37.
KINH CHIÊM-BA[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật du hóa tại Chiêm-ba, ở bên hồ Hằng-già[2].
Bấy
giờ là ngày mười lăm trong tháng, là ngày Thế Tôn thuyết
Tùng giải thoát[3],
trải tọa ngồi trước chúng Tỳ-kheo. Khi Đức Thế Tôn ngồi
xong, liền nhập định và bằng tha tâm trí Ngài quan sát tâm
đại chúng. Khi quan sát tâm đại chúng rồi, cho đến lúc
hết buổi đầu hôm, Ngài vẫn ngồi im lặng.
Bấy
giờ có một Tỳ-kheo[4]
từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai, sửa y chắp tay hướng
về Đức Phật thưa rằng:
“Bạch
Thế Tôn, đã hết buổi đầu hôm, Phật và chúng Tỳ-kheo
tập trung ngồi đây đã lâu, mong Đức Thế Tôn nói thuyết
Tùng giải thoát.”
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn im lặng không trả lời.
Thế
rồi, cho đến phần giữa đêm, Đức Thế Tôn vẫn ngồi im
lặng. Tỳ-kheo kia lại lần nữa, từ chỗ ngồi đứng dậy,
trịch vai sửa y, chắp tay hướng về Đức Phật và thưa rằng:
“Bạch
Thế Tôn, buổi đầu hôm đã qua, phần giữa đêm cũng sắp
hết; Phật và chúng Tỳ-kheo tập trung ngồi đây đã lâu,
mong Đức Thế Tôn nói thuyết Tùng giải thoát.”
Đức
Thế Tôn lại một lần nữa không trả lời.
Thế
rồi, cho đến phần cuối đêm, Đức Thế Tôn vẫn ngồi im
lặng. Tỳ-kheo kia lại lần thứ ba từ chỗ ngồi đứng dậy,
trịch vai sửa y, chắp tay hướng về Đức Thế Tôn mà thưa
rằng:
“Bạch
Thế Tôn, buổi đầu hôm đã qua, phần giữa đêm cũng chấm
dứt, rồi buổi cuối đêm cũng sắp hết, trời gần về sáng,
không bao lâu nữa, mặt trời sẽ mọc; Phật và chúng Tỳ-kheo
tập trung ngồi đây đã quá lâu, mong Đức Thế Tôn thuyết
pháp Tùng giải thoát.”
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn bảo vị Tỳ-kheo kia rằng:
“Trong
chúng này có một thầy Tỳ-kheo làm đã việc bất tịnh[5].”
Lúc
đó Tôn giả Đại Mục-kiền-liên cũng đang ở trong chúng.
Rồi Tôn giả Đại Mục-kiền-liên liền suy nghĩ thế này:
“Vì Tỳ-kheo nào mà Đức Thế Tôn nói trong chúng này có
một thầy Tỳ-kheo đã làm việc bất tịnh? Ta nên nhập định
có hình thức như thế[6],
nhân trong định có hình thức như thếá, bằng tha tâm trí
mà quan sát tâm niệm đại chúng.”
Tôn
giả Đại Mục-kiền-liên nhập định có hình thức như thế,
nhân trong định có hình thức như thế, bằng tha tâm trí mà
quan sát tâm niệm đại chúng.
Tôn
giả Đại Mục-kiền-liên liền biết vị Tỳ-kheo mà vì vị
ấy Đức Thế Tôn nói trong chúng này có một thầy Tỳ-kheo
đã làm việc bất tịnh.
Rồi
thì, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên xuất định, đi đến trước
vị Tỳ-kheo ấy, nắm tay kéo đi, mở cửa lôi ra bên ngoài
mà nói:
“Này
người ngu si, hãy đi xa đi, đừng sống ở đây[7],
không được trở lại hội họp với đại chúng Tỳ-kheo,
từ nay trở đi ông không phải là Tỳ-kheo nữa.”
Ngài
đóng cửa, gài chốt then lại, rồi trở về chỗ Đức Phật,
cúi đầu sát lạy chân Phật, rồi ngồi sang một bên mà thưa
rằng:
“Vị
Tỳ-kheo mà vì vị ấy Đức Thế Tôn nói trong chúng này có
một Tỳ-kheo đã làm việc bất tịnh; con đã đuổi vị ấy
đi rồi. Bạch Thế Tôn, buổi đầu hôm đã qua, phần giữa
đêm cũng chấm dứt, rồi buổi cuối đêm cũng sắp hết,
trời gần về sáng, không bao lâu nữa, mặt trời sẽ mọc;
Phật và chúng Tỳ-kheo tập trung ngồi đây đã quá lâu, mong
Đức Thế Tôn thuyết pháp Tùng giải thoát[8].”
