe. Vị Tôn giả ấy vấn
sự con, con cũng vấn sự vị Tôn giả ấy. Vị Tôn giả ấy
trả lời câu hỏi của con, con cũng trả lời vị Tôn giả
ấy. Con nhớ chưa từng có lần nào con khinh mạn các vị Tỳ-kheo
thượng tôn trưởng lão, trung hay hạ. Bạch Tôn giả, con có
pháp ấy.
Thầy
Tỳ-kheo khen rằng:
“Này
Trưởng giả, nếu có pháp ấy thì thật là kỳ diệu, thật
là hy hữu.”
“Bạch
Tôn giả, con không phải chỉ có pháp này mà thôi. Lại nữa,
bạch Tôn giả, khi con ở giữa chúng Tỳ-kheo, hành sự bố
thí, thì có chư Thiên trụ giữa hư không bảo con rằng: ‘Này
Trưởng giả, đây là vị A-la-hán, đây là vị Hướng A-la-hán,
đây là vị A-na-hàm, đây là vị Hướng A-na-hàm, đây là
vị Tư-đà-hàm, đây là vị Hướng Tư-đà-hàm, đây là vị
Tu-đà-hoàn, đây là vị Hướng Tu-đà-hoàn. Vị này tinh tấn,
vị này không tinh tấn’. Bạch Tôn giả, khi con cúng thí cho
đại chúng Tỳ-kheo, con nhớ chưa từng có ý phân biệt. Bạch
Tôn giả, con có pháp ấy.”
Thầy
Tỳ-kheo khen rằng:
“Này
Trưởng giả, nếu có pháp ấy thì thật là kỳ diệu, thật
là hy hữu.”
“Bạch
Tôn giả, con không phải chỉ có pháp này mà thôi. Lại nữa,
bạch Tôn giả, khi con hành sự bố thí ở trong chúng Tỳ-kheo,
có chư Thiên trên hư không bảo con rằng: ‘Này Trưởng giả,
có Đức Như Lai, vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, pháp được
Thế Tôn khéo thuyết, và Thánh chúng của Như Lai khéo thú
hướng’. Bạch Tôn giả, con không do vi trời kia mà có tín,
không do vị trời kia mà dục lạc, không nghe theo vị kia, nhưng
con tự có tịnh trí để biết Đức Như Lai, Vôâ Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, và Thánh
chúng của Như Lai khéo thú hướng. Bạch Tôn giả, con có pháp
ấy.”
Thầy
Tỳ-kheo khen rằng:
“Này
Trưởng giả, nếu có pháp ấy thì thật là kỳ diệu, thật
là hy hữu.”
“Bạch
Tôn giả, con không phải chỉ có pháp này mà thôi. Lại nữa,
bạch Tôn giả, Đức Phật có nói về năm hạ phần kiết,
tức tham dục, sân nhuế, thân kiến, giới thủ, và nghi. Con
thấy năm kiết sử ấy, hoàn toàn không có một kiết sử
nào còn trói buộc con thác sanh vào bào thai, trở lại thế
gian này. Bạch Tôn giả con có pháp ấy.
Thầy
Tỳ-kheo khen rằng:
“Này
Trưởng giả, nếu có pháp ấy thì thật là kỳ diệu, thật
là hy hữu.”
Trưởng
giả liền thưa với thầy Tỳ-kheo rằng:
“Mong
Tôn giả ở lại đây thọ thực. Tỳ-kheo im lặng nhận lời.
Sau khi biết Tỳ-kheo đã im lặng nhận lời, Trưởng giả Úc-già
liền từ chỗ ngồi đứng dậy, tự mình múc nước rửa tay,
rồi đem tất cả rất nhiều món ăn cứng và mềm rất mỹ,
diệu tinh khiết, ngon lành, tự tay hầu sớt, để cho Tỳ-kheo
ăn được no đủ. Ăn xong, dọn cất đồ đạc và dùng nước
rồi, lấy một giường nhỏ ngồi riêng để nghe pháp.
Thầy
Tỳ-kheo thuyết pháp cho Trưởng giả, khuyến giáo, khích lệ,
làm cho hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng phương tiện thuyết
pháp cho ông, khuyến giáo, khích lệ, làm cho hoan hỷ rồi,
Tỳ-kheo liền từ chỗ ngồi đứng dậy mà đi. Đi đến chỗ
Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật rồi ngồi sang
một bên, rồi đem trình bày đầy đủ lại cuộc thảo luận
giữa thầy và Trưởng giả Úc-già lên Đức Phật.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn bảo các thầy Tỳ-kheo rằng:
“Ta
vì lẽ ấy mà khen ngợi tán thán Trưởng giả Úc-già có tám
pháp vị tằng hữu.”
Phật
thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan
hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Tương đương Pāli: A. Viii, 21-22 Ugga. Úc-già Trưởng giả:
Ugga gahapati. Có hai vị cùng tên. Vị Trưởng giả ở Vesali
(Pāli: Ugga-gahapati Vesālika), được tán thán trong kinh 39 sau.
Theo nội dung, vị Ugga (Pāli: Ugga-gahapati
[2]
Du Bệ-xá-li, trú Đại lâm trung 遊 鞞 舍 離 住
大 林 中. Pāli:
Vesāliyaṃ viharati Mahānava Kūṭāgārasālāyaṃ, trú ở Vesāli,
trong giảng đường Trùng các, trong rừng Đại lâm. Nhưng theo
nội dung, có lẽ Phật đang trú tại làng Hatthi giữa những
người Vajji.
[3]
Úc-già Trưởng giả 郁 伽 長 者.
Pāli: Ugga-gahapati.
[4]
Bản Pāli: Tại Nāgavana, nơi hưởng lạc của ông gần Hatthigama.
[5]
Hán: chư Phật thuyết Chánh pháp yếu 諸 佛 說 正
法 要. Pāli: Buddhānaṃ
sāmukkaṃsikā dhammadesanā, sự thuyết pháp rất đặc sắc
của chư Phật.
[6]
Ông phát nguyện tuyệt dục. Bản Hán: phạm hạnh vi thủ,
thọ trì ngũ giới 梵 行 為 首 受 持 五 戒.
Bản Pāli: brahmacariyapañcamāni ca sikkhāpādāni samādiyiṃ, và
thọ trì học xứ thứ năm là (?) phạm hạnh.
[7]
Hán: chư phụ nhân 諸 婦 人.
Pāli: catasso komāriyo pajāpatiyo, bốn người vợ trẻ.
[8]
Hán: chúng viên 眾 園.
Pāli: saṃghārama, công viên hay tịnh viên của Tăng.