32.
KINH VỊ TẰNG HỮU PHÁP[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm
vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ, vào lúc xế chiều[2],
Tôn giả A-nan[3]
rời tĩnh tọa đứng dậy, đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh
lễ chân Phật, rồi đứng qua một bên, thưa rằng:
“Bạch
Thế Tôn, con nghe rằng, Đức Thế Tôn vào thời Phật Ca-diệp[4]
bắt đầu phát nguyện Phật đạo, tu hành phạm hạnh. Nếu
Thế Tôn vào thời Phật Ca-diệp bắt đầu phát nguyện Phật
đạo, tu hành phạm hạnh; con xin thọ trì pháp vị tằêng
hữu ấy của Thế Tôn.
“Con
nghe rằng[5],
Đức Thế Tôn vào thời Phật Ca-diệp bắt đầu phát nguyện
Phật đạo, tu hành phạm hạnh và sinh lên cõi trời Đâu-suất[6].
Nếu Đức Thế Tôn vào thời Phật Ca-diệp bắt đầu phát
nguyện Phật đạo, tu hành phạm hạnh và sinh lên cõi trời
Đâu-suất; con xin thọ trì pháp vị tằng hữu ấy của Đức
Thế Tôn.
“Con
nghe rằng, Đức Thế Tôn vào thời Phật Ca-diệp bắt đầu
phát nguyện Phật đạo, tu hành phạm hạnh và sinh lên cõi
trời Đâu-suất. Thế Tôn sinh lên sau nhưng có ba việc thù
thắng hơn các vị trời sinh trước. Đó là thọ mạng, dung
sắc và vinh dự nhà trời[7].
Do đó nên các vị trời Đâu-suất vui mừng hớn hở, tán
thán rằng: ‘Kỳ diệu thay, hy hữu thay, vị thiên tử này
có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu,
có đại oai thần. Vì sao vậy? Vì vị ấy sinh đến đây sau
nhưng có ba việc thù thắng hớn những vị trời Đâu-suất
đã sinh đến trước; đó là thọ mạng, dung sắc và vinh dự
nhà trời. Nếu Đức Thế Tôn vào thời Phật Ca-diệp bắt
đầu phát nguyện Phật đạo, tu hành phạm hạnh và sinh lên
cõi trời Đâu-suất. Thế Tôn sinh lên sau nhưng có ba việc
thù thắng hơn các vị trời sinh trước. Đó là thọ mạng,
dung sắc và vinh dự nhà trời. Do đó nên các vị trời Đâu-suất
vui mừng hớn hở, tán thán rằng: ‘Kỳ diệu thay, hy hữu
thay, vị thiên tử này có đại như ý túc, có đại oai đức,
có đại phước hựu, có đại oai thần. Vì sao vậy? Vì vị
ấy sinh đến đây sau nhưng có ba việc thù thắng hớn những
vị trời Đâu-suất đã sinh đến trước; đó là thọ mạng,
dung sắc và vinh dự nhà trời. Thế thì con xin thọ trì pháp
vị tằêng hữu ấy của Đức Thế Tôn.
“Con nghe rằng, Đức Thế Tôn mạng chung ở trời Đâu-suất,
biết sẽ vào thai mẹ[8],
lúc ấy chấn động tất cả đất trời, có ánh sáng vi diệu
quảng đại chiếu khắp thế gian cho đến chỗ u tối, cũng
không có gì ngăn che được; nghĩa là nơi nào mặt trời, mặt
trăng này dù có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại
phước hựu, có đại oai thần, cũng không chiếu rọi ánh
sáng đến được, thì tất cả nơi ấy đều được chiếu
ngời. Chúng sanh ở các nơi ấy do thấy ánh sáng nhiệm mầu
này đều mỗi mỗi phát sanh nhận thức rằng: ‘Có một chúng
sanh kỳ diệu, hy hữu ra đời! Có một chúng sanh kỳ diệu,
hy hữu ra đời!’ Nếu Đức Thế Tôn mạng chung ở trời
Đâu-suất, biết sẽ vào thai mẹ, lúc ấy chấn động tất
cả đất trời, có ánh sáng vi diệu quảng đại chiếu khắp
thế gian cho đến chỗ u tối, cũng không có gì ngăn che được;
nghĩa là nơi nào mặt trời, mặt trăng này dù có đại như
ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai
thần, cũng không chiếu rọi ánh sáng đến được, thì tất
cả nơi ấy đều được chiếu ngời. Chúng sanh ở các nơi
ấy do thấy ánh sáng nhiệm mầu này đều mỗi mỗi phát sanh
nhận thức rằng: ‘Có một chúng sanh kỳ diệu, hy hữu ra
đời! Có một chúng sanh kỳ diệu, hy hữu ra đời![9]’
Thì con xin thọ trì pháp vị tằng hữu ấy của Đức Thế
Tôn.
