33. KINH THỊ
GIẢ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật du hóa tại thành Vương xá.
Bấy
giờ, có các đại đệ tử, là các Tỳ-kheo trưởng lão thượng
tôn danh đức, được nhiều người biết đến; đó là Tôn
giả Câu-lân-nhã[2],
A-nhiếp-bối[3],
Tôn giả Thích-ca Vương Bạt-đề[4],
Tôn giả Ma-ha-nam Câu-lệ[5],
Tôn giả Hòa-phá[6],
Tôn giả Da-xá[7],
Tôn giả Bân-nậu[8],
Tôn giả Duy-ma-la[9],
Tôn giả Già-hòa-ba-đề[10],
Tôn giả Tu-đà-da[11],
Tôn giả Xá-lê Tử[12],
Tôn giả A-na-luật-đà[13],
Tôn giả Nan-đề[14],
Tôn giả Kim-tì-la[15],
Tôn giả Lệ-ba-đá[16],
Tôn giả Đại Mục-kiền-liên[17],
Tôn giả Đại Ca-diếp[18],
Tôn giả Đại Câu-hi-la[19],
Tôn giả Đại Châu-na[20],
Tôn giả Đại Ca-chiên-diên[21],
Tôn giả Bân-nạâu-da-nậu-tả trưởng lão[22],
Tôn giả Da-xá Hành Trù trưởng lão[23],
rất nhiều các vị Tỳ-kheo trưởng lão thượng tôn danh đức,
đại đệ tử, được mọi người biết đến, tương tự
như vậy, cũng ở thành Vương xá, tất cả đều trú gần
ngôi nhà lá của Phật.
Bấy
giờ Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo rằng:
“Hiện
nay tuổi của Ta đã già; thân thể ngày càng suy yếu, tuổi
thọ đã quá già rồi, nên Ta cần có thị giả. Các thầy
hãy cử cho Ta một thị giả, làm sao để chăm sóc Ta, xứng
ý chớ không phải không xứng ý, ghi nhớ lời Ta nói mà không
quên mất ý nghĩa[24].”
Lúc
ấy Tôn giả Câu-lân-nhã liền từ chỗ ngồi đứng dậy,
trịch vai sửa y, chắp tay hướng về Đức Phật thưa rằng:
“Bạch
Thế Tôn, con xin nguyện hầu hạ, xứng ý chớ không phải
không xứng ý, ghi nhớ những lời Ngài nói mà không quên mất
ý nghĩa.”
Đức
Thế Tôn bảo rằng:
“Này
Câu-lân-nhã, thầy cũng tuổi đã già, thân thể ngày càng
suy yếu, tuổi thọ đã qua dài rồi. Chính thầy cũng cần
có thị giả. Này Câu-lân-nhã, thầy nên lui về chỗ ngồi
đi.”
Bấy giờ Tôn giả Câu-lân-nhã đảnh lễ chân Phật rồi lui
về chỗ ngồi.
Cũng như vậy, lần lượt Tôn giả A-nhiếp-bối, Tôn giảû
Thích-ca Vương Bạt-đề, Tôn giả Ma-ha-nam Câu-lệ, Tôn giả
Hòa-phá, Tôn giả Da-xá, Tôn giả Bân-nậu, Tôn giả Duy-ma-la,
Tôn giả Già-hòa-ba-đề, Tôn giả Tu-đà-da, Tôn giả Xá-lê
Tử, Tôn giả A-na-luật-đà, Tôn giả Nan-đề, Tôn giả Kim-tì-la,
Tôn giả Lệ-ba-đá, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, Tôn giả
Đại Ca-diếp, Tôn giả Đại Câu-hi-la, Tôn giả Đại Châu-na,
Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, Tôn giả Bân-nạâu-da-nậu-tả
trưởng lão.
Tôn
giả Da-xá Hành Trù trưởng lão, liền từ chỗ ngồi đứng
dậy, trịch vai sửa áo, chắp tay hướng về Đức Phật thưa
rằng:
“Bạch
Thế Tôn, con xin nguyẹân hầu hạ xứng ý chớ không phải
không xứng ý, ghi nhớ những lời Ngài dạy mà không quên
ý nghĩa.”
Đức Thế Tôn bảo rằng:
“Này Da-xá, thầy cũng tuổi đã già, thân thể ngày càng
suy yếu, tuổi thọ đã qua dài rồi. Chính thầy cũng cần
có thị giả. Này Da-xá, thầy nên lui về chỗ ngồi đi.”
Bấy
giờ, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên đang ở trong đại chúng
ấy, liền suy nghĩ như vầy: ‘Đức Thế Tôn muốn tìm vị
nào làm thị giả? Ýù nghĩ đặt vào Tỳ-kheo nào? Muốn cho
ai chăm sóc Ngài, xứng ý chớ không phải không xứng ý, và
ghi nhớ những lời Ngài dạy mà không quên mất nghĩa? Có
lẽ ta nên nhập định có hình tượng như thế[25],
quan sát tâm của chúng Tỳ-kheo’. Tôn giả Đại Mục-kiền-liên
liền nhập định có hình tượng như thế, biết Thế Tôn
muốn chọn Hiền giả A-nan làm thị giả, ý Ngài đặt vào
A-nan, muốn A-nan chăm sóc, xứng ý chớ không phải không xứng
ý, ghi nhớ lời dạy mà không quên ý nghĩa.
