36.
KINH ĐỊA ĐỘNG[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật du hóa tại nước Kim cang[2],
thành Viết-địa[3].
Bấy
giờ cõi đất kia bị chấn động mạnh[4].
Khi cõi đất bị chấn động mạnh, bốn mặt gió lớn nổi
lên, bốn phương sao chổi mọc; nhà cửa, tường vách, tất
cả đều sụp đổ.
Lúc
đó, Tôn giả A-nan thấy cõi đất bị chấn động mạnh. Khi
cõi đất bị chấn động mạnh, bốn mặt gió lớn nổi lên,
bốn phương sao chổi mọc; nhà cửa, tường vách, tất cả
đều sụp đổ. A-nan thấy rồi sợ hãi, toàn thân lông dựng
đứng; đi đến chỗ Phật, cúi đầu lễ dưới chân Phật,
đứng sang một bên, rồi thưa rằng:
“Bạch
Thế Tôn, hôm nay cõi đất bị chấn động mạnh. Khi cõi đất
bị chấn động mạnh, bốn mặt gió lớn nổi lên, bốn phương
sao chổi mọc; nhà cửa, tường vách, tất cả đều sụp đổ.”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo A-nan rằng:
“Thật
vậy, A-nan, nay đất bị chấn động mạnh. Thật vậy, A-nan,
khi cõi đất bị chấn động mạnh, bốn mặt gió lớn nổi
lên, bốn phương sao chổi mọc; nhà cửa, tường vách, tất
cả đều sụp đổ.”
A-nan
bạch rằng:
“Thế
Tôn, có mấy nguyên nhân cõi đất bị chấn động mạnh. Khi
cõi đất bị chấn động mạnh, bốn mặt gió lớn nổi lên,
bốn phương sao chổi mọc; nhà cửa, tường vách, tất cả
đều sụp đổ?”
Thế
Tôn đáp:
“Này A-nan, có ba nguyên nhân khiến cõi đất bị chấn động
mạnh. Khi cõi đất bị chấn động mạnh, bốn mặt gió lớn
nổi lên, bốn phương sao chổi mọc; nhà cửa, tường vách,
tất cả đều sụp đổ. Những gì là ba?
“Này
A-nan, cõi đất này y chỉ trên nước; nước y chỉ trên gió;
gió y vào hư không. A-nan, có khi trong hư không nổi lên gió
lớn. Gió nổi lên thì nước bị khuấy động. Nước bị
khuấy động thì xảy ra động đất. Đó là nguyên nhân thứ
nhất khiến cõi đất bị chấn động mạnh. Khi cõi đất
bị chấn động mạnh, bốn mặt gió lớn nổi lên, bốn phương
sao chổi mọc; nhà cửa, tường vách, tất cả đều sụp đổ.
“Lại
nữa, A-nan, Tỳ-kheo có đại như ý túc, có đại oai đức,
có đại phước hựu, có đại oai thần, tâm tự tại như
ý túc. Vị ấy khởi lên ý tưởng nhỏ đối với đất, khởi
ý tưởng vô lượng tưởng đối với nước[5].
Do nguyên nhân ấy nên đất tùy theo sở dục, tùy theo ý tưởng
của vị ấy mà bị xoáy rồi lại xoáy, chấn động rồi
lại chấn động. Vị trời theo hộ vệ vị Tỳ-kheo ấy cũng
lại như vậy, có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại
phước hựu, có đại oai thần, tâm tự tại như ý túc. Vị
ấy khởi lên ý tưởng nhỏ đối với đất, khởi ý tưởng
vô lượng tưởng đối với nước. Do nguyên nhân ấy nên
đất tùy theo sở dục, tùy theo ý tưởng của vị ấy mà
bị xoáy rồi lại xoáy, chấn động rồi lại chấn động.
Đó là nguyên nhân thứ hai, khiến cõi đất bị chấn động
mạnh. Khi cõi đất bị chấn động mạnh, bốn mặt gió lớn
nổi lên, bốn phương sao chổi mọc; nhà cửa, tường vách,
tất cả đều sụp đổ.
“Lại
nữa, A-nan, nếu còn không đầy ba tháng nữa, Như Lai sẽ nhập
Niết-bàn. Do cớ ấy khiến cõi đất bị chấn động mạnh.
Khi cõi đất bị chấn động mạnh, bốn mặt gió lớn nổi
lên, bốn phương sao chổi mọc; nhà cửa, tường vách, tất
cả đều sụp đổ. Đó là nguyên nhân thứ ba khiến cõi đất
bị chấn động mạnh. Khi cõi đất bị chấn động mạnh,
bốn mặt gió lớn nổi lên, bốn phương sao chổi mọc; nhà
cửa, tường vách, tất cả đều sụp đổ.