“Con nghe rằng, Đức Thế Tôn biết mình trụ trong thai mẹ[10],
tựa vào hông bên phải. Nếu Đức Thế Tôn biết mình trụ
trong thai mẹ, tựa vào hông bên phải, thì con xin thọ trì
pháp vị tằêng hữu này của Đức Thế Tôn.
“Con
nghe rằng, Đức Thế Tôn hình thể duỗi dài[11]
trụ trong thai mẹ. Nếu Đức Thế Tôn hình thể duỗi dài
trụ trong thai mẹ, thì con xin thọ trì pháp vị tằêng hữu
ấy của Đức Thế Tôn.
“Con
nghe rằng, Đức Thế Tôn, được bao che, trụ trong thai mẹ,
không bị máu dơ làm cho ô uế, cũng không bị tinh khí các
thứ bất tịnh khác làm cho ô uế. Nếu Đức Thế Tôn, được
bao che, trụ trong thai mẹ, không bị máu dơ làm cho ô uế,
cũng không bị tinh khí bất tịnh khác làm cho ô uế; thì con
xin thọ trì pháp vị tằêng hữu ấy của Đức Thế Tôn.
“Con
nghe rằng, Đức Thế Tôn biết[12]
mình ra khỏi thai mẹ, lúc ấy chấn động tất cả đất trời,
có ánh sáng vi diệu quảng đại chiếu khắp thế gian cho đến
chỗ u tối, cũng không có gì ngăn che được; nghĩa là nơi
nào mặt trời, mặt trăng này dù có đại như ý túc, có đại
oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần, cũng không
chiếu rọi ánh sáng đến được, thì tất cả nơi ấy đều
được chiếu ngời. Chúng sanh ở các nơi ấy do thấy ánh
sáng nhiệm mầu này đều mỗi mỗi phát sanh nhận thức rằng:
‘Có một chúng sanh kỳ diệu, hy hữu ra đời! Có một chúng
sanh kỳ diệu, hy hữu ra đời!’ Nếu Đức Thế Tôn biết
mình ra khỏi thai mẹ, lúc ấy chấn động tất cả đất trời,
có ánh sáng vi diệu quảng đại chiếu khắp thế gian cho đến
chỗ u tối, cũng không có gì ngăn che được; nghĩa là nơi
nào mặt trời, mặt trăng này dù có đại như ý túc, có đại
oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần, cũng không
chiếu rọi ánh sáng đến được, thì tất cả nơi ấy đều
được chiếu ngời. Chúng sanh ở các nơi ấy do thấy ánh
sáng nhiệm mầu này đều mỗi mỗi phát sanh nhận thức rằng:
‘Có một chúng sanh kỳ diệu, hy hữu ra đời! Có một chúng
sanh kỳ diệu, hy hữu ra đời!’ Thì con xin thọ trì pháp
vị tằêng hữu ấy của Đức Thế Tôn.
“Con
nghe rằng, Đức Thế Tôn thân thể duỗi dài[13]
mà ra khỏi thai mẹ. Nếu Đức Thế Tôn thân thể duỗi dài
mà ra khỏi thai mẹ thì con xin thọ trì pháp vị tằêng hữu
này của Đức Thế Tôn.