Bấy
giờ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên liền xuất định, thưa
với chúng Tỳ-kheo rằng:
“Chư
Hiền biết không, Đức Thế Tôn muốn chọn Hiền giả A-nan
làm thị giả. Ý Ngài đặt vào A-nan; muốn A-nan chăm sóc,
xứng ý chớ không phải là không xứng ý, ghi nhớ lời dạy
mà không quên ý nghĩa. Bây giờ chúng ta nên cùng nhau đến
chỗ Hiền giả A-nan khuyến dụ thầy ấy làm thị giả của
Thế Tôn.”
Bấy
giờ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên cùng các Tỳ-kheo cùng nhau
đến chỗ Tôn giả A-nan, chào hỏi nhau rồi ngồi sang một
bên. Lúc ấy Tôn giả Đại Mục-kiền-liên ngồi xong, nói
rằng:
“Hiền
giả A-nan, thầy có biết không, Đức Thế Tôn muốn chọn
thầy làm thị giả; ý Ngài đặt vào A-nan, muốn A-nan chăm
sóc Ngài, vì thầy xứng ý Ngài chớ không phải không xứng
ý, ghi nhớ lời dạy của Ngài mà không quên mất ý nghĩa.
A-nan, cũng như ngoài thôn xóm không bao xa, có một tòa lâu
đài to lớn, cửa sổ mở ra ở phía Đông, thì khi mặt trời
mọc lên, ánh sáng sẽ rọi thẳng vào vách phía Tây. Này Hiền
giả A-nan, Đức Thế Tôn cũng vậy, muốn chọn A-nan làm thị
giả, ý Ngài đặt vào A-nan, muốn A-nan chăm sóc Ngài, xứng
ý chớ không phải không xứng ý, ghi nhớ lời dạy của Ngài
mà không quên mất ý nghĩa. Này Hiền giả A-nan, bây giờ thầy
nên làm thị giả Đức Thế Tôn.”
Tôn
giảû A-nan thưa rằng:
“Bạch
Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, tôi không thể lãnh trách nhiệm
hầu hạ Đức Thế Tôn nổi. Vì sao thế? Vì với các Đức
Phật Thế Tôn khó xứng ý, khó hầu hạ;ï nghĩa là khó làm
thị giả. Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, cũng như đối vớiù
một con voi rất hùng mạnh, đã hơn sáu mươi tuổi, kiêu ngạo,
sức mạnh cường thạnh, đủ ngà, đủ vóc, khó làm xứng
ý, khó gần gũi; nghĩa là khó coi sóc.
Tôn
giả Đại Mục-kiền-liên, với Đức Như Lai, Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác, cũng lại như vậy, khó xứng ý, khó gần
gũi; nghĩa là khó làm thị giả. Thưa Tôn giả Đại Mục-kiền-liên,
vì vậy tôi không thể lãnh trách nhiệm làm thị giả được.”
Tôn
giả Đại Mục-kiền-liên, nói rằng:
“Này
Hiền giả A-nan, thầy hãy nghe tôi nói ví dụ, người có trí
nghe ví dụ liền hiểu ý nghĩa của nó. Này Hiền giả A-nan,
cũng như hoa Ưu-đàm-bát-la đúng thời mới xuất hiện thế
gian. Này Hiền giả A-nan, Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng
Chánh Giác cũng lại như vậy. Đúng thời mới xuất thế.
Này Hiền giả A-nan, thầy nên mau làm thị giả Đức Thế
Tôn rồi sẽ được kết quả lớn.”
Tôn
giả A-nan lại bạch:
“Thưa
Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, nếu Đức Thế Tôn chấp thuận
ba điều nguyện của tôi thì tôi mới có thể làm thị giả.
Những gì là ba? Tôi nguyện không đắp y của Thế Tôn, dù
cũ hay mới; nguyện không ăn thực phẩm biệt thỉnh của Phật;
nguyện không gặp Thế Tôn phi thời. Thưa Tôn giả Đại Mục-kiền-liên,
nếu Đức Thế Tôn cho phép tôi nguyện ba điều ấy, tôi mới
làm thị giả Đức Thế Tôn.”
Bấy
giờ, sau khi khuyên Tôn giả A-nan làm thị giả rồi, Tôn giả
Đại Mục-kiền-liên đứng dậy đi quanh Tôn giả A-nan rồi
trở về; đến chỗ Đức Phật, cúi đầu đảnh lễ chân
Phật rồi ngồi sang một bên, bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, con đã khuyến dụ Hiền giả A-nan làm thị giả
Phật. Bạch Thế Tôn, Hiền giả A-nan, xin nơi Phật ba lời
nguyện, nói rằng: ‘Những gì là ba? Nguyện không đắp y
của Thế Tôn, dù cũ hay mới; nguyện không ăn thực phẩm
biệt thỉnh của Phật; nguyện không gạêp Thế Tôn phi thời.
Thưa Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, nếu Đức Thế Tôn cho
phép tôi nguyện ba điều ấy, tôi mới làm thị giả Đức
Thế Tôn’.”