Bấy giờ, sau khi nghe xong, Tôn giả A-nan buồn rầu khóc lóc,
nước mắt đầm đìa, chắp tay hướng về Phật mà bạch
rằng:
“Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu, thật là hy hữu, Đức
Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, thành tựu công đức,
có nhiều pháp vị tằng hữu. Vì sao thế? Vì không bao lâu
nữa, sau ba tháng, Như Lai sẽ nhập Niết-bàn; bấy giờ khiến
cõi đất bị chấn động mạnh. Khi cõi đất bị chấn động
mạnh, bốn mặt gió lớn nổi lên, bốn phương sao chổi mọc;
nhà cửa, tường vách, tất cả đều sụp đổ.”
Thế
Tôn nói với Tôn giả A-nan rằng:
“Thật
vậy, A-nan! Thật vậy, A-nan! Thật là kỳ diệu, thật là hy
hữu, Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, thành
tựu công đức, có nhiều pháp vị tằng hữu. Vì sao thế?
Vì không bao lâu nữa, sau ba tháng, Như Lai sẽ nhập Niết-bàn;
bấy giờ khiến cõi đất bị chấn động mạnh. Khi cõi đất
bị chấn động mạnh, bốn mặt gió lớn nổi lên, bốn phương
sao chổi mọc; nhà cửa, tường vách, tất cả đều sụp đổ[6].”
“Lại nữa, này A-nan, Ta đi đến vô lượng trăm ngàn chúng
Sát-lợi, cùng đàm luận khiến cho họ hài lòng. Sau khi cùng
ngồi xuống ổn định, giống như sắc tướng của họ, sắc
tướng Ta cũng vậy; giống như âm thanh của họ, âm thanh của
Ta cũng như vậy; giống như oai nghi lễ tiết của họ, oai
nghi lễ tiết của Ta cũng như vậy. Nếu họ có hỏi về ý
nghĩa gì, Ta sẽ trả lời họ về ý nghĩa ấy. Lại nữa,
Ta thuyết pháp cho họ, khuyến phát, khát ngưỡng, thành tựu
hoan hỷ. Sau khi dùng vô lượng phương tiện, khuyến phát,
khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ cho họ rồi, Ta biến mất
khỏi nơi ấy. Khi Ta biến mất rồi, họ không biết Ta là
ai, là người hay phi nhân. Này A-nan, như vậy thật là kỳ
diệu, thật là hy hữu, Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh
Giác, thành tựu công đức, có được pháp vị tằng hữu.
Cũng như vậy, đối với các chúng Phạm chí, Sa-môn và cư
sĩ.
“Này
A-nan, Ta đi đến vô lượng trăm ngàn thiên chúng trời Tứ
vương, cùng đàm luận khiến cho họ hài lòng. Sau khi cùng
ngồi xuống ổn định, giống như sắc tướng của họ, sắc
tướng Ta cũng vậy; giống như âm thanh của họ, âm thanh của
Ta cũng như vậy; giống như oai nghi lễ tiết của họ, oai
nghi lễ tiết của Ta cũng như vậy. Nếu họ có hỏi về ý
nghĩa gì, Ta sẽ trả lời họ về ý nghĩa ấy. Lại nữa,
Ta thuyết pháp cho họ, khuyến phát, khát ngưỡng, thành tựu
hoan hỷ. Sau khi dùng vô lượng phương tiện, khuyến phát,
khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ cho họ rồi, Ta biến mất
khỏi nơi ấy. Khi Ta biến mất rồi, họ không biết Ta là
ai, là người hay phi nhân. Này A-nan, như vậy thật là kỳ
diệu, thật là hy hữu, Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh
Giác, thành tựu công đức, có được pháp vị tằng hữu.
Cũng vậy, đối với thiên chúng Tam thập tam thiên, Diệm-ma
thiên, Đâu-suất-đà thiên, Hóa lạc thiên, Tha hóa lạc thiên,
Phạm thân thiên, Phạm-phú-lâu thiên, Thiểu quang thiên, Vô
lượng quang thiên, Hoảng dục thiên, Thiểu tịnh thiên, Vô
lượng tịnh thiên, Biến tịnh thiên, Vô quái ngại thiên,
Thọ phước thiên, Quả thật thiên, Vô phiền thiên, Vô nhiệt
thiên, Thiệân kiến thiên, và Thiên hiện thiên[7].