“Con nghe rằng, Đức Thế Tôn được bao che khi ra khỏi thai
mẹ, không bị máu dơ làm cho ô uế, cũng không bị tinh khí
và các vật bất tịnh khác làm cho ô uế. Nếu Đức Thế
Tôn được bao che khi ra khỏi thai mẹ, không bị máu dơ làm
cho ô uế, cũng không bị tinh khí và các thứ bất tịnh khác
làm cho ô uế; thì con xin thọ trì pháp vị tằêng hữu này
của Đức Thế Tôn.
“Con
nghe rằng, khi Đức Thế Tôn mới sanh ra, có bốn vị thiên
tử, tay cầm tấm vải rất mịn đứng trước thai mẹ, làm
cho người mẹ hoan hỷ, tán thán rằng: “Đồng tử này rấy
kỳ diệu, rất hy hữu, có đại như ý túc, có đại oai đức,
có đại phước hữu, có đại oai thần’. Nếu như Đức
Thế Tôn mới sanh ra, có bốn vị thiên tử, tay cầm tấm vải
rất mịn đứng trước thai mẹ, làm cho người mẹ hoan hỷ,
tán thán rằng: “Đồng tử này rấy kỳ diệu, rất hy hữu,
có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hữu,
có đại oai thần’. Thì con xin thọ trì pháp vị tằêng hữu
này của Đức Thế Tôn.
“Con
nghe rằng, khi Đức Thế Tôn vừa mới sanh ra, liền đi bảy
bước không khiếp sợ, không kinh hãi, quan sát các phương.
Nếu Thế Tôn vừa mới sanh ra, liền đi bảy bước không khiếp
sợ, không kinh hãi, quan sát các phương; thì con xin thọ trì
pháp vị tằêng hữu này của Đức Thế Tôn.
“Con
nghe rằng, khi Đức Thế Tôn vừa mới sanh ra, thì ngay phía
trước người mẹ bỗng hiện một hồ nước lớn, nước
đầy tràn bờ, làm cho người mẹ ở nơi ấy được thọ
dụng thanh tịnh. Nếu Thế Tôn vừa mới sanh ra, thì ngay phía
trước người mẹ bỗng hiện một hồ nước lớn, nước
đầy tràn bờ, làm cho người mẹ ở nơi ấy được thọ
dụng thanh tịnh; con xin thọ trì pháp vị tằêng hữu ấy
của Đức Thế Tôn.
“Con
nghe rằng, khi Đức Thế Tôn vừa mới sanh ra, từ trên hư
không nước mưa rưới xuống, một ấm, một lạnh, để tắm
thân thể của Thế Tôn. Nếu khi Đức Thế Tôn vừa mới sanh
ra, từ trên hư không nước mưa rưới xuống, một ấm, một
lạnh, để tắm thân thể của Thế Tôn; con xin thọ trì pháp
vị tằêng hữu ấy của Đức Thế Tôn.
“Con
nghe rằng, khi Đức Thế Tôn vừa mới sanh ra, chư Thiên ở
trên hư không tấu lên âm nhạc của trời; hoa sen xanh, hoa
sen hồng, hoa sen đỏ, hoa sen trắng và hoa Văn-đà-la[14]
của trời, và bột hương chiên-đàn được rải lên Đức
Thế Tôn. Nếu khi Đức Thế Tôn vừa mới sanh ra, chư Thiên
ở trên hư không tấu lên âm nhạc của trời; hoa sen xanh,
hoa sen hồng, hoa sen đỏ, hoa sen trắng và hoa Văn-đà-la của
cõi trời, và bột hương chiên-đàn được rải lên Đức
Thế Tôn; con xin thọ trì pháp vị tằêng hữu ấy của Đức
Thế Tôn.
“Con
nghe rằng, Đức Thế Tôn, ở tại nhà của cha là Bạch Tịnh
vương, vào một ngày đi dự lễ hạ điền, ngồi dưới gốc
cây Diêm-phù[15],
ly dục, ly ác bất thiện pháp, có giác có quán, có lạc phát
sanh do viễn ly, nhập Sơ thiền, thành tựu và an trụ. Bấy
giờ là buổi xế, tất cả bóng của các cây khác đều đã
ngả dần, chỉ có cây Diêm-phù là bóng cây không ngả, che
mát thân của Đức Thế Tôn. Lúc đó, Thích Bạch Tịnh đến
quan sát công tác hạ điền, đi đến chỗ người làm ruộng
hỏi rằng: ‘Này nông phu[16],
Vương tử ở chỗ nào?’