Đức
Thế Tôn nói:
“Này
Đại Mục-kiền-liên, Tỳ-kheo A-nan thông minh trí tuệ, biết
trước sẽ có những lời hiềm tỵ, hoặc có vị đồng phạm
hạnh sẽ nói như vầy: ‘Tỳ-kheo A-nan vì y áo nên hầu hạ
Đức Thế Tôn’. Này Đại Mục-kiền-liên, nếu Tỳ-kheo A-nan
thông minh trí tuệ, biết trước sẽ có những lời hiềm tỵ
hoặc các đồng phạm hạnh, nói như vầy: ‘Tỳ-kheo A-nan
vì y áo nên hầu hạ Đức Thế Tôn’. Thì đó là pháp vị
tằêng hữu của Tỳ-kheo A-nan.
“Này
Đại Mục-kiền-liên, Tỳ-kheo A-nan thông minh trí tuệ, biết
trước sẽ có những lời hiềm tỵ, hoặc có vị đồng phạm
hạnh sẽ nói như vầy: ‘Tỳ-kheo A-nan vì đồ ăn nên hầu
hạ Đức Thế Tôn’. Này Đại Mục-kiền-liên, nếu Tỳ-kheo
A-nan thông minh trí tuệ, dự đoán sẽ có những lời hiềm
tỵ hoặc các đồng phạm hạnh nói như vầy: ‘Tỳ-kheo A-nan
vì đồ ăn nên hầu hạ Đức Thế Tôn’. Thì đó là pháp
vị tằêng hữu của Tỳ-kheo A-nan.
“Này
Đại Mục-kiền-liên, Tỳ-kheo A-nan khéo biết thời, khéo phân
biệt được thời, biết lúc nào là thời nên đến gặp Như
Lai, lúc nào không phải là thời đến gặp Như Lai; biết lúc
nào là thời chúng Tỳ-kheo và chúng Tỳ-kheo-ni nên đến gặp
Như Lai, lúc nào không phải là thời chúng Tỳ-kheo và chúng
Tỳ-kheo-ni nên đến gặp Như Lai; biết lúc nào là thời chúng
Ưu-bà-tắc và chúng Ưu-bà-di nên đến gặp Như Lai, lúc nào
không phải là thời chúng Ưu-bà-tắc và chúng Ưu-bà-di nên
đến gặp Như Lai; biết lúc nào các hàng Sa-môn, Phạm chí
dị học nên đến gặp Như Lai, biết lúc nào các hàng Sa-môn,
Phạm chí dị học không nên đến gặp Như Lai; biết lúc nào
các hàng Sa-môn, Phạm chí dị học không nên đến gặp Như
Lai; biết các hàng Sa-môn, Phạm chí dị học nào có thể bàn
luận với Như Lai; biết các hàng Sa-môn, Phạm chí dị học
nào không thể bàn luận với Như Lai; biết thức ăn loại
cứng hay loại mềm nào Đức Như Lai dùng rồi sẽ an ổn,
có lợi ích, loại cứng hay loại mềm nào Đức Như Lai dùng
rồi sẽ không được an ổn, có lợi ích; thức ăn loại cứng
hay loại mềm nào Đức Như Lai dùng rồi sẽ được biẹân
tài thuyết pháp. Biết thức ăn loại cứng hay loại mềm nào
Đức Như Lai dùng rồi sẽ không được biện tài thuyết pháp;
đó là pháp vị tằêng hữu của Tỳ-kheo A-nan.
“Này
Đại Mục-kiền-liên, mặc dù Tỳ-kheo A-nan không có tha tâm
trí, nhưng có thể khéo biết trước được Đức Như Lai sẽ
thuyết pháp cho ai khi Như Lai rời tĩnh tọa đứng dậy vào
buổi xế, hôm nay Đức Như Lai sẽ làm như vậy, sẽ hiện
pháp lạc trụ như vậy, nhận xét đúng lời Ngài nói, chắc
thật không thể sai khác. Đó là pháp vị tằng hữu của Tỳ-kheo
A-nan.
Khi
Tôn giả A-nan nói như vầy[26]:
‘Thưa chư Hiền, tôi đã hầu Đức Thế Tôn đã hai mươi
lăm năm, nếu do đó mà khởi tâm cống cao, không thể có sự
kiện như vậy’. Nếu Tôn giả A-nan nói như thế, thì đó
là pháp vị tằng hữu của Tỳ-kheo A-nan.
Tôn
giả A-nan lại nói như vầy: “Thưa chư Hiền, tôi đã hầu
Đức Thế Tôn trong hai mươi lăm năm, cho đến nay chưa hề
gặp Đức Thế Tôn phi thời.” Nếu Tôn giả A-nan nói như
thế, thì đó là pháp vị tằêng hữu của Tỳ-kheo A-nan.
Tôn
giả A-nan lại nói như vầy: “Thưa chư Hiền, tôi đã hầu
Đức Thế Tôn trong hai mươi lăm năm, chưa từng một lần
bị Phật khiển trách, trừ có một lỗi, lỗi đó cũng vì
người khác[27].”