“Này
A-nan, Ta đến ngồi giữa vô lượng trăm ngàn thiên chúng trời
Sắc cứu cánh[8],
cùng đàm luận khiến cho họ hài lòng. Sau khi cùng ngồi xuống
ổn định, giống như sắc tướng của họ, sắc tướng Ta
cũng vậy; giống như âm thanh của họ, âm thanh của Ta cũng
như vậy; giống như oai nghi lễ tiết của họ, oai nghi lễ
tiết của Ta cũng như vậy. Nếu họ có hỏi về ý nghĩa gì,
Ta sẽ trả lời họ về ý nghĩa ấy. Lại nữa, Ta thuyết
pháp cho họ, khuyến phát, khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ.
Sau khi dùng vô lượng phương tiện, khuyến phát, khát ngưỡng,
thành tựu hoan hỷ cho họ rồi, Ta biến mất khỏi nơi ấy.
Khi Ta biến mất rồi, họ không biết Ta là ai, là người hay
phi nhân. Này A-nan, như vậy thật là kỳ diệu, thật là hy
hữu, Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, thành tựu
công đức, có được pháp vị tằng hữu.”
Đức
Phật thuyết như vậy. Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi
nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Bản Hán, quyển 9. Tương đương Pāli, A. VIII. Bhūmicāla; tham
chiếu, một phần D.16 Mahā-Parinibbāna-suttanta. Biệt dịch,
No.125 (42.5) Tăng Nhất 37 “Phẩm 8 Bát Nạn” kinh số 5; tham
chiếu, No.1(2) Trường, “Kinh Du Hành I”.
[2]
Kim cang 金 剛.
Pāli: Vajirā, không thấy địa danh này trong Pāli. Có lẽ là
Vajjī. No.125(42-5), tại Xá-vệ. Bản Pāli: tại Vesali.
[3]
Viết địa 日 地.
Pāli, có lẽ phiên âm của Vajjī (cũng dịch là Bạt-kỳ),
tên chủng tộc, cũng là tên Vương quốc; nhưng không tìm thấy
tên thành tương đương.
[4]
Tham chiếu, D.16, biến cố xảy ra tại Cāpāla, sau khi Thế
Tôn chấp thuận lời thỉnh cầu của Ma vương, Ngài xả bỏ
thọ hành. Tham chiếu No.1(2), tr.15b và tt.
[5]
Có bốn tưởng: tiểu tưởng, đại tưởng, vô lượng tưởng,
vô sở hữu tưởng (Tập Dị 6. Đại 26, tr.492 a).
[6]
Các bản kia, có tám trường hợp khiến động đất, như trên,
và kể thêm lúc Bồ-tát giáng thần, lúc Bồ-tát đản sanh,
lúc Như Lai thành đạo, lúc Như Lai chuyển pháp luân, lúc Như
Lai xả bỏ thọ hành và lúc Như Lai nhập Niết-bàn.
[7]
Tứ vương thiên 四 王 天 (Pāli:
Catummahārājikā devā), Tam thập tam thiên 三 十 三
天(Tāvatiṃsā),
Diệm-ma thiên 焰 摩 天(Yāmā),
Đâu-suất-đà thiên 兜 率 哆 天 (Tusitā),
Hóa lạc thiên 化 樂 天 (Nimmānarati),
Tha hóa lạc thiên 他 化 樂 天 (Paranimmitavasavatti),
Phạm thân thiên 梵 身 天(Brahmakāyikā),
Phạm-phú-lâu thiên 梵 富 樓 天 (Brahmapurohītā),
Thiểu quang thiên 少 光 天 (Parittābhā),
Vô lượng quang thiên 無 量 光 天 (Appamāṇābhā),
Hoảng dục thiên 晃 昱 天 (Ābhassarā),
Thiểu tịnh thiên 少 淨 天 (Parittasubhā),
Vô lượng tịnh thiên 無 量 淨 天 (Appamāṇasubhā),
Biến tịnh thiên 遍 淨 天
(Subhakiṇṇā),
Vô quái ngại thiên 無 罫 礙 天 (Anabhrakā),
Thọ phước thiên 受 福 天 (Puṇyaprasavā),
Quả thật thiên 果 實 天 (Vehapphalā),
Vô phiền thiên 無 煩 天 (Avihā),
Vô nhiệt thiên 無 熱 天 (Atappā),
Thiện kiến thiên 善 見 天 (Sudassā),
và Thiện hiện thiên 善 現 天 (Sudassī).
Pāli: Tám chúng (aṭṭha parisā), Biểu hiện tám pháp vi tăng
hữu của Đức Như Lai giữa các loài trời và loài người:
Sát-lợi, Bà-la-môn, cư sĩ, Sa-môn, Tứ thiên vương, Tam thập
tam thiên, chúng Ma và Phạm thiên.
[8]
Sắc cứu cánh 色 究 竟,
cao nhất tầng thứ tư của Sắc giới.