Người
ấy trả lời rằng: ‘Vương tử[17]
hiện đang ở dưới gốc cây Diêm-phù.” Rồi Thích Bạch
Tịnh đi đến cây Diêm-phù, bấy giờ là xế trưa, Thích Bạch
Tịnh thấy bóng của tất cả các cây khác đều đã ngả,
chỉ có bóng cây Diêm-phù là không ngả, để che mát thân
thể của Thế Tôn, liền nghĩ như vầy: ‘Vương tử này thật
là kỳ diệu, rất hy hữu, có đại như ý túc, có đại oai
đức, có đại phước hựu, có đại oai thần. Vì sao thế?
Vì vào lúc xế trưa tất cả các bóng cây đều ngả, chỉ
có bóng cây Diêm-phù là không ngả, để che mát thân của
vương tử’. Nếu vào buổi xế trưa tất cả cây đều ngả
bóng, chỉ có bóng cây Diêm-phù không ngả, để che mát thân
thể của Đức Thế Tôn; con xin thọ trì pháp vị tằêng hữu
ấy của Đức Thế Tôn.
“Con
nghe rằng có một thời Đức Thế Tôn du hóa tại Bệ-xá-li,
trong Đại lâm[18].
Bấy giờ, khi đêm đã qua, vào lúc sáng sớm, Đức Thế Tôn
khoác y cầm bát vào thành Bệ-xá-li khất thực. Sau khi khất
thực xong, xếp y, cất bát, rửa tay chân, vắt Ni-sư-đàn lên
vai, đi vào rừng, đến dưới một gốc cây Đa-la, trải Ni-sư-đàn,
ngồi kiết-già. Bấy giờ là lúc xế bóng[19],
tất cả các bóng cây khác đều ngả, chỉ có bóng cây Đa-la
là không ngả để che mát thân thể của Đức Thế Tôn. Bấy
giờ vào lúc xế bóng, Thích Ma-ha-nam[20]
ung dung đi đến Đại lâm. Thích Ma-ha-nam thấy rằng, vào buổi
xế, tất cả bóng cây đều ngả chỉ trừ bóng cây Đa-la
là không ngả để che mát thân thể của Đức Thế Tôn, liền
nghĩ như vầy: ‘Sa-môn Cù-đàm rất là kỳ diệu, rất là
hy hữu, có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước
hựu, có đại oai thần. Vì sao vậy? Vì vào buổi xế, tất
cả bóng cây đều ngả, chỉ có bóng cây Đa-la là không ngả
để che mát thân thể Cù-đàm’. Nếu lúc xế bóng, tất cả
các bóng cây khác đều ngã, chỉ có bóng cây Đa-la là không
ngả để che mát thân thể của Đức Thế Tôn; con xin thọ
trì pháp vị tằêng hữu ấy của Đức Thế Tôn.
“Con
nghe rằng, một thời Thế Tôn du hóa tại nước Bệ-xá-li,
trong Đại lâm. Bấy giờ các Tỳ-kheo để bát ngoài chỗ đất
trống, bát của Thế Tôn cũng có trong số ấy, có một con
khỉ ôm bát của Thế Tôn mà đi. Các thầy Tỳ-kheo la ó, sợ
nó làm bể bát của Thế Tôn. Nhưng Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo
rằng: ‘Hãy để yên. Hãy để yên. Đừng la. Nó không làm
bể bát đâu’. Thế rồi khỉ ôm bát của Thế Tôn mà đi,
đến một cây Sa-la, chậm rãi leo lên, lấy đầy bát mật
nơi cây Sa-la, rồi chậm rãi leo xuống, trở về chỗ Đức
Phật, đem dâng bát mật ấy lên Đức Phật. Đức Thế Tôn
không thọ nhận. Lúc ấy khỉ liền ôm bát qua một bên, dùng
đũa gắp bỏ sâu. Sau khi nhặt bỏ sâu, nó ôm bát trở lại
dâng lên Thế Tôn. Thế Tôn lại không nhận. Khỉ lại ôm
qua một bên, múc nước đổ vào trong mật, rồi ôm trở lại
dâng lên Thế Tôn. Thế Tôn liền thọ nhận. Khỉ thấy Thế
Tôn lấy bát mật rồi liền vui mừng hớn hở, múa may nhảy
nhót rồi bỏ đi. Nếu Đức Thế Tôn khiến con khỉ kia, khi
thấy Đức Thế Tôn lấy bát mật rồi vui mừng hớn hở múa
may nhảy nhót, rồi đi; con xin thọ trì pháp vị tằêng hữu
ấy của Đức Thế Tôn.