Nếu Tôn giả A-nan nói như vậy thì đó là pháp vị tằng
hữu của Tỳ-kheo A-nan.
Tôn
giả A-nan lại nói như vầy: “Thưa chư Hiền, tôi thọ tám
văn pháp tụ[28]
từ Đức Như Lai, thọ trì không quên; nếu nhân điều đó
mà khởi cống cao, sự kiện như vậy không thể có.” Nếu
Tôn giả A-nan nói như vậy thì đó là pháp vị tằng hữu
của Tỳ-kheo A-nan.
Tôn
giả A-nan lại nói như vầy: “Thưa chư Hiền, tôi thọ tám
văn pháp tụ từ Đức Như Lai, chưa hỏi lần thứ hai, trừ
có một câu, câu ấy như vậy cũng không dễ. Nếu Tôn giả
A-nan nói như vậy thì đó là pháp vị tằng hữu của Tỳ-kheo
A-nan.
Tôn
giả A-nan lại nói như vầy: “Thưa chư Hiền, tôi thọ tám
văn pháp tụ từ Đức Như Lai, chưa hề thọ pháp từ người
khác.” Nếu Tôn giả A-nan nói như vậy thì đó là pháp vị
tằng hữu của Tỳ-kheo A-nan.
Tôn
giả A-nan lại nói như vầy: “Thưa chư Hiền, tôi thọ tám
văn pháp tụ từ Đức Như Lai, khởi đầu chưa có tâm này,
rằng ‘Tôi thọ trì pháp ấy để dạy lại người khác’.
Này chư Hiền, tôi chỉ muốn tự chế ngự, tự tịch tịnh,
tự Bát-niết-bàn thôi.” Nếu Tôn giả A-nan nói như vậy
thì đó là pháp vị tằng hữu của Tỳ-kheo A-nan.
Tôn
giả A-nan lại nói như vầy: “Thưa chư Hiền, có điều rất
kỳ lạ này. Đó là có bốn bộ chúng đi đến chỗ tôi để
nghe pháp. Nếu tôi vì thế mà khởi cống cao, điều ấy không
thể có được. Tôi cũng không hề tác ý trước rằng: ‘Nếu
có ai đến hỏi, ta sẽ trả lời như vầy’. Này chư Hiền,
tôi ngay trên chỗ ngồi tùy theo nghĩa người kia hỏi mà trả
lời.” Nếu Tôn giả A-nan nói như vậy thì đó là pháp vị
tằêng hữu của Tỳ-kheo A-nan.
Tôn
giả A-nan lại nói như vầy: “Thưa chư Hiền, có điều rất
kỳ lạ này. Đó là có số đông Sa-môn, Phạm chí dị học
đến hỏi tôi sự việc gì, nếu vì thế mà tôi sợ sệt,
hãi hùng, lông tóc dựng đứng; không thể có sự kiện ấy.
Tôi cũng không hề tác ý trước rằng: ‘Nếu có ai đến
hỏi, ta sẽ trả lời như vầy’. Này chư Hiền, tôi ngay trên
chỗ ngồi tùy theo nghĩa người kia hỏi mà trả lời.” Nếu
Tôn giả A-nan nói như vậy thì đó là pháp vị tằng hữu
của Tỳ-kheo A-nan.
Lại
nữa, có một thời, Tôn giả Xá-lê Tử, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên,
Tôn giả A-nan trú tại nước Xá-vệ, trong núi Bà-la-la. Bấy
giờ Tôn giả Xá-lê Tử hỏi rằng: Này Hiền giả A-nan, thầy
hầu hạ Đức Phật cho đến nay là hai mươi lăm năm, thầy
nhớ có lần nào khởi dục tâm không?”
Tôn
giả A-nan thưa rằng:
“Thưa
Tôn giả Xá-lê Tử, tôi còn là hàng hữu học chưa ly dục.”
Tôn
giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Này
Hiền giả A-nan, tôi không hỏi thầy là bậc hữu học hay
vô học. Tôi chỉ hỏi, trong hai mươi lăm năm qua hầu hạ
Đức Thế Tôn, thầy nhớ có lần nào khởi dục tâm không?”
Tôn
giả Xá-lê Tử ba lần lặp lại câu hỏi:
“Này
Hiền giả A-nan, hai mươi lăm năm qua thầy hầu hạ Đức Thế
Tôn, thầy nhớ có lần nào khởi dục tâm không?”
Tôn
giả A-nan cũng ba lần lặp lại câu trả lời rằng:
“Thưa
Tôn giả Xá-lê Tử, tôi còn là hàng hữu học chưa ly dục.”
Tôn
giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Này
Hiền giả A-nan, tôi không hỏi thầy là bậc hữu học hay
vô học. Tôi chỉ hỏi, trong hai mươi lăm năm qua hầu hạ
Đức Thế Tôn, thầy nhớ có lần nào khởi dục tâm không?”
Bấy
giờ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên nói rằng:
“Này
Hiền giả A-nan, đáp nhanh đi, đáp nhanh đi, này A-nan, thầy
đừng xúc nhiễu đến bậc thượng tôn trưởng lão.”
