30.
KINH TƯỢNG TÍCH DỤ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng
lâm, vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ Tôn giả Xá-lê Tử nói với các Tỳ-kheo rằng:
“Này
chư Hiền, nếu có vô lượng thiện pháp, thì tất cả các
thiện pháp ấy đều thu nhiếp vào bốn Thánh đế, đi vào
trong bốn Thánh đế[2].
Nghĩa là, trong tất cả pháp, bốn Thánh đế là tối thượng
bậc nhất. Vì sao thế? Vì nhiếp thọ tất cả các thiện
pháp.
“Này
chư Hiền, cũng như trong các dấu chân của loài thú vật,
dấu chân voi là bậc nhất. Vì sao thế? Vì dấu chân voi rất
là to lớn vậy.
“Cũng
vậy, này chư Hiền, có vô lượng thiện pháp, thì tất cả
các thiện pháp ấy đều thu nhiếp vào bốn Thánh đế, đi
vào trong bốn Thánh đế. Nghĩa là trong tất cả pháp, bốn
Thánh đế là tối thượng bậc nhất.
“Những
gì là bốn? Đó là Khổ Thánh đế, Khổ tập, Khổ diệt và
Khổ diệt đạo Thánh đế.
“Này
chư Hiền, thế nào là Khổ Thánh đế[3]?
Đó là, sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, oán ghét
mà tự hội là khổ, thương yêu mà biệt ly là khổ, mong cầu
mà không được là khổ, nói tóm lược năm thủ uẩn là khổ[4].
“Này
chư Hiền, những gì là năm thủ uẩn? Đó là sắc thủ uẩn,
thọ, tưởng hành và thức thủ uẩn.
“Này
chư Hiền, cái gì là sắc thủ uẩn? Những gì có sắc, tất
cả đều là bốn đại và bốn đại tạo[5].
“Này
chư Hiền, những gì là bốn đại? Đó là địa giới, thủy
giới, hỏa giới và phong giới[6].
“Này
chư Hiền, cái gì là địa giới? Chư Hiền, địa giới có
hai, có nội địa giới và có ngoại địa giới.
“Này
chư Hiền, những gì là nội địa giới[7]?
Đó là, những gì ở trong thân, được thâu nhiếp trong thân
như vật cứng, có tính chất cứng, được chấp thọ bên
trong[8].
Đó là những gì? Đó là tóc, lông, móng, răng, da thô và mịn,
thịt, gân, xương, tim, thận, gan, phổi, lá lách, ruột, bao
tử, phẩn và những thứ khác tương tự như vậy ở trong
thân, được thâu nhiếp bên trong, có tính chất cứng, bị
chấp thủ bên trong. Đó là nội địa giới.
“Này
chư Hiền, ngoại địa giới, đó là lớn, là tịnh, là không
đáng tởm[9].
“Này chư Hiền, có lúc bị thủy tai, khi ấy ngoại địa
giới tiêu diệt[10].
“Này
chư Hiền, ngoại địa giới này cực kỳ lớn, cực kỳ tịnh,
cực kỳ không đáng tởm. Đó là pháp vô thường, pháp cùng
tận, pháp suy vong, pháp biến dịch, huống là xác thân tạm
thời đình trú, được duy trì chấp thủ bởi tham ái này.
Nghĩa là kẻ phàm phu ngu si, không đa văn, suy nghĩ như vầy:
‘Đây là ta, đây là của ta, ta là của cái kia’. Đa văn
Thánh đệ tử không nghĩ như vậy: ‘Đây là ta, đây là của
ta, ta là của cái kia’. Vị ấy vì sao nghĩ như vậy? Nếu
có người khác mắng chửi, đánh đập, giận giữ, quở trách,
thì vị ấy nghĩ như vầy: ‘Ta sanh ra khổ này là từ nhân
duyên, chứ không phải không có nhân duyên. Cái gì là duyên?
Duyên vào khổ xúc’. Vị ấy quán xúc là vô thường; rồi
quán thọ, tưởng, hành, thức cũng là vô thường. Tâm vị
ấy duyên nơi giới mà trụ, mà chỉ, mà hiệp, mà nhất tâm,
mà định, mà không lay động. Sau đó có người đến nói
với vị ấy bằng lời lẽ dịu dàng, vị ấy suy nghĩ như
vầy: ‘Ta sanh ra sự lạc này là từ nhân duyên chớ không
phải không nhân duyên. Cái gì là duyên? Duyên vào lạc xúc’.
Vị ấy quán xúc là vô thường, rồi quán thọ, tưởng, hành,
thức cũng là vô thường. Tâm vị ấy duyên nơi giới mà trụ,
mà chỉ, mà hiệp, mà nhất tâm, mà định, mà không lay động.