“Con
nghe rằng một thời Đức Thế Tôn du hóa Bệ-xá-li, ở tại
ngôi lầu cao[21],
bên bờ ao Di hầu. Bấy giờ Thế Tôn đang phơi tọa cụ, rũ
bụi, phủi đất. Lúc ấy có một đám mây đến trái thời
che kín khắp hư không muốn mưa nhưng dừng lại chờ Đức
Thế Tôn phơi tọa cụ, rũ bụi, phủi đất, xếp cất một
nơi, rồi mang cất chổi; vào đứng trong nền nhà. Bấy giờ
đám mây lớn ấy thấy Đức Thế Tôn xếp cất tọa cụ rồi
mới đổ mưa xuống rất lớn, từ cao cho đến thấp, nước
ngập tràn lai láng. Nếu Đức Thế Tôn làm cho đám mây lớn
kia thấy Thế Tôn xếp cất tọa cụ rồi, mới mưa xuống
thật to và từ đất cho đến thấp nước ngập tràn lai láng;
con xin thọ trì pháp vị tằng hữu ấy của Đức Thế Tôn.
“Con
nghe một thời Đức Thế Tôn du hóa tại Bạt-kỳ[22],
ngồi dưới cây Sa-la thọ vương, trong rừng Ôn tuyền. Bấy
giờ là buổi xế trưa, tất cả bóng cây khác đều ngả,
chỉ trừ bóng cây Sa-la thọ vương là không ngả, để che
mát thân thể Đức Thế Tôn. Khi ấy chủ vườn La-ma đi dạo
xem vườn, thấy rằng vào buổi xế, tất cả bóng cây khác
đều ngả, chỉ trừ bóng cây Sa-la thọ vương là không ngả
để che mát thân thể của Thế Tôn, liền nghĩ như vầy: ‘Sa-môn
Cù-đàm thật là kỳ diệu, thật là hy hữu, có đại như
ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai
thần. Vì sao vậy? Vì sao buổi xế tất cả bóng cây khác
đều ngả, chỉ trừ cây Sa-la thọ vương là không ngả bóng
để che mát thân thể của Sa-môn Cù-đàm. Nếu Đức Thế
Tôn vào buổi xế tất cả bóng cây khác đều ngả, chỉ trừ
bóng cây Sa-la thọ vương là không ngả để che mát thân thể
của Thế Tôn; con xin thọ trì pháp vị tằêng hữu ấy của
Đức Thế Tôn.
“Con
nghe rằng có một thời Đức Thế Tôn ở trong miếu thần
A-phù[23].