Lúc
đó Tôn giả A-nan trả lời rằng:
“Thưa
Tôn giả Xá-lê Tử, hai mươi lăm năm qua, tôi đã hầu hạ
Đức Phật, tôi nhớ lại chưa hề có lần nào phát khởi
dục tâm. Vì sao vậy? Vì tôi thường hướng đến Thế Tôn
và các vị đồng phạm hạnh với tâm niệm hổ thẹn.” Nếu
Tôn giả A-nan nói như thế, thì đó là pháp vị tăng hữu
của Tôn giả A-nan.
Lại
nữa, có một thời Đức Thế Tôn du hóa thành Vương xá, trú
trong Nham sơn. Bấy giờ Thế Tôn bảo rằng:
“Này
A-nan, ngươi nên nằm như cách nằm của sư tử.”
Tôn
giả A-nan bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, sư tử, chúa tể của loài thú, nằm theo cách nào?”
Đức
Thế Tôn đáp:
“Này
A-nan, sư tử, chúa tể của loài thú, ban ngày đi tìm ăn, xong
rồi vào hang; khi muốn ngủ, bốn chân xếp chồng lên nhau,
ngay đuôi ra sau, nằm bằng hông bên phải; qua đêm đến sáng
hôm sau, quay lại sau nhìn thân thể. Nếu sư tử chúa tể của
loài thú, mà thân thể không ngay thẳng, thì khi thấy rồi,
nó không vui. Nếu sư tử chúa tể của loài thú, mà thân thể
được ngay ngắn khắp mọi phía, thì khi thấy rồi nó liền
vui mừng. Nó từ chỗ nằm đứng dậy, ở trong hang đi ra;
đi ra rồi gầm gừ; gầm gừ rồi tự ngắm thân thể; tự
ngắm thân thể rồi nhìn khắp bốn hướng, xoay nhìn khắp
bốn hướng rồi liền rống lên ba lần, rống ba lần rồi
liền đi tìm ăn. Cách thức nằm của sư tử chúa là như vậy.”
Tôn
giả A-nan bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, cách thức nằm của sư tử, chúa tể của loài thú,
là như vậy. Còn cách nằm của Tỳ-kheo phải như thế nào?”
Đức
Thế Tôn đáp rằng:
“Này
A-nan, nếu Tỳ-kheo sống nơi thôn ấp, khi đêm đã qua, vào
lúc sáng sớm, khoác y ôm bát, đi vào thôn khất thực, khéo
hộ trì thân thể, nhiếp thủ các căn, trụ với chánh niệm.
Vị ấy từ thôn ấp khất thực xong, xếp y cất bát, rửa
sạch tay chân, vắt Ni-sư-đàn lên vai đi đến chỗ rừng vắng,
hoặc đến dưới bóng cây, hoặc vào trong nhà trống, hoặc
kinh hành, hoặc tọa thiền, tịnh trừ những pháp chướng
ngại trong tâm. Ban ngày hoặc kinh hành hoặc tọa thiền để
tịnh trừ những pháp chướng ngại trong tâm rồi. Lại vào
đầu hôm hoặc kinh hành, hoặc tọa thiền, để tịnh trừ
những pháp chướng ngại trong tâm. Sau khi hoặc kinh hành, hoặc
tọa thiền để tịnh trừ những pháp chướng ngại trong tâm
vào lúc đầu hôm rồi, đến nữa đêm đi vào tĩnh thất để
nằm, xếp làm tư Ưu-đa-la-tăng[29],
trải lên giường, gấp y tăng-già-lê[30]
làm gối, nằm xuống phía hông bên phải, hai chân xếp chồng
lên nhau, buộc ý vào ấn tượng ánh sáng[31],
chánh niệm, chánh trí, hằng hướng tâm niệm đến ý tưởng
sẽ trỗi dậy. Sau đêm ấy liền nhanh chóng ngồi dậy, hoăc
kinh hành, hoặc tọa thiền, để tịnh trừ những pháp chướng
ngại trong tâm. Như thế là pháp nằm như sư tử của Tỳ-kheo.”
Tôn
giả A-nan bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, cách nằm như sư tử của Tỳ-kheo là như vậy.”
Tôn
giả A-nan lại nói như vầy:
“Này
chư Hiền, Đức Thế Tôn dạy tôi cách nằm giống như sư
tử; từ đó trở đi chưa hề có lần nào tôi nằm nghiêng
về bên hông trái.” Nếu Tôn giả A-nan nói như thế thì đó
là pháp vị tằng hữu của Tỳ-kheo A-nan.
Lại
nữa, có thời Đức Thế Tôn du hóa Câu-thi-na-kiệt[32],
trụ trong rừng Sa-la của Hòa-bạt-đan lực sĩ[33].
Bấy giờ là lúc tối hậu, Thế Tôn sắp nhập Bát-niết-bàn,
Ngài bảo rằng: ‘Này A-nan, ngươi hãy đi đến giữa hai cây
Song thọ, trải giường đầu quay về hướng Bắc, cho Như
Lai. Nửa khuya đêm nay Như Lai sẽ Bát-niết-bàn.”