Sau đó hoặc có người thơ ấu, niên thiếu, trung niên hay
trưởng lão đến làm việc không xứng ý với vị ấy; hoặc
nắm tay thoi, hoặc lấy đá ném, hoặc dao, hoặc gậy đập.
Vị ấy suy nghĩ thế này: ‘Ta thọ thân này vốn là sắc
pháp, thô chất, thuộc bốn đại chủng, do cha mẹ sanh, được
nuôi lớn bằng ăn uống, được che kín bởi y phục, được
chăm sóc bằng tắm rửa, nằm ngồi bồng bế; nó là pháp
phá hoại, pháp diệt tận, pháp ly tán. Ta vì thân này mà đến
nỗi bị tay thoi, đá ném, dao gậy đập’. Do lẽ đó vị
kia rất siêng năng, không biếng nhác, chánh thân, chánh niệm,
không nhuế, không si, nhất tâm an định. Vị ấy nghĩ như
vầy: ‘Ta rất siêng năng, không biếng nhác, chánh thân, chánh
niệm, không nhuế, không si, nhất tâm an định. Ta thọ thân
này đáng để cho tay thoi, đá ném, dao gậy đập, chỉ nên
siêng năng học giáo pháp của Đức Thế Tôn’.
“Này
chư Hiền, Đức Thế Tôn cũng nói như vầy: ‘Giả sử có
giặc cướp đến cầm cưa hay dao bén, xẻ manh mún thân thể
ra. Nếu ngươi khi bị giặc cướp cầm cưa hay dao bén, xẻ
manh mún thân thể ra, mà tâm ngươi hoặc biến dịch, hoặc
nói năng hung dữ, tức các ngươi đã suy thối. Các ngươi
nên nghĩ như vầy: giả sử có kẻ giặc cầm cưa hay dao bén,
xẻ manh mún thân thể ta ra, mong sao nhân đó mà tâm ta không
biến dịch, không nói năng hung dữ, sẽ khởi tâm thương xót
đối với người đến xẻ manh mún thân thể ta ra; vì người
đó mà tâm ta câu hữu với từ, biến mãn một phương, thành
tựu và an trụ. Cũng thế với hai, ba, bốn phương, tứ duy,
thượng hạ, biến mãn tất cả, tâm câu hữu với từ, không
kết, không oán, không nhuế, không tránh, quảng đại, vô biên,
vô lượng, kéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành
tựu và an trụ’.
“Này
chư Hiền, Tỳ-kheo kia, nếu do Phật, Pháp và Chúng, mà vẫn
không an trú nơi xả tương ứng với thiện, thì này chư Hiền,
Tỳ-kheo ấy nên hổ thẹn, nên xấu hổ rằng: ‘Ta ở trong
sự lợi mà không có lợi, ở trong đức mà không có đức;
nghĩa là ta nhân nơi Phật, Pháp và Chúng mà vẫn không an trụ
nơi xả tương ứng với thiện’.
“Này
chư Hiền, như người dâu lúc mới rước về, gặp mặt cha
mẹ chồng, hay gặp người chồng của mình thì xấu hổ, thẹn
thùng. Này chư Hiền, nên biết, Tỳ-kheo kia cũng lại như vậy,
nên xấu hổ thẹn thùng rằng: ‘Ta ở trong sự lợi mà không
có lợi, ở trong đức mà không có đức; nghĩa là ta nhân
nơi Phật, Pháp và Chúng mà vẫn không an trụ nơi xả tương
ứng với thiện’. Người ấy do hổ thẹn xấu hổ, nên liền
an trú nơi xả tương ứng với thiện. Đó là diệu, là tịnh,
là tịch diệt, nghĩa là xả tất cả hữu[11],
lìa ái, vô dục, diệt tận hoàn toàn. Này chư Hiền, đó là
Tỳ-kheo học tất cả đại.
“Này
chư Hiền, cái gì là thủy giới[12]?
Chư Hiền, thủy giới có hai; có nội thủy giới và có ngoại
thủy giới. Chư Hiền, cái gì là nội thủy giới? Đó là
ở trong thân, được thâu nhiếp bên trong thân, những gì là
nước, thuộc về nước, ẩm ướt, bị chấp thủ bên trong.
Đó là những gì? Đó là mỡ, óc[13],
nước mắt, mồ hôi, nước mũi, nước miếng, mủ, máu, tủy,
nước dãi, nước tiểu, tất cả những chất khác tương tự
như vậy ở trong thân, được thâu nhiếp bên trong thân, những
gì là nước, thuộc về nước, ẩm ướt, bị chấp thủ bên
trong. Này chư Hiền, đó là nội thủy giới.
