29.
KINH ĐẠI CÂU-HI-LA[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật du hóa tại thành Vương xá, trong rừng Trúc, vườn
Ca-lan-đa.
Bấy
giờ, vào lúc xế chiều, Tôn giả Xá-lê Tử từ chỗ tĩnh
tọa đứng dậy, đi đến chỗ Tôn giả Đại Câu-hi-la[2],
chào hỏi lẫn nhau, rồi ngồi xuống một bên.
Tôn
giả Xá-lê Tử nói với Tôn giả Đại Câu-hi-la như vầy:
“Tôi
có điều muốn hỏi, mong ngài nghe cho chăng?”
Tôn
giả Đại Câu-hi-la trả lời rằng:
“Thưa
Tôn giả Xá-lê Tử, ngài muốn hỏi điều gì xin cứ hỏi,
tôi nghe rồi sẽ suy nghĩ”.
Tôn
giả Xá-lê Tử hỏi rằng:
“Này
Hiền giả Đại Câu-hi-la, có điều kiện nào mà nhân điều
kiện đó mà Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến,
đối với pháp được bất hoại tịnh[3]
và thể nhập chánh pháp không?”
Tôn
giả Đại Câu-hi-la trả lời rằng:
“Có
vậy, thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết bất
thiện và biết căn của bất thiện.
“Thế
nào là biết bất thiện? Ác hành của thân là bất thiện,
áùc hành của khẩu là bất thiện, và ác hành của ý là
bất thiện. Đó là biết bất thiện.
“Thế
nào là biết bất thiện căn? Tham là căn của bất thiện,
nhuế, và si là căn của bất thiện. Đó là biết căn của
bất thiện.
“Này
Tôn giả Xá-lê Tử. Nếu có Tỳ-kheo biết bất thiện và biết
căn của bất thiện như vậy, đó là Tỳ-kheo đã thành tựu
kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại
tịnh, và thể nhập chánh pháp.
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành
thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn
giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn
giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền
giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều kiện nào mà nhân điều
kiện đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối
với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp
chăng?
“Có
vậy, thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết thiện
và biết căn của thiện.
“Thế
nào là biết thiện? Diệu hành của thân là thiện. Diệu hành
của ý và khẩu là thiện. Đó là biết thiện.
“Thế
nào là biết căn của thiện? Vô tham là căn của thiện, vô
nhuế và vô si là căn của thiện. Đó là biết căn của thiện.
“Này
Tôn giả Xá-lê Tử. Nếu có Tỳ-kheo biết thiện và biết
thiện căn như vậy, đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến, được
chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể
nhập chánh pháp.
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành
thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn
giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn
giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền
giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều
đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với
pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?”
Tôn
giả Đại Câu-hi-la trả lời rằng:
“Có,
thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Nghĩa là Tỳ-kheo biết như thật
về thức ăn, biết như thật về tập của thức ăn, thực
diệt và thực diệt đạo của thức ăn[4].
“Thế
nào là biết như thật về thức ăn? Có bốn loại thức ăn:
Một là đoàn thực, thô và tế[5];
hai là xúc thực[6];
ba là ý tư thực[7];
bốn là thức thực[8].
Đó là biết như thật về thức ăn.
“Thế
nào là biết như thật về tập của thức ăn[9]?
Do ái mới có thức ăn. Đó là biết như thật về tập của
thức ăn.
“Thế
nào là biết như thật về diệt của thức ăn? Ái diệt tức
là thức ăn diệt. Đó là biết như thật về diệt của thức
ăn.
“Thế
nào là biết như thật về diệt đạo của thức ăn[10]?
Tám chi Thánh đạo, từ chánh kiến cho tới chánh định là
tám. Đó là biết như thật về diệt đạo của thức ăn.
“Tôn
giả Xá-lê Tử. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật về thức
ăn, biết như thật về tập của thức ăn, thực diệt và
thực diệt đạo của thức ăn như vậy; đó là Tỳ-kheo đã
thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được
bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp.
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành
thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn
giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn
giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền
giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều
đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với
pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?
“Có,
thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật
về lậu, biết như thật về lậu tập của lậu, diệt của
lậu và diệt đạo của lậu.
“Thế
nào là biết như thật về lậu? Có ba lậu là dục lậu, hữu
lậu và vô minh lậu[11].
Đó là biết như thật về lậu.
“Thế
nào là biết như thật về tập của lậu? Do vô minh mới có
lậu. Đó là biết như thật về tập của lậu.