Tôn
giả A-nan vâng lời dạy của Như Lai, liền đến giữa hai
cây Song thọ trải giường nằm, đầu quay về hướng Bắc
cho Đức Như Lai. Trải giường rồi trở về nơi Đức Phật,
cúi đầu lễ chân Phật, đứng sang một bên, thưa rằng:
“Bạch
Thế Tôn, con đã trải giường nằm, đầu quay hướng Bắc,
cho Đức Như Lai, ở giữa hai cây Song thọ. Kính mong Đức
Thế Tôn tự nên biết thời.”
Bấy
giờ Đức Thế Tôn dẫn Tôn giả A-nan đến giữa hai cây Song
thọ, xếp làm tư Ưu-đà-la-tăng trải lên giường, gấp y
tăng-già-lê làm gối, nằm về hướng hông bên phải, hai chân
xếp chồng lên nhau. Lúc tối hậu sắp Bát-niết-bàn, Tôn
giả A-nan quạt hầu Phật, đưa tay gạt nước mắt, rồi nghĩ
như vầy: ‘Trước kia, có chúng Tỳ-kheo ở các nơi muốn
đến thăm viếng Đức Thế Tôn để cúng dường lễ bái,
thì đều có thể tùy lúc mà được thăm viếng Đức Thế
Tôn để lễ bái cúng dường. Nếu họ nghe Đức Thế Tôn
đã Bát-niết-bàn thì họ sẽ không còn đến để được
thăm viếng Đức Thế Tôn mà cúng dường lễ bái. Ta cũng
không còn tùy lúc mà thăm viếng Đức Thế Tôn để cúng dường
lễ bái’.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn hỏi các Tỳ-kheo rằng:
“Tỳ-kheo
A-nan bây giờ ở đâu?”
Lúc
ấy các Tỳ-kheo bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, Tôn giả A-nan đang cầm quạt hầu Phật,
đưa tay gạt nước mắt rồi nghĩ thế này: ‘Trước kia,
có chúng Tỳ-kheo ở các nơi muốn đến thăm viếng Đức Thế
Tôn để cúng dường lễ bái, thì đều có thể tùy lúc mà
được thăm viếng Đức Thế Tôn để lễ bái cúng dường.
Nếu họ nghe Đức Thế Tôn đã Bát-niết-bàn thì họ sẽ
không còn đến để được thăm viếng Đức Thế Tôn mà cúng
dường lễ bái. Ta cũng không còn tùy lúc mà thăm viếng Đức
Thế Tôn để cúng dường lễ bái’.”
Bấy
giờ Thế Tôn bảo rằng:
“Này
A-nan, ngươi chớ khóc lóc, cũng chớ buồn rầu. Vì sao vậy?
Này A-nan, ngươi hầu hạ Ta, thân hành từ hòa, khẩu và ý
hành từ hòa, chưa từng có hai lòng, an lạc vô lường, vô
biên, vô hạn. Này A-nan, nếu các Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng
Chánh Giác, trong đời quá khứ, có người thị giả nào hầu
hạ cũng không thể hơn ngươi được. Này A-nan, nếu các Như
Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, trong đời vị lai, có
người thị giả nào hầu hạ cũng không thể hơn ngươi được.
Này A-nan, Ta, Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, trong
đời hiện tại, nếu có người nào làm thị giả, cũng không
thể hơn ngươi được. Vì sao vậy? A-nan khéo biết thời,
khéo phân biệt được thời, biết lúc nào là thời nên đến
gặp Như Lai, lúc nào không phải là thời đến gặp Như Lai;
biết lúc nào là thời chúng Tỳ-kheo và chúng Tỳ-kheo-ni nên
đến gặp Như Lai, lúc nào không phải là thời chúng Tỳ-kheo
và chúng Tỳ-kheo-ni nên đến gặp Như Lai; biết lúc nào là
thời chúng Ưu-bà-tắc và chúng Ưu-bà-di nên đến gặp Như
Lai, lúc nào không phải là thời chúng Ưu-bà-tắc và chúng
Ưu-bà-di nên đến gặp Như Lai; biết lúc nào các hàng Sa-môn,
Phạm chí dị học nên đến gặp Như Lai, biết lúc nào các
hàng Sa-môn, Phạm chí dị học không nên đến gặp Như Lai;
biết lúc nào các hàng Sa-môn, Phạm chí dị học không nên
đến gặp Như Lai; biết các hàng Sa-môn, Phạm chí dị học
nào có thể bàn luận với Như Lai; biết các hàng Sa-môn, Phạm
chí dị học nào không thể bàn luận với Như Lai; biết thức
ăn loại cứng hay loại mềm nào Đức Như Lai dùng rồi sẽ
an ổn, có lợi ích loại cứng hay loại mềm nào Đức Như
Lai dùng rồi sẽ không được an ổn, có lợi ích; thức ăn
loại cứng hay loại mềm nào Đức Như Lai dùng rồi sẽ được
biện tài thuyết pháp. Biết thức ăn loại cứng hay loại
mềm nào Đức Như Lai dùng rồi sẽ không được biẹân tài
thuyết pháp.
“Lại
nữa, này A-nan, ngươi tuy không có tha tâm trí, nhưng có thể
khéo biết trước được Đức Như Lai sẽ thuyết pháp cho
ai khi Như Lai rời tĩnh tọa đứng dậy vào buổi xế, hôm
nay Đức Như Lai sẽ làm như vậy, sẽ hiện pháp lạc trụ
như vậy, nhận xét đúng lời Ngài nói, chắc thật không thể
sai khác.”