“Này
chư Hiền, ngoại thủy giới, đó là lớn, là tịnh, là không
đáng tởm. “Này chư Hiền, có lúc bị hỏa tai, khi ấy ngoại
thủy giới tiêu diệt[14].
“Này
chư Hiền, ngoại địa giới này cực kỳ lớn, cực kỳ tịnh,
cực kỳ không đáng tởm. Đó là pháp vô thường, pháp cùng
tận, pháp suy vong, pháp biến dịch[15],
huống là xác thân tạm thời đình trú, được duy trì chấp
thủ bởi tham ái này[16].
Nghĩa là kẻ phàm phu ngu si, không đa văn, suy nghĩ như vầy:
‘Đây là ta, đây là của ta, ta là của cái kia[17]’.
Đa văn Thánh đệ tử không nghĩ như vậy: ‘Đây là ta, đây
là của ta, ta là của cái kia’. Vị ấy vì sao nghĩ như vậy?
Nếu có người khác mắng chửi, đánh đập, giận giữ, quở
trách, thì vị ấy nghĩ như vầy: ‘Ta sanh ra khổ này là từ
nhân duyên, chứ không phải không có nhân duyên’. Cái gì
là duyên? Duyên vào khổ xúc. Vị ấy quán xúc là vô thường;
rồi quán thọ, tưởng, hành, thức cũng là vô thường. Tâm
vị ấy duyên nơi giới mà trụ, mà chỉ, mà hiệp, mà nhất
tâm, mà định, mà không lay động. Sau đó có người đến
nói với vị ấy bằng lời lẽ dịu dàng, vị ấy suy nghĩ
như vầy: ‘Ta sanh ra sự lạc này là từ nhân duyên chớ không
phải không nhân duyên’. Cái gì là duyên? Duyên vào lạc xúc.
Vị ấy quán xúc là vô thường, rồi quán thọ, tưởng, hành,
thức cũng là vô thường. Tâm vị ấy duyên nơi giới mà trụ,
mà chỉ, mà hiệp, mà nhất tâm, mà định, mà không lay động.
Sau đó hoặc có người thơ ấu, niên thếu, trung niên hay trưởng
lão đến làm việc không xứng ý với vị ấy; hoặc nắm
tay thoi, hoặc lấy đá ném, hoặc dao, hoặc gậy đập. Vị
ấy suy nghĩ thế này: ‘Ta thọ thân này vốn là sắc pháp,
thô chất, thuộc bốn đại chủng, do cha mẹ sanh, được nuôi
lớn bằng ăn uống, được che kín bởi y phục, được chăm
sóc bằng tắm rửa, nằm ngồi bồng bế; nó là pháp phá hoại,
pháp diệt tậân, pháp ly tán. Ta vì thân này mà đến nỗi
bị tay thoi, đá ném, dao gậy đập’. Do lẽ đó vị kia rất
siêng năng, không biếng nhác, chánh thân, chánh niệm, không
nhuế, không si, nhất tâm an định. Vị ấy nghĩ như vầy:
‘Ta rất siêng năng, không biếng nhác, chánh thân, chánh niệm,
không nhuế, không si, nhất tâm an định. Ta thọ thân này đáng
để cho tay thoi, đá ném, dao gậy đập, chỉ nên siêng năng
học giáo pháp của Đức Thế Tôn’.
“Này
chư Hiền, Đức Thế Tôn cũng nói như vầy: ‘Giả sử có
giặc cướp đến cầm cưa hay dao bén, xẻ manh mún thân thể
ra. Nếu ngươi khi bị giặc cướp cầm cưa hay dao bén, xẻ
manh mún thân thể ra, mà tâm ngươi hoặc biến dịch, hoặc
nói năng hung dữ, tức các ngươi đã suy thối. Các ngươi
nên nghĩ như vầy: giả sử có kẻ giặc cầm cưa hay dao bén,
xẻ manh mún thân thể ta ra, mong sao nhân đó mà tâm ta không
biến dịch, không nói năng hung dữ, sẽ khởi tâm thương xót
đối với người đến xẻ manh mún thân thể ta ra; vì người
đó mà tâm ta câu hữu với từ, biến mãn một phương, thành
tựu và an trụ. Cũng thế với hai, ba, bốn phương, tứ duy,
thượng hạ, biến mãn tất cả, tâm câu hữu với từ, không
kết, không oán, không nhuế, không tránh, quảng đại, vô biên,
vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành
tựu và an trụ’.