Đức
Thế Tôn nói:
“Này
Đại Mục-kiền-liên, kẻ ngu si sẽ mắc đại tội nếu gây
phiền nhiễu cho Đức Thế Tôn và chúng Tỳ-kheo. Này Đại
Mục-kiền-liên, nếu Đức Như Lai ở giữa chúng bất tịnh
mà thuyết Tùng giải thoát thì đầu người kia sẽ vỡ thành
bảy mảnh. Do đó, này Đại Mục-kiền-liên, từ nay về sau
các thầy hãy thuyết Tùng giải thoát, Đức Như Lai không thuyết
Tùng giải thoát nữa[9].
Vì sao như thế[10]?
“Này
Đại Mục-kiền-liên, giống như đại hải, từ đáy lên trên,
chu vi dần dần rộng hơn, nghiêng chênh chếch lên dần mãi
tạo thành bờ biển. Nước trong ấy luôn luôn đầy, chưa
từng chảy ra ngoài. Này Đại Mục-kiền-liên, Chánh pháp luật
của Ta cũng giống như vậy, dần dần thực hành, dần dần
học tập, dần dần đoạn trừ và dần dần giáo hóa. Này
Đại Mục-kiền-liên, nếu trong chánh pháp Ta dần dần thực
hành, dần dần học, dần dần đoạn trừ và dần dần giáo
hóa, thì đó là pháp vị tằng hữu thứ nhất trong Chánh pháp
luật của Ta.
“Lại
nữa, này Đại Mục-kiền-liên, giống như thủy triều trong
đại hải chưa từng sai thời. Này Đại Mục-kiền-liên, Chánh
pháp luật của Ta cũng giống như vậy, những cấm giới được
thi thiết cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di; các
thiện nam tử ấy dù cho đến mạng chung cũng không phạm giới.
Này Đại Mục-kiền-liên, nếu trong Chánh pháp luật của Ta
những cấm giới được thi thiết cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni,
Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di; các thiện nam tử ấy dù cho đến mạng
chung cũng không phạm giới; thì đó là pháp vị tằng hữu
thứ hai trong Chánh pháp luật của Ta.
“Lại
nữa, này Đại Mục-kiền-liên, giống như nước trong đại
hải rất sâu không đáy, rộng không thấy bờ. Này Đại Mục-kiền-liên,
Chánh pháp luật của Ta cũng giống như vậy, các pháp rất
sâu không đáy, rất rộng không thấy bờ. Này Đại Mục-kiền-liên,
nếu Chánh pháp luật của Ta rất sâu không có đáy, rất rộng
không thấy bờ; thì đó là pháp vị tằng hữu thứ ba trong
Chánh pháp luật của Ta.
“Lại
nữa, này Đại Mục-kiền-liên, giống như nước trong đại
hải cùng một vị mặn. Này Đại Mục-kiền-liên, Chánh pháp
của Ta cũng giống như vậy, chỉ có một vị là vị vô dục,
vị giác, vị tịch tĩnh và vị đạo. Này Đại Mục-kiền-liên,
nếu Chánh pháp luật của Ta chỉ có một vị là vị vô dục,
vị giác, vị tịch tĩnh và vị đạo; thì đó là pháp vị
tằng hữu thứ tư trong Chánh pháp luật của Ta.
“Lại
nữa, này Đại Mục-kiền-liên, giống như đại hải có rất
nhiều trân bảo, vô lượng đồ quí báu lạ mắt; đủ các
loại đồ trân kỳ được chứa đầy trong đó. Tên của các
trân bảo đó là vàng, bạc, thủy tinh, lưu ly, ma ni, trân châu,
bích ngọc, bạch kha, loa bích, san hô, hổ phách, mã não, đồi
mồi, đá đỏ, tuyền châu. Này Đại Mục-kiền-liên, Chánh
pháp luật của Ta cũng giống như vậy, có rất nhiều trân
bảo, vô lượng đồ quí báu lạ mắt; đủ các loại đồ
trân kỳ được chứa đầy trong đó. Những pháp trân bảo
đó là: Bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm
căn, năm lực, bảy giác chi, Thánh đạo tám chi. Này Bà-la-la,
nếu trong Chánh pháp luật của Ta cũng có rất nhiều trân
bảo, vô lượng đồ quí báu lạ mắt; đủ các loại đồ
trân kỳ được chứa đầy trong đó. Những pháp trân bảo
đó là: Bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm
căn, năm lực, bảy giác chi, Thánh đạo tám chi; thì đó là
pháp vị tằng hữu thứ năm trong Chánh pháp luật của Ta.