Bấy
giờ Đức Thế Tôn muốn làm cho A-nan vui vẻ, bảo với các
thầy Tỳ-kheo ấy rằng:
“Vị
Chuyển luân Thánh vương có bốn pháp vị tằng hữu. Những
gì là bốn? Đó là chúng Sát-lợi đến yết kiến Chuyển
luân vương, nếu lúc ấy im lặng, họ thấy vậy liền vui
vẻ, nếu lúc ấy có nói gì, họ nghe rồi liền vui vẻ. Tỳ-kheo
A-nan cũng giống như vậy, nghĩa là có bốn pháp vị tằng
hữu. Những gì là bốn? Đó là chúng Tỳ-kheo khi đến gặp
A-nan, nếu lúc ấy im lặng, thấy vậy liền vui vẻ, nếu lúc
ấy có nói gì, họ nghe rồi liền hoan hỷ. Chúng Tỳ-kheo-ni,
chúng Ưu-bà-tắc, chúng Ưu-bà-di, nếu gặp A-nan, gặp lúc
im lặng, thấy vậy liền hoan hỷ, nếu lúc ấy có nói gì,
nghe rồi liền hoan hỷ.
“Lại
nữa, A-nan thuyết pháp cho đại chúng, có bốn pháp vị tằng
hữu. Những gì là bốn? Tỳ-kheo thuyết pháp cho chúng Tỳ-kheo
bằng chí tâm, không phải không chí tâm. Chúng Tỳ-kheo kia
cũng nghĩ như vầy: ‘Mong Tôn giả A-nan thường thuyết pháp,
không dừng lại nửa chừng. Chúng Tỳ-kheo kia nghe Tôn giả
A-nan thuyết pháp, hoàn toàn không chán nản. Nhưng Tỳ-kheo
A-nan tự nhiên ngồi im lặng’. Tỳ kheo A-nan thuyết pháp cho
chúng Tỳ-kheo-ni, chúng Ưu-bà-tắc, chúng Ưu-bà-di, bằng chí
tâm, không phải không chí tâm. Chúng Ưu-bà-di ấy cũng nghĩ
như vầy: ‘Mong Tôn giả A-nan thường thuyết pháp, không dừng
lại nửa chừng. Chúng Ưu-bà-di kia nghe Tôn giả A-nan thuyết
pháp, hoàn toàn không chán nản. Nhưng Tỳ-kheo A-nan tự nhiên
ngồi im lặng’.”[34]
Lại
nữa, một thời sau khi Thế Tôn Bát-niết-bàn không bao lâu,
Tôn giả A-nan du hóa tại Kim cang[35],
trú ở thôn Kim cang. Bấy giờ Tôn giả A-nan thuyết pháp cho
vô lượng trăm ngàn đại chúng vây quanh trước sau. Bấy giờ,
Tôn giả Kim Cang Tử[36]
cũng đang ở trong đại chúng ấy. Tôn giả Kim Cang Tử trong
tâm suy nghĩ như vầy: ‘Tôn giả A-nan này vẫn còn là bậc
hữu học chưa ly dục sao? Ta nên như vậy, và bằng định
ấy mà quan sát tâm của Tôn giả A-nan’. Thế rồi Tôn giả
Kim Cang Tử nhập định, và bằng định như vậy mà quan sát
tâm của Tôn giả A-nan. Tôn giả Kim Cang Tử biết Tôn giả
A-nan vẫn còn là hữu học nên chưa ly dục. Bấy giờ Tôn
giả ra khỏi tam muội, hướng về Tôn giả A-nan nói bài tụng
rằng:
Núi
rừng vắng tư duy,
Khiến
tâm trụ Niết-bàn,
Cù-đàm
Thiền không loạn,
Sẽ
sớm chứng tịch tĩnh.
Bấy
giờ Tôn giả A-nan vâng theo lời của Tôn giả Kim Cang Tử,
rời bỏ chỗ đông mà sống một mình, tinh tấn, không tán
loạn. Tôn giả rời bỏ chỗ đông, sống một mình, tinh tấn,
không tán loạn, để đạt mục đích vì đó là một thiện
nam tử đã cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ
gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo; chỉ vì
mục đích là thành tựu phạm hạnh vô thượng, ngay trong đời
hiện tại, tự tri tự giác, tự chứùng nghiệm, thành tựu
và an trụ, biết như thật rằng: ‘Sự sanh đã đứt, phạm
hạnh đã vững, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh
nữa’.
Tôn
giả A-nan biết pháp rồi, cho đến, chứng đắc A-la-hán[37].
Tôn giả A-nan nói vầy:
“Này
chư Hiền, tôi ngồi trên giường, ngả đầu chưa đụng gối,
liền đoạn tất cả lậu, chứng tâm giải thoát.” Nếu Tôn
giả A-nan nói như thế; thì đó là pháp vị tằng hữu của
Tỳ-kheo A-nan.