“Này
chư Hiền, Tỳ-kheo kia, nếu do Phật, Pháp và Chúng, mà vẫn
không an trú nơi xả tương ứng với thiện, thì này chư Hiền,
Tỳ-kheo ấy nên hổ thẹn, nên xấu hổ rằng: ‘Ta ở trong
sự lợi mà không có lợi, ở trong đức mà không có đức;
nghĩa là ta nhân nơi Phật, Pháp và Chúng mà vẫn không an trụ
nơi xả tương ứng với thiện’.
“Này
chư Hiền, như người dâu lúc mới rước về, gặp mặt cha
mẹ chồng, hay gặp người chồng của mình thì xấu hổ, thẹn
thùng. Này chư Hiền, nên biết, Tỳ-kheo kia cũng lại như vậy,
nên xấu hổ thẹn thùng rằng: ‘Ta ở trong sự lợi mà không
có lợi, ở trong đức mà không có đức; nghĩa là ta nhân
nơi Phật, Pháp và Chúng mà vẫn không an trụ nơi xả tương
ứng với thiện’. Người ấy do hổ thẹn, xấu hổ, nên
liền an trú nơi xả tương ứng với thiện. Đó là diệu,
là tịnh, là tịch diệt, nghĩa là xả tất cả hữu, lìa ái,
vô dục, diệt tận hoàn toàn. Này chư Hiền, đó là Tỳ-kheo
học tất cả Đại.
“Này
chư Hiền, thế nào là hỏa giới? Này chư Hiền, hỏa giới
có hai; có nội hỏa giới và có ngoại hỏa giới. Này chư
Hiền, thế nào là nội hỏa giới? Đó là ở trong thân, được
thâu nhiếp ở trong thân, những gì là lửa, có tính chất
nóng, được chấp thủ trong thân. Đó là những gì? Đó là,
thân nóng hấp, thân nóng bức, bức rức, ấm áp, và sự tiêu
hóa ẩm thực, tất cả những chất khác tương tự như vậy
ở trong thân, được thâu nhiếp bên trong thân, thuộc tính
nóng, được chấp thủ bên trong. Này chư Hiền, đó là nội
hỏa giới.
“Này
chư Hiền, ngoại hỏa giới, đó là lớn, là tịnh, là không
đáng tởm.
“Này
chư Hiền, có lúc khi ngoại hỏa giới phát khởi, nó đốt
cháy thôn ấp, thành quách, núi rừng, đồng ruộng; cháy như
vậy rồi lan đến đường cái, đến sông nước, cho đến
khi không còn gì cháy mới tắt. Chư Hiền, sau khi ngoại hỏa
giới diệt, nhân dân muốn lấy lửa hoặc dùng gỗ hay tre
cọ vào nhau, hoặc dùng đá lửa bằng châu ngọc[18].
“Này
chư Hiền, ngoại hỏa giới này cực kỳ lớn, cực kỳ tịnh,
cực kỳ không đáng tởm. Đó là pháp vô thường, pháp cùng
tận, pháp suy vong, pháp biến dịch, huống là xác thân tạm
thời đình trú, được duy trì chấp thủ bởi tham ái này.
Nghĩa là kẻ phàm phu ngu si, không đa văn, suy nghĩ như vầy:
‘Đây là ta, đây là của ta, ta là của cái kia’. Đa văn
Thánh đệ tử không nghĩ như vậy: ‘Đây là ta, đây là của
ta, ta là của cái kia’. Vị ấy vì sao nghĩ như vậy? Nếu
có người khác mắng chửi, đánh đập, giận dữ, quở trách,
thì vị ấy nghĩ như vầy: ‘Ta sanh ra khổ này là từ nhân
duyên, chứ không phải không có nhân duyên’. Cái gì là duyên?
Duyên vào khổ xúc. Vị ấy quán xúc là vô thường; rồi quán
thọ, tưởng, hành, thức cũng là vô thường. Tâm vị ấy
duyên nơi giới mà trụ, mà chỉ, mà hiệp, mà nhất tâm, mà
định, mà không lay động. Sau đó có người đến nói với
vị ấy bằng lời lẽ dịu dàng, vị ấy suy nghĩ như vầy:
‘Ta sanh ra sự lạc này là từ nhân duyên chớ không phải
không nhân duyên’. Cái gì là duyên? Duyên vào lạc xúc. Vị
ấy quán xúc là vô thường, rồi quán thọ, tưởng, hành,
thức cũng là vô thường. Tâm vị ấy duyên nơi giới mà trụ,
mà chỉ, mà hiệp, mà nhất tâm, mà định, mà không lay động.
Sau đó hoặc có người thơ ấu, niên thiếu, trung niên hay
trưởng lão đến làm việc không xứng ý với vị ấy; hoặc
nắm tay thoi, hoặc lấy đá ném, hoặc dao, hoặc gậy đập.