Bấy giờ khi đêm đã tàn, vào lúc sáng sớm, Đức Thế Tôn
khoác y ôm bát vào thôn A-phù để khất thực. Sau khi khất
thực xong, xếp y, cất bát, rửa chân tay xong, Ngài vắt Ni-sư-đàn
lên vai, vào miếu thần ngồi thiền tịnh. Bấy giờ trời
mưa đá rất to; sấm sét đánh chết bốn con trâu và hai người
cày. Lúc chôn cất hai người chết ấy, đám đông ồn ào,
âm thanh cao và to, tiếng dội chấn động. Bấy giờ vào lúc
xế chiều, Đức Thế Tôn rời chỗ ngồi tĩnh tọa đứng
dậy, từ trong miếu thần đi ra, đến chỗ đất trống để
kinh hành. Trong đám đông có một người thấy Đức Thế Tôn
vào lúc xế trưa rời chỗ tĩnh tọa đứng dậy, ở trong miếu
thần đi ra, đến chỗ đất trống để kinh hành, liền đi
đến chỗ Phật cúi đầu làm lễ rồi đi kinh hành theo sau
Đức Phật. Đức Phật thấy người ấy ở phía sau nên hỏi
rằng: ‘Vì cớ gì mà đám đông ồn ào, âm thanh cao và to,
tiếng dội chấn động vậy?’ Người ấy thưa rằng: ‘Bạch
Thế Tôn khi trưa, trời mưa đá rất to; sấm sét đánh chết
bốn con trâu và hai người cày. Lúc chôn cất hai người chết
ấy, đám đông ồn ào, âm thanh cao và to, tiếng dội chấn
động. Bạch Thế Tôn vừa rồi Ngài không nghe gì hết sao?
“Thế
Tôn trả lời rằng: ‘Ta không nghe các âm thanh ấy’.
“Lại
hỏi rằng: ‘Vừa rồi Ngài ngủ hay sao?’
“Thế
Tôn trả lời: ‘Không phải’.
“Lại
hỏi Đức Thế Tôn: ‘Lúc ấy Ngài tỉnh mà không nghe các
âm thanh ấy sao?’
“Thế
Tôn đáp: ‘Quả thật vậy’.
“Bấy
giờ người kia liền suy nghĩ rằng: ‘Rất là kỳ diệu, rất
là hy hữu, sở hành của Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh
Giác, rất là vắng lặng, rất là tịch tĩnh. Vì sao vậy?
Vì lúc tỉnh mà vẫn không nghe các âm thanh to lớn ấy. Nếu
Đức Thế Tôn tỉnh thức mà vẫn không nghe các âm thanh to
lớn ấy; con xin thọ trì pháp vị tằêng hữu ấy của Đức
Thế Tôn.
“Con nghe rằng, một thời Đức Phật trú tại Uất-bệ-la[24]
bên bờ sông Ni-liên-nhiên[25],
ngồi dưới cây A-xà-hòa-la Ni-câu-loại[26],
lúc mới chứng đắc Phật đạo. Bấy giờ mưa lớn đến
bảy ngày, từ cao đến thấp đều bị ngập nước, từng
luồng nước lớn chảy xoáy ngang dọc, trong vùng đất trống
đó, Đức Thế Tôn đi kinh hành, đến nơi nào thì nơi đấy
có bụi bay lên. Nếu Đức Thế Tôn ở trong vùng có luồng
nước xoáy ngang dọc, mà đi kinh hành, đến chỗ nào thì chỗ
ấy có bụi bay lên; con xin thọ trì pháp vị tằng hữu ấy
của Đức Thế Tôn.
“Con nghe rằng Ma vương trong suốt sáu năm theo Phật để
tìm chỗ sơ suất mà không được, liền chán nản nên bỏ
về. Nếu Đức Thế Tôn bị Ma vương trong suốt sáu năm theo
tìm chỗ sơ suất mà không được, liền chán nản nên bỏ
về; con xin thọ trì pháp vị tằng hữu ấy của Đức Thế
Tôn.
“Con
nghe rằng Đức Thế Tôn, trong suốt bảy năm suy niệm về
thân, luôn luôn suy niệm không gián đoạn. Nếu Đức Thế
Tôn trong suốt bảy năm suy niệm về thân, luôn luôn không
gián đoạn; con xin thọ trì pháp vị tằng hữu ấy của Đức
Thế Tôn.”
Bấy
giờ Đức Thế Tôn bảo rằng:
“Này
A-nan, ngươi hãy nghe Như Lai nói mà thọ trì thêm pháp vị
tằng hữu này nữa. Này A-nan, Như Lai biết thọ sanh, biết
trụ, biết diệt, luôn luôn biết, chẳng có lúc nào chẳng
biết. Này A-nan, Như Lai biết tư và tưởng sanh, biết trụ,
biết diệt, luôn luôn biết. Không lúc không biết. Cho nên,
này A-nan hãy nên từ nơi Như Lai mà thọ trì thêm pháp vị
tằng hữu này.”
