34.
KINH BẠC-CÂU-LA[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, sau khi Phật nhập Niết-bàn không bao lâu, Tôn giả Bạc-câu-la[2]
du hóa[3]
tại thành Vương xá, trong Trúc lâm vườn Ca-lan-đa.
Bấy
giờ có một người dị học[4],
vốn là bằng hữu thân thiết với Tôn giả Bạc-câu-la khi
ngài chưa xuất gia, vào buổi xế, loanh quanh đi đến chỗ
Tôn giả Bạc-câu-la, chào hỏi rồi ngồi sang một bên. Dị
học nói rằng:
“Hiền
giả Bạc-câu-la, tôi có điều muốn hỏi; có thể cho tôi
được hỏi chăng?”
Tôn
giả Bạc-câu-la trả lời:
“Này
dị học, tùy điều ông hỏi, tôi nghe rồi suy nghĩ.”
Dị học hỏi:
“Hiền
giả Bạc-câu-la, ngài đã theo học trong chánh pháp luật này
được bao lâu?”
Tôn
giả Bạc-câu-la trả lời:
“Này
dị học, tôi theo học trong chánh pháp luật này đến nay đã
là tám mươi năm.”
Dị
học hỏi rằng:
“Hiền
giả Bạc-câu-la, ngài đã theo học trong chánh pháp luật này
đến nay là tám mươi năm; Ngài nhớ có lần nào ngài làm
việc dâm dục chăng?”
Tôn
giả Bạc-câu-la bảo dị học rằng:
“Ông
đừng hỏi như vậy, mà hãy hỏi một cách khác: ‘Hiền giả
Bạc-câu-la, ngài học đạo trong chánh pháp luật này được
tám mươi năm, ngài nhớ có lần nào khởi lên dục tưởng[5]
chăng?’ Ông nên hỏi như vậy.”
Bấy
giờ dị học liền nói như vầy:
“Tôi
nay lại hỏi rằng: ‘Hiền giả Bạc-câu-la, ngài học đạo
trong chánh pháp luật này được tám mươi năm, ngài nhớ có
lần nào khởi lên dục tưởng chăng?’”
Bấy
giờ Tôn giả Bạc-câu-la nhân người dị học hỏi như vậy,
liền nói với các Tỳ-kheo rằng:
“Này
chư Hiền, tôi đã học đạo trong chánh pháp luật này đến
nay là tám mươi năm, nếu nhân đó khởi cống cao, ý tưởng
đó hoàn toàn không có.”
Nếu
Tôn giả Bạc-câu-la nói như vậy; đó là pháp vị tằng hữu
của Tôn giả Bạc-câu-la.
Lại
nữa, Tôn giả Bạc-câu-la nói như vầy:
“Này
chư Hiền, tôi đã học đạo trong chánh pháp luật này đến
nay là tám mươi năm, chưa từng khởi dục tưởng.”
Nếu Tôn giả Bạc-câu-la nói như vậy; đó là pháp vị tằng
hữu của Tôn giả Bạc-câu-la.
Lại
nữa, Tôn giả Bạc-câu-la nói như vầy:
“Này
chư Hiền, tôi thọ trì y phấn tảo[6]
đến nay là tám mươi năm. Nếu tôi nhân đó mà khởi tâm
cống cao, ý tưởng đó hoàn toàn không có.”
Nếu Tôn giả Bạc-câu-la nói như vậy; đó là pháp vị tằng
hữu của Tôn giả Bạc-câu-la.
Lại
nữa, Tôn giả Bạc-câu-la nói như vầy:
“Này
chư Hiền, tôi thọ trì y phấn tảo đến nay là tám mươi
năm; tôi nhớ chưa từng thọ y của người cư sĩ[7],
chưa từng cắt may y, chưa từng nhờ người khác may hộ y,
chưa từng dùng kim khâu y, chưa từng dùng kim khâu túi, dù
là một sợi chỉ.”
Nếu Tôn giả Bạc-câu-la nói như vậy; đó là pháp vị tằng
hữu của Tôn giả Bạc-câu-la.
Lại
nữa, Tôn giả Bạc-câu-la nói như vầy:
“Này
chư Hiền, tôi khất thực đến nay là tám mươi năm; nếu
tôi nhân đó mà khởi tâm cống cao, ý tưởng đó hoàn toàn
không có.”
Nếu
Tôn giả Bạc-câu-la nói như vậy; đó là pháp vị tằng hữu
của Tôn giả Bạc-câu-la.