Vị ấy suy nghĩ thế này: ‘Ta thọ thân này vốn là sắc
pháp, thô chất, thuộc bốn đại chủng, do cha mẹ sanh, được
nuôi lớn bằng ăn uống, được che kín bởi y phục, được
chăm sóc bằng tắm rửa, nằm ngồi bồng bế; nó là pháp
phá hoại, pháp diệt tậân,
pháp ly tán. Ta vì thân này mà đến nỗi bị tay thoi, đá ném,
dao gậy đập’. Do lẽ đó vị kia rất siêng năng, không biếng
nhác, chánh thân, chánh niệm, không nhuế, không si, nhất tâm
an định. Vị ấy nghĩ như vầy: ‘Ta rất siêng năng, không
biếng nhác, chánh thân, chánh niệm, không nhuế, không si, nhất
tâm an định. Ta thọ thân này đáng để cho tay thoi, đá ném,
dao gậy đập, chỉ nên siêng năng học giáo pháp của Đức
Thế Tôn’.
“Này
chư Hiền, Đức Thế Tôn cũng nói như vầy: ‘Giả sử có
giặc cướp đến cầm cưa hay dao bén, xẻ manh mún thân thể
ra. Nếu ngươi khi bị giặc cướp cầm cưa hay dao bén, xẻ
manh mún thân thể ra, mà tâm ngươi hoặc biến dịch, hoặc
nói năng hung dữ, tức các ngươi đã suy thối. Các ngươi
nên nghĩ như vầy: Giả sử có kẻ giặc cầm cưa hay dao bén,
xẻ manh mún thân thể ta ra, mong sao nhân đó mà tâm ta không
biến dịch, không nói năng hung dữ, sẽ khởi tâm thương xót
đối với người đến xẻ manh mún thân thể ta ra; vì người
đó mà tâm ta câu hữu với từ, biến mãn một phương, thành
tựu và an trụ. Cũng thế với hai, ba, bốn phương, tứ duy,
thượng hạ, biến mãn tất cả, tâm câu hữu với từ, không
kết, không oán, không nhuế, không tránh, quảng đại, vô biên,
vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành
tựu và an trụ’.
“Này
chư Hiền, Tỳ-kheo kia, nếu do Phật, Pháp và Chúng, mà vẫn
không an trú nơi xả tương ứng với thiện, thì này chư Hiền,
Tỳ-kheo ấy nên hổ thẹn, nên xấu hổ rằng: ‘Ta ở trong
sự lợi mà không có lợi, ở trong đức mà không có đức;
nghĩa là ta nhân nơi Phật, Pháp và Chúng mà vẫn không an trụ
nơi xả tương ứng với thiện’.
“Này
chư Hiền, như người dâu lúc mới rước về, gặp mặt cha
mẹ chồng, hay gặp người chồng của mình thì xấu hổ, thẹn
thùng. Này chư Hiền, nên biết, Tỳ-kheo kia cũng lại như vậy,
nên xấu hổ thẹn thùng rằng: ‘Ta ở trong sự lợi mà không
có lợi, ở trong đức mà không có đức; nghĩa là ta nhân
nơi Phật, Pháp và Chúng mà vẫn không an trụ nơi xả tương
ứng với thiện’. Người ấy do hổ thẹn xấu hổ, nên liền
an trú nơi xả tương ứng với thiện. Đó là diệu, là tịnh,
là tịch diệt, nghĩa là xả tất cả hữu, lìa ái, vô dục,
diệt tận hoàn toàn. Này chư Hiền, đó là Tỳ-kheo học tất
cả Đại.
“Này
chư Hiền, thế nào là phong giới? Này chư Hiền, ở đây phong
giới có hai; có nội phong giới và ngoại phong giới. Này chư
Hiền, thế nào là nội phong giới? Đó là ở trong thân, được
thâu nhiếp ở trong thân những gì là gió, thuộc tính chuyển
động của gió, bị chấp thủ bên trong. Đó là những gì?
Đó là gió đi lên, gió đi xuống, gió trong bụng, gió ngang[19],
gió co thắt lại, gió như dao cắt[20],
gió nhảy lên, gió phi đạo, gió thổi qua tay chân, gió của
hơi thở ra, gió của hơi thở vào, tất cả những chất khác
tương tự như vậy ở trong thân, được thâu nhiếp bên trong
thân, những gì là gió, thuộc tính chuyển động của gió,
được chấp thủ bên trong. Này chư Hiền, đó là nội phong
giới.
“Này
chư Hiền, ngoại phong giới, đó là lớn, là tịnh, là không
đáng tởm.