“Lại
nữa, này Đại Mục-kiền-liên, giống như đại hải là chỗ
cư trú của các vị thần lớn. Những vị thần đó tên là
A-tu-la, Kiền-thấp-hòa, La-sát, cá kình, rùa, cá sấu, Bà-lưu-nê,
Đế-nghê, Đế-nghê-già-la, Đề-đế-nghê-già-la. Lại nữa,
trong đại hải, rất kỳ lạ, rất đặc biệt, có chúng sanh
thân thể tới một trăm do-diên, hai trăm do-diên, cho đến
ba trăm do-diên, bảy trăm do-diên mà thân vẫn ở trong trong
đại hải. Này Đại Mục-kiền-liên, Chánh pháp luật của
Ta cũng giống như vậy, có các thần to lớn, là Thánh chúng,
đều cư trú trong đó. Tên của các thần to lớn đó là: A-la-hán,
Hướng A-la-hán, A-na-hàm, Hướng A-na-hàm, Tư-đa-hàm, Hướng
Tư-đa-hàm, Tu-đà-hoàn, Hướng Tu-đà-hoàn. Này Đại Mục-kiền-liên,
nếu trong Chánh pháp luật của Ta, có các thần to lớn, là
Thánh chúng, đều cư trú trong đó. Tên của các thần to lớn
đó là: A-la-hán, Hướng A-la-hán, A-na-hàm, Hướng A-na-hàm,
Tư-đà-hàm, Hướng Tư-đà-hàm, Tu-đà-hoàn, Hướng Tu-đà-hoàn;
thì đó là pháp vị tằng hữu thứ sáu trong Chánh pháp luật
của Ta.
“Lại
nữa, này Đại Mục-kiền-liên, giống như đại hải thanh
tịnh không dung chứa tử thi, nếu có người mạng chung trong
biển, thì qua một đêm, gió sẽ thổi tấp vào bờ. Này Đại
Mục-kiền-liên, Chánh pháp luật của Ta cũng giống như vậy,
Thánh chúng thanh tịnh không dung chứa tử thi. Nếu có người
nào không tinh tấn, sanh ra điều ác, phi phạm hạnh mà xưng
là phạm hạnh, phi Sa-môn mà xưng là Sa-môn; người ấy dù
ở trong Thánh chúng, nhưng cách Thánh chúng rất xa; Thánh chúng
cũng lại cách người ấy rất xa. Này Đại Mục-kiền-liên,
nếu trong Chánh pháp luật của Ta cũng giống như vậy, Thánh
chúng thanh tịnh không dung chứa tử thi. Nếu có người nào
không tinh tấn, sanh ra điều ác, phi phạm hạnh mà xưng là
phạm hạng, phi Sa-môn mà xưng là Sa-môn; người ấy dù ở
trong Thánh chúng, nhưng cách Thánh chúng rất xa; Thánh chúng
cũng lại cách người ấy rất xa; đó là pháp vị tằng hữu
thứ bảy trong Chánh pháp luật của Ta.
“Lại
nữa, này Đại Mục-kiền-liên, giống như đại hải thuộc
về châu Diêm-phù có năm sông lớn, là Hằng-già, Diêu-vưu-na,
Xa-lao-phù, A-di-la-ba-đề, Ma-xí. Tất cả đều chảy vào đại
hải. Và trong đại hải nước do rồng tuôn từ trời đổ
xuống, giọt nước lớn bằng cái bánh xe. Tất nhiên, nước
ấy không thể khiến cho đại hải có tăng có giảm. Này Đại
Mục-kiền-liên, trong Chánh pháp luật của Ta cũng lại như
vậy. Tộc tánh tử thuộc dòng Sát-lợi, cạo bỏ râu tóc,
khoác áo cà xa, chí tín, lìa bỏ gia đình, xuất gia học đạo,
bất động tâm giải thoát[11]
được tự tác chứng, thành tựu và an trụ. Này Đại Mục-kiền-liên,
bất động tâm giải thoát trong Chánh pháp luật của Ta không
tăng không giảm. Cũng như vậy, đối với tộc tánh tử thuộc
dòng Phạm chí, dòng cư sĩ, dòng thợ thuyền, cạo bỏ râu
tóc, khoác áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không
gia đình, xuất gia học đạo, bất động tâm giải thoát được
tự tác chứng thành tựu an trụ. Này Đại Mục-kiền-liên,
bất động tâm giải thoát trong Chánh pháp luật của Ta không
tăng không giảm. Này Đại Mục-kiền-liên, nếu trong Chánh
pháp luật của Ta, tọâc tánh tử thuộc gòng Sát-lợi, cạo
bỏ râu tóc, khoác áo cà xa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống
không gia đình xuất gia học đạo, bất động tâm giải thoát,
tự tác chứng, thành tựu an trụ. Cũng vậy đối với với
tọâc tánh tử thuộc dòng Phạm chí, cư sĩ, thợ thuyền,
cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình,
sống không gia đình, xuất gia học đạo, bất đọâng tâm
giải thoát được tự tác chứng thành tựu và an trụ. Này
Đại Mục-kiền-liên, bất đọâng tâm giải thoát trong Chánh
pháp luật của Ta không tăng không giảm; đó là pháp vị tằng
hữu trong Chánh pháp luật của Ta.”