Đức Thế Tôn thuyết như vậy. Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo,
sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Tương đương Pāli: M.123. Acchariyabbhutadhamma-suttam.
[2]
Bản-Hán: bô thời 晡時;
bản Pāli: pacchābhattaṃ piṇḍapāṭikkantānaṃ, sau bữa ăn,
sau khi khất thực về.
[3]
Bản Pāli: sambahulānṃ bhikkhūnaṃ...upaṭṭhānasālāyaṃ sannisinnānai...,
số đông Tỳ-kheo tự tập tại ngôi nhà của thị giả.
[4]
Ca-diệp 迦葉
(ta quen đọc là Ca-diếp). Pāli: Kassapa. Bản Pāli không đề
cập.
[5]
Bản Pāli: Bhagavato sutaṃ sammukhā paṭiggahitaṃ, nghe, trực
tiếp ghi nhớ từ Thế Tôn.
[6]
Bản Hán: Đâu-sắt (Tống-Nguyên-Minh: suất) -đá thiên 兜瑟
(率) 哆;
ta quen với phiên âm Đâu-suất hơn. Pāli: Tusita, tầng
thứ nhất thuộc Dục giới thiên.
[7]
Bản Pāli: yāvatāyukaṃ Bodhisatto Tusike kāye aṭṭhāsi, Đức
Bồ-tát tồn tại giữa thiên chúng Tusita cho đến hết tuổi
thọ.
[9]
Pāli: aññe pi kira, bho, santi sattā idhūpapannā ti, “Này bạn,
có những chúng sanh khác xuất hiện ở đây”.
[10]
Xem cht.8 trên.
[11]
Hán: thư thể舒體,
hình thể duỗi dài, hay thư thới? Không tìm thấy ý nghĩa
tương đương trong bản Pāli.
[12]
Xem cht.8 trên.
[13]
Xem cht.11 trên.
[14]
Văn-đà-la hoa文陀羅花,
ta thường quen với phiên âm là Mạn-đà-la hoa曼陀羅花,
dịch là viên hoa圓花,
thích ý hoa適意花.
Pāli: mandārava.
[15]
Diêm-phù thọ 閻浮樹.
Pāli: jambu. Từ đây trở xuống, bản Hán không đồng với
bản Pāli. Nhưng sự kiện bóng cây Diêm-phù này có thể đọc,
M.36 Mahāsaccakasuttam, tr.246.
[16]
Hán: tác nhân 作人.
[17]
Hán: thiên đồng tử 天童子.
[18]
Bệ-xá-li 鞞舍離
(Pāli: Vesāli), Đại lâm 大林
(Mahāvana).
[19]
Hán: trung hậu 中後.
[20]
Thích Ma-ha-nam 釋摩訶南.
Có lẽ đây là Mahānāma của dòng họ Licchavi ở Vesāli, chứ
không phải Mahānāma dòng họ Thích ở Kapilavatthu, con trai Amitodāna
(Cam Lộ Phạn vương). Tham khảo Pāli, A. iii 75ff.
[21]
Cao lâu đài quán 高樓臺觀.
Pāli: Kūṭāgārasālā, ngôi nhà sàn, giảng đường Trùng các,
trong Đại lâm (Mahāvana), Vesāli.
[22].
Bạt-kỳ 跋耆,
tên chủng tộc và cũng là tên nước. Pāli: Vajji.
[23].
A-phù 阿浮.
Pāli: Ātumā. Từ đoạn này trở xuống, tham chiếu, No.1(2)Trường
A-hàm, “Kinh số 2, Du Hành”.
[24].
Uất-bệ-la 鬱鞞羅.
Pāli: Uruvelā.
[25].
Ni-liên-nhiên 尼連然.
Pāli: Nerañjarā.
[26].
A-xà-hòa-la Ni-câu-loại 阿闍和羅尼拘類.
Pāli: Ajapāla-Nigrodha.