“Này
chư Hiền, có lúc ngoại phong giới phát khởi lên. Khi ngoại
phong giới phát khởi thì nhà sập, cây bị tróc, núi lở;
khi núi non đã lở rồi, gió liền dừng lại, mảy lông cũng
chẳng lay động. Này chư Hiền, sau khi ngoại phong giới dừng
lại, nhân dân tìm kiếm gió, hoặc dùng quạt, hặc dùng lá
đa, hoặc dùng áo tìm gió.
“Này
chư Hiền, ngoại phong giới này cực kỳ lớn, cực kỳ tịnh,
cực kỳ không đáng tởm. Đó là pháp vô thường, pháp cùng
tận, pháp suy vong, pháp biến dịch, huống là xác thân tạm
thời đình trú, được duy trì chấp thủ bởi tham ái này.
Nghĩa là kẻ phàm phu ngu si, không đa văn, suy nghĩ như vầy:
‘Đây là ta, đây là của ta, ta là của cái kia’. Đa văn
Thánh đệ tử không nghĩ như vậy: ‘Đây là ta, đây là của
ta, ta là của cái kia’. Vị ấy vì sao nghĩ như vậy? Nếu
có người khác mắng chửi, đánh đập, giận giữ, quở trách,
thì vị ấy nghĩ như vầy: ‘Ta sanh ra khổ này là từ nhân
duyên, chứ không phải không có nhân duyên’. Cái gì là duyên?
Duyên vào khổ xúc. Vị ấy quán xúc là vô thường; rồi quán
thọ, tưởng, hành, thức cũng là vô thường. Tâm vị ấy
duyên nơi giới mà trụ, mà chỉ, mà hiệp, mà nhất tâm, mà
định, mà không lay động. Sau đó có người đến nói với
vị ấy bằng lời lẽ dịu dàng, vị ấy suy nghĩ như vầy:
‘Ta sanh ra sự lạc này là từ nhân duyên chớ không phải
không nhân duyên’. Cái gì là duyên? Duyên vào lạc xúc. Vị
ấy quán xúc là vô thường, rồi quán thọ, tưởng, hành,
thức cũng là vô thường. Tâm vị ấy duyên nơi giới mà trụ,
mà chỉ, mà hiệp, mà nhất tâm, mà định, mà không lay động.
Sau đó hoặc có người thơ ấu, niên thiếu, trung niên hay
trưởng lão đến làm việc không xứng ý với vị ấy; hoặc
nắm tay thoi, hoặc lấy đá ném, hoặc dao, hoặc gậy đập.
Vị ấy suy nghĩ thế này: ‘Ta thọ thân này vốn là sắc
pháp, thô chất, thuộc bốn đại chủng, do cha mẹ sanh, được
nuôi lớn bằng ăn uống, được che kín bởi y phục, được
chăm sóc bằng tắm rửa, nằm ngồi bồng bế; nó là pháp
phá hoại, pháp diệt tậân, pháp ly tán. Ta vì thân này mà
đến nỗi bị tay thoi, đá ném, dao gậy đập’. Do lẽ đó
vị kia rất siêng năng, không biếng nhác, chánh thân, chánh
niệm, không nhuế, không si, nhất tâm an định. Vị ấy nghĩ
như vầy: ‘Ta rất siêng năng, không biếng nhác, chánh thân,
chánh niệm, không nhuế, không si, nhất tâm an định. Ta thọ
thân này đáng để cho tay thoi, đá ném, dao gậy đập, chỉ
nên siêng năng học giáo pháp của Đức Thế Tôn’.
“Này
chư Hiền, Đức Thế Tôn cũng nói như vầy: ‘Giả sử có
giặc cướp đến cầm cưa hay dao bén, xẻ manh mún thân thể
ra. Nếu ngươi khi bị giặc cướp cầm cưa hay dao bén, xẻ
manh mún thân thể ra, mà tâm ngươi hoặc biến dịch, hoặc
nói năng hung dữ, tức các ngươi đã suy thối. Các ngươi
nên nghĩ như vầy: giả sử có kẻ giặc cầm cưa hay dao bén,
xẻ manh mún thân thể ta ra, mong sao nhân đó mà tâm ta không
biến dịch, không nói năng hung dữ, sẽ khởi tâm thương xót
đối với người đến xẻ manh mún thân thể ta ra; vì người
đó mà tâm ta câu hữu với từ, biến mãn một phương, thành
tựu và an trụ. Cũng thế với hai, ba, bốn phương, tứ duy,
thượng hạ, biến mãn tất cả, tâm câu hữu với từ, không
kết, không oán, không nhuế, không tránh, quảng đại, vô biên,
vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành
tựu và an trụ’.