Đức
Phật thuyết như vậy. Tôn giả Đại Mục-kiền-liên và các
Tỳ-kheo, sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Tham chiếu Pāli: A. VIII.20 Uposatha, Vin. Cv. IX.1. Tham chiếu Hán:
No.1421 Ngũ Phần Luật 28 (Đại 22, tr.180); No.1428 Tứ Phần
Luật 47 (Đại 22. tr.914c - 15). No.33 Hằng Thủy Kinh, Pháp Cự
dịch (Đại 1, tr.817); No.34 Pháp Hải Kinh, Pháp Cự dịch (Đại
1 tr.818); No.34 Hải Bát Đức Kinh, Cưu-ma-la-thập dịch (Đại
1 tr.819).
[2]
Chiêm-ba, Hằng-già trì 瞻 波 恆 伽 池,
Pāli: hồ sen Gaggarā ở Campā. Ngũ Phần Luật 28 (Đại 22 tr.180c):
Chiêm-ba quốc, Hằng thủy biên. Tứ Phần Luật 36 (Đại 22,
tr.824a): Chiêm-ba quốc Già-già hà trắc. Nhưng, A. Viii. 20: Sāvatthiyaṃ
viharati Pubbārame Migāramātupāsāde, trú tại Sāvatthi, trong giảng
đường của bà Migāramātu (Visakhā), khu vườn phía Đông.
[3]
Trong bản Hán: nguyệt thập ngũ nhật thuyết tùng giải thoát 月
十 五 日 說 從 解 脫.
Ba-la-đề-mộc-xoa (Pāṭimokkha), đây dịch là tùng giải thoát,
phổ thông dịch là biệt giải thoát, chỉ các loại giới
mà Phật chế cho các chúng đệ tử. Bản Pāli: tena samayena...
tadahuposathe, nhân ngày trai giới.
[4]
Các bản Hán đều nói Tôn giả A-nan. A. Vii.20 cũng vậy.
[5]
Tứ Phần Luật, đã dẫn: “Giữa một đại chúng không thanh
tịnh mà muốn Đức Như Lai yết-ma thuyết giới thì không
có trường hợp đó”.
[6]
Hán: như kỳ tượng định. xem cht.25, kinh số 33.
[7]
Hán: mạc ư thử trụ 莫 於 此 住.
Tứ Phần Luật 28 đd. tr.181a: nhữ xuất khứ, diệt khứ, mạc
thử trung trụ 汝 出 去 滅 去 莫 此 中 住.
Pāli: natthi te bhikkhūhi saddhiṃ saṃvāso, “ông không còn sống
chung với các Tỳ-kheo”. Tham chiếu các bản, Tôn giả Đại
Mục-kiền-liên trục xuất Tỳ-kheo này ra khỏi tăng. Bản
Pāli: saṃvāso (sống chung, sinh hoạt chung), trong các bản Hán:
trú.
[8]
Tứ Phần Luật 36 (Đại 22, tr.824b): “Đại chúng đã thanh
tịnh, mong Thế Tôn thuyết giới.
[9]
Tứ Phần Luật 36 (Đại 22, tr.824b): Đức Phật khiển trách
Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, và thiết lập một trong bảy
pháp Diệt tránh là “Tự ngôn trị”.
[10]
Từ đây trở xuống, tán thán sự hy hữu của đại hải như
kinh 35 trên.
[11]
Bất di động tâm giải thoát 不 移 動 心 解 脫.
Pāli: akuppā cetovimutti, sự giải thoát của tâm, không còn
dao động.