Tôn
giả A-nan lại nói:
“Này
chư Hiền, tôi sẽ ngồi kiết già để Bát-niết-bàn.” Tôn
giả A-nan liền ngồi kiết già mà Bát-niết-bàn.
Nếu
Tôn giả A-nan ngồi kiết già mà Bát-niết-bàn; thì đó là
pháp vị tằng hữu của Tỳ-kheo A-nan.
Đức
Phật thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật dạy xong,
hoan hỷ phụng hành.
Chú thích
[1]
Không có Pāli tương đương. Tham chiếu, Thag. 1018-1050.
[2]
Câu-lân-nhã 拘鄰若
(Añña-Koṇḍañña).
[3]
A-nhiếp-bối 阿攝貝
(Assaji).
[4]
Thích-ca Vương Bạt-đề 釋迦王跋提
(Bhaddiya), vua họ Thích-ca.
[5]
Ma-ha-nam Câu-lệ 摩訶男拘隸
(Mahānāma Kolita).
[6]
Hòa-phá 惒破
(Vappa).
[7]
Da-xá 耶舍
(Yasa).
[8]
Bân-nậu 邠耨
(Puṇṇa).
[9]
Duy-ma-la 維摩羅
(Vimala).
[10]
Già-hòa-ba-đề 伽 惒
波提
(Gavampati).
[11]
Tu-đà-da 須陀耶.
[12]
Xá-lê Tử 舍梨子
(Sāriputta).
[13]
A-na-luật-đà 阿那律陀
(Anurudha).
[14]
Nan-đề 難提
(Nandiya).
[15]
Kim-tì-la 金毘羅
(Kimbila).
[16]
Lệ-ba-đá 隸婆哆
(Revata).
[17]
Đại Mục-kiền-liên 大目犍連
(Mahā-Moggallāna).
[18]
Đại Ca-diếp 大迦葉
(Mahā-Kassapa).
[19]
Đại Câu-hi-la 大拘絺羅
(Mahā-Koṭṭhita).
[20]
Đại Châu-na 大周那
(Mahā-Cunda).
[21]
Đại Ca-chiên-diên 大迦旃延
(Mahā-Kaccāyana).
[22]
Bân-nậu-da-nậu-tả trưởng lão 邠耨耶耨寫長老.
[23]
Da-xá Hành Trù trưởng lão 耶舍行籌長老.
[24]
Suốt trong khi hai mươi năm đầu, kể từ khi thành đạo Đức
Phật không có thị giả riêng. Vị này hoăc vị kia thay nhau
thị giả Ngài. Nhưng những vị này không xứng ý Ngài, đôi
khi không vâng lời Ngài, có lúc ôm y bát của Ngài đi mất.
[25]
Hán: như kỳ tượng định如其像定;
Pāli: tathā-rūpaṃ samādhiṃ samāpajji, nhập vào tam-muội có
hình thức như thế.
[26]
Lưu ý trong bản Hán, văn khí thay đổi từ lời ghi nhận của
Phật chuyển sang lối thuật sự.
[27]
Một lần Thế Tôn bệnh, A-nan nấu cháo nhưng phạm phải một
điều luật do đó bị Phật khiển trách. Luật Thập Tụng,
Đại 23, tr.187a.
[28]
Pháp tụ, hay Pháp uẩn, thể tài hay ý nghĩa được đề cập
trong giáo pháp của Phật. Pāli: dhamakkhandha.
[29]
Ưu-đa-la-tăng優多羅僧,
hay Uất-đa-la-tăng; Pāli: uttarāsaṅga, dịch là thượng
y, áo khoác phần trên thân thể. Thường thì nói là “gấp
tư tăng-già-lê”; Pāli: catugguṇam saṅghāṭiṃ paññāpetvā.
[30]
Tăng-già-lê僧笳梨;
Pāli: saṅghāṭi, áo choàng, áo khoác hay trùm bên ngoài.
[31]
Minh tưởng, hay quang minh tưởng光明想,
suy tưởng về ánh sáng; Pāli: āloka-saññā.
[32]
Câu-thi-na-kiệt 拘尸那竭.
Pāli: Kusināra, thị trấn nơi Phật sẽ nhập Niết-bàn.
[33]
Hòa-bạt-đan lực sĩ Sa-la lâm 惒跋單力士裟羅林;
No.1(2) Trường, kinh số 2 “Du Hành”: Bản
sanh xứ Mạt-la song thọ gian. Pāli: rừng Upavattana, rừng cây
sāla, ở bên bờ sông Hiraññavati, của dòng họ Malla ở Kusinarā.
Đức Thích Tôn sẽ nhập Niết-bàn trong rừng này.
[34]
Nguyên đoạn dài này, xem No.16, Đại 1, tr.137, 143 - 6 của bản
Hán tương đương; No.1(2) Trường, kinh “Du Hành”.
[35]
Kim cang 金剛,
Pāli có lẽ là Vajjī (tên dòng họ cũng là tên nước; Hán:
Bạt-kỳ) được đọc là Vajira (kim cang).
[36]
Kim Cang Tử, Pāli, có lẽ chính xác là Vajjiputta (thay vì Vajiraputta),
sự kiện được đề cập trong Thag. kệ 119.
[37]
Trong bản: A-la-ha 阿羅訶.