“Này
chư Hiền, Tỳ-kheo kia, nếu do Phật, Pháp và Chúng, mà vẫn
không an trú nơi xả tương ứng với thiện, thì này chư Hiền,
Tỳ-kheo ấy nên hổ thẹn, nên xấu hổ rằng: ‘Ta ở trong
sự lợi mà không có lợi, ở trong đức mà không có đức;
nghĩa là ta nhân nơi Phật, Pháp và Chúng mà vẫn không an trụ
nơi xả tương ứng với thiện’.
“Này
chư Hiền, như người dâu lúc mới rước về, gặp mặt cha
mẹ chồng, hay gặp người chồng của mình thì xấu hổ, thẹn
thùng. Này chư Hiền, nên biết, Tỳ-kheo kia cũng lại như vậy,
nên xấu hổ thẹn thùng rằng: ‘Ta ở trong sự lợi mà không
có lợi, ở trong đức mà không có đức; nghĩa là ta nhân
nơi Phật, Pháp và Chúng mà vẫn không an trụ nơi xả tương
ứng với thiện’. Người ấy do hổ thẹn xấu hổ, nên liền
an trú nơi xả tương ứng với thiện. Đó là diệu, là tịnh,
là tịch diệt, nghĩa là xả tất cả hữu, lìa ái, vô dục,
diệt tận hoàn toàn. Này chư Hiền, đó là Tỳ-kheo học tất
cả Đại.
“Này
chư Hiền, cũng như nhờ cây gỗ, nhờ bùn đất, nhờ cỏ
và nước, che kín trong một khoảng không nên sanh ra cái tên
gọi là ‘nhà’. Chư Hiền, nên biết, thân này cũng lại
như vậy, nhờ gân cốt, nhờ da dẻ, nhờ thịt, máu bao bọc
một khoảng không nên sanh ra cái tên gọi là ‘thân’.
“Này
chư Hiền, như có người bị hư nhãn xứ bên trong, nên ngoại
sắc không được ánh sáng rọi đến, thành ra không có niệm
và nhãn thức không phát sanh. Này chư Hiền, nếu nội nhãn
xứ không bị hư hoại thì ngoại sắc sẽ được ánh sáng
rọi đến và liền có niệm, nên sanh ra nhãn thức.
“Này
chư Hiền, nhãn xứ bên trong và sắc, cùng với nhãn thức
biết ngoại sắc, đó thuộc về sắc uẩn. Nếu có thọ, đó
là thọ uẩn. Nếu có tưởng thì đó là tưởng uẩn. Nếu
có tư thì đó là tư uẩn. Nếu có thức thì đó là thức
uẩn. Như vậy quán sát sự hội hợp của các uẩn.
“Này
chư Hiền, Đức Thế Tôn cũng nói như vầy: ‘Nếu ai thấy
duyên khởi tức thấy pháp; nếu thấy pháp tức thấy duyên
khởi[21]’.
Vì sao thế? Này chư Hiền, Đức Thế Tôn nói năm thủ uẩn
từ nhân duyên mà sanh. Sắc thủ uẩn; thọ, tưởng, hành,
thức thủ uẩn cũng vậy.
“Này
chư Hiền, nếu nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý xứ bên trong bị
hư hoại thì các pháp bên ngoài sẽ không được ánh sáng
rọi đến nên không có niệm, do đó ý thức không sanh khởi
được. Này chư Hiền, nếu nội ý xứ không bị hư hoại
thì pháp bên ngoài sẽ được ánh sáng rọi đến và liền
có niệm nên sanh ra ý thức[22].
“Này
chư Hiền, ý thức bên trong và pháp cùng với ý thức biết
sắc pháp bên ngoài, đó thuộc về sắc uẩn. Nếu có thọ,
đó là thọ uẩn. Nếu có tưởng thì đó là tưởng uẩn.
Nếu có tư thì đó là tư uẩn. Nếu có thức thì đó là thức
uẩn. Như vậy quán sát sự hội hợp của các uẩn.
“Này
chư Hiền, Đức Thế Tôn cũng nói như vầy: ‘Nếu ai thấy
duyên khởi tức thấy pháp; nếu thấy pháp tức thấy duyên
khởi’. Vì sao thế? Này chư Hiền, Đức Thế Tôn nói năm
thủ uẩn từ nhân duyên mà sanh. Sắc thủ uẩn; thọ, tưởng,
hành, thức thủ uẩn cũng vậy. Vị ấy nhàm tởm năm thủ
uẩn này, thuộc trong ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai
này, do nhàm tởm nên vô dục, vô dục liền giải thoát, giải
thoát rồi liền biết giải thoát, biết một cách như thật
rằng: ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần
làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’.