Lại
nữa, Tôn giả Bạc-câu-la nói như vầy:
“Này
chư Hiền, tôi khất thực đến nay là tám mươi năm; tôi nhớ,
chưa hề nhận lời mời của cư sĩ, chưa hề khất thực vượt
thứ tự[8],
chưa hề khất thực nơi các nhà lớn để nhận các thứ đồ
ăn loại cứng, loại mềm[9]
rất dồi dào, rất tinh khiết và mỹ vị; chưa hề nhìn ngắm
người nữ; chưa hề vào khu vực Tỳ-kheo-ni, chưa hề cùng
Tỳ-kheo-ni hỏi chuyện, cho đến cũng chưa hề nói chuyện
giữa đường.”
Nếu
Tôn giả Bạc-câu-la nói như vậy; đó là pháp vị tằng hữu
của Tôn giả Bạc-câu-la.
Lại
nữa, Tôn giả Bạc-câu-la nói như vầy:
“Này
chư Hiền, tôi ở trong chánh pháp luật này học đạo đã
tám mươi năm, chưa hề nuôi Sa-di, chưa hề thuyết pháp cho
bạch y; cho đến chưa hề nói cho họ chỉ bốn câu tụng.”
Nếu
Tôn giả Bạc-câu-la nói như vậy; đó là pháp vị tằng hữu
của Tôn giả Bạc-câu-la.
Lại
nữa, Tôn giả Bạc-câu-la nói như vầy:
“Này
chư Hiền, tôi ở trong chánh pháp luật này học đạo đã
tám mươi năm, chưa hề có bệnh, cho đến dù chỉ nhức đầu
trong khoảng búng ngón tay; chưa hề uống thuốc, cho đến dù
chỉ một Ha-lê-lặc[10].”
Nếu
Tôn giả Bạc-câu-la nói như vậy; đó là pháp vị tằng hữu
của Tôn giả Bạc-câu-la.
Lại
nữa, Tôn giả Bạc-câu-la nói như vầy:
“Này
chư Hiền, trong tám mươi năm qua, khi tôi ngồi kiết già, chưa
từng dựa vào vách hay dựa vào cây.”
Nếu
Tôn giả Bạc-câu-la nói như vậy; đó là pháp vị tằng hữu
của Tôn giả Bạc-câu-la.
Lại
nữa, Tôn giả Bạc-câu-la nói như vầy:
“Này
chư Hiền, trong vòng ba ngày ba đêm, tôi chứng đắc ba minh
đạt[11].”
Nếu Tôn giả Bạc-câu-la nói như vậy; đó là pháp vị tằng
hữu của Tôn giả Bạc-câu-la.
Lại
nữa, Tôn giả Bạc-câu-la nói như vầy:
“Này
chư Hiền, tôi sẽ ngồi kiết già để vào Niết-bàn.”
Nếu
Tôn giả Bạc-câu-la nói như vậy; đó là pháp vị tằng hữu
của Tôn giả Bạc-câu-la.
Tôn
giả Bạc-câu-la thuyết như vầy. Các Tỳ-kheo và người dị
học sau khi nghe Tôn giả Bạc-câu-la thuyết, hoan hỷ phụng
hành.
Chú
thích
[1]
Tương đương Pāli: M.124 Bakkulasuttam.
[2]
Bạc-câu-la 薄 拘 羅.
Pāli: Bakkula, Bākula, hay Vakkula; nguyên quán ở Kosambi, một
trong bốn đệ tử có đại trí thông (abhiñña). Ngài được
coi là vị đệ tử khổ hạnh, không thuyết pháp.
[3]
Xem cht.1 kinh số 1.
[4]
Dị học 異 學.
Pāli: acela-Kassapa, một tu sĩ lõa thể tên là Kassapa.
[5]
Hán: dục tưởng 欲 想.
Pāli: kāma-saññā.
[6]
Phấn tảo y 糞 掃 衣.
Pāli: paṃsulaku, y may bằng vải lượm từ các đống rác.
Bakkula tu hạnh đầu-đà, chỉ mặc y phấn tảo (Paṃsukulika).
[7]
Tức nhận vải từ cư sĩ để may y.
[8]
Hán: siêu việt khất thực 超 越 乞 食.
Theo phép, khất thực phải đi lần lượt từng nhà, bất luận
giàu hay nghèo.
[9]
Hán: thực đạm hàm tiêu 食 噉 含 消;
thức ăn cần phải nhai, và loại chỉ ngậm cho tiêu.
[10]
Ha-lê-lặc 訶 梨 勒.
Pāli: harītaka, loại quả dùng lam thuốc (Terminalia citrina).
[11]
Hán: tam đạt chứng 三 達 證.
Tức sự chứng đắc ba minh: túc mạng minh, thiên nhãn minh
và lậu tận minh. Pāli: tisso vijjā: pubbenivāsānussati-ñāṇa-vijjā,
cutūapāte-ñāṇa-vijjā, āsavā-khaya-ñāṇa-vijjā.