“Này
chư Hiền, đó là Tỳ-kheo đã học tất cả về Đại”.
Tôn
giả Xá-lê Tử thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Tôn
giả Xá-lê Tử thuyết xong, hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Thí dụ về dấu chân voi. Tương đương Pāli: M. 28 Mahāhatthipadopama-suttaṃ.
[2]
Tứ Thánh đế 四 聖 諦.
Pāli: cattāri ariyasaccāni.
[3]
Khổ Thánh đế 苦 聖 諦.
Pāli: dukkhaṃ ariyasaccaṃ.
[4]
Hán: ngũ thạnh ấm khổ 五 盛 陰 苦.
Pāli: upādānakkihandhā dukkhā.
[5]
Tứ đại 四 大 và
tứ đại tạo 四 大 道.
Pāli: cattāri ca mahābhūtāni catunnañ ca mahā- bhuātānaṃ upādāya
rūpaṃ.
[6]
Địa, thủy, hỏa, phong giới 地 水 火 風 界.
Pāli: cattāro mahābhūtā: paṭhavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātu.
[7]
Nội địa giới 內 地 界.
Pāli: ajjhattikā paṭhavīdhātu.
[8]
Hán: nội thân trung, tại nội sở nhiếp kiên, kiên tánh trụ,
nội chi sở thọ 內 身 中, 在
內 所 攝 堅, 堅
性 住, 內
之 所 受. So sánh
Pāli: yaṃ ajjhattaṃ paccataṃ kakkhaḷaṃ kharigataṃ upādiṇṇaṃ,
“cái gì thuộc nội thân, cá biệt, thô cứng, thuộc thể
rắn, được chấp thủ.”
[9]
Đại, tịnh, bất tắng ố 大, 淨, 不
憎 惡. Đại vì
kích thước lớn hay phổ biến. Nói tịnh và bất tắng ố,
vì không phải là đối tượng để quán bất tịnh.
[10]
Pāli: hoti... samayo yam bāhirā āpodhātu pakuppati, antarahitā tasmiṃ
samaye bāhirā paṭhavīdhatu, có một thời ngoại thủy giới
bị chấn động (thịnh nộ), khi ấy ngoại địa giới biến
mất.
[11]
Hán: diệu, tức tịch, xả, ly 妙 息 寂 捨 離,
tức diệt, tịnh, diệu, ly, bốn hành tướng của diệt đế
theo Hữu bộ; xem Câu-xá 23 (Đại, tr.119b).
[12]
Thủy giới 水 界.
Pāli: āpodhātu.
[13]
Hán: não căn 腦 根 (chỉ
tủy sống); bản Nguyên-Minh: chi nhãn 脂 眼 (con
mắt có mỡ, hay mỡ nơi con mắt). Không tìm thấy tương đương
trong bản liệt kê của Pāli.
[14]
Pāli: hoti... samayo yam bāhirā āpodhātu pakuppati, sā gamaṃ pi
vahati, nigamaṃ pi vahati, có một thời ngoại thủy giới bị
chấn động (cuồng nộ), nó cuốn đi làng mạc, thị trấn...
[15]
Vô thường pháp, tận pháp, suy pháp, biến dịch pháp 無
常 法, 盡
法, 衰
法, 變
易 法. Pāli: aniccatā,
khayadhammatā, vayadhammatā, vipariṇāmadhammatā, tính vô thường,
pháp tánh diệt tận, pháp tánh băng hoại, pháp tánh biến
dịch.
[16]
Hán: ái sở thọ 愛 所 受.
Pāli: taṇhupādiṇṇassa...
[17]
Hán: thị ngã, thị ngã sở, ngã thị bỉ sở 是
我, 是
我 所, 我
是 彼 所. Pāli:
ahan ti vā maman ti vā asmī ti, “tôi, của tôi, tôi hiện hữu”.
[18]
Hán: hoặc dĩ châu toại 或 以 珠 燧.
Pāli: kukkuṭapattena pi nahārudaḍulena, bằng lông cánh gà, hoặc
bằng dây gân.
[19]
Hành phong 行 風.
Kinh 162 nói: hiếp phong. Pháp uẩn 21 (Đại 26, tr.503) cũng nói
vậy.
[20]
Đao phong 刀 風,
gió lúc chết, rát như dao cắt.
[21]
Pāli: Yo paticcasamuppādani passati so dhamman passati, yo dhamman passati
so paticcasamuppādani passati.
[22]
Dẫn chứng của Đại Tỳ-bà-sa 12, (Đại 27, tr, 58c ). Nhược
hữu nội ý xứ bất hoại, ngoại pháp hiện tiền, cập năng
sanh tác ý chánh khởi, nhĩ thời ý thức sanh.