Thế
nào là biết như thật về diệt của lậu? Do vô minh diệt
thì lậu diệt. Đó là biết như thật về diệt của lậu.
“Thế
nào là biết như thật về diệt đạo của lậu? Tám chi Thánh
đạo từ chánh kiến cho tới chánh định là tám. Đó là biết
như thật về diệt đạo của lậu.
“Này
Tôn giả Xá-lê Tử. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật về lậu,
biết như thật về lậu tập của lậu, diệt của lậu và
diệt đạo của lậu như vậy; đó là Tỳ-kheo đã thành tựu
kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại
tịnh và thể nhập chánh pháp.
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành
thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn
giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn
giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền
giả Đại Câu-hi-la, lại có điều nào mà nhân điều đó
Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp
được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?”
“Có,
thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật
về khổ, biết như thật về khổ tập, khổ diệt và khổ
diệt đạo.
“Thế
nào là biết như thật về khổ? Sinh khổ, lão khổ, bệnh
khổ, tử khổ, oán tắng hội khổ, ái biệt ly khổ, sở cầu
bất đắc khổ, nói tóm lại ngũ thạnh ấm khổ. Đó là biết
như thật về khổ.
“Thế
nào là biết như thật về khổ tập? Do lão tử mới có khổ.
Đó là biết như thật về khổ tập.
“Thế
nào là biết như thật về khổ diệt? Lão tử diệt tức khổ
diệt. Đó là biết như về khổ diệt.
“Thế
nào là biết như thật về khổ diệt đạo? Tám chi Thánh đạo
từ chánh kiến cho đến chánh định là tám. Đó là biết
như thật về khổ diệt đạo.
“Này
Tôn giả Xá-lê Tử. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật về khổ.
Biết như thật về khổ tập, khổ diệt và khổ diệt đạo
như vậy. Đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến, được chánh
kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập
chánh pháp.
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành
thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn
giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn
giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền
giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều
đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với
pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?”
“Có,
thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật
về già chết, biết như thật về tập khởi của già chết,
diệt của già chết và diệt đạo của già chết.
“Thế
nào là biết như thật về già? Đó là, người kia già cả,
đầu bạc, răng rụng, sự cường tráng càng ngày càng suy
giảm, thân còng, chân vẹo, cơ thể nặng nề, hơi thở đưa
lên, chống gậy mà đi, thịt teo rút, da nhăn như cây gai, các
căn rụng rời, nhan sắc xấu xí. Đó là biết như thật về
già.
“Thế
nào là biết như thật về chết? Đó là, chúng sanh kia và
tất cả chủng loại sai biệt của chúng sanh kia, khi mạng
chung, cơn vô thường đến, thì chết rồi chôn và tan rã,
tuổi thọ chấm dứt và bị phá hoại, mạng căn bế tắc;
đó là của chết. Trước kia là nói về già, đây là nói
về chết. Đó gọi là lão tử. Đó là biết như thật về
lão tử.
“Thế
nào là biết như thật về tập của già chết? Đó là, do
sanh mà có già chết. Đó là biết như thật về tập của
già chết.
“Thế
nào là biết như thật về diệt của già chết? Đó là, sanh
diệt tức già chết diệt. Đó là biết như thật về diệt
của già chết.
“Thế
nào là biết như thật về diệt đạo của già chết? Tám
chi Thánh đạo từ chánh kiến cho đến chánh định là tám.
Đó là biết như thật về diệt đạo của già chết.
“Này
Tôn giả Xá-lê Tử. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật về già
chết. Biết như thật về tập của già chết, lão tử diệt
của già chết và diệt đạo của già chết như vậy; đó
là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến được chánh kiến, đối với
pháp được bất hoại tịnh và thể nhập chánh pháp.
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành
thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn
giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn
giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền
giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều
đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với
pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?”
“Có,
thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật
về sanh, biết như thật về tập của sanh, diệt của sanh
và diệt đạo của sanh.
“Thế
nào là biết như thật về sanh? Đó là, chúng sanh kia và tất
cả chủng loại sai biệt của chúng sanh kia, đến lúc sanh
thì sanh, đến lúc xuất thì xuất, đến lúc thành thì thành;
khi phát khởi năm ấm liền có mạng căn. Đó là biết như
thật về sanh.
“Thế
nào là biết như thật về tập của sanh? Do hữu mà có sanh.
Đó là biết như thật về tập của sanh.
“Thế
nào là biết như thật về diệt của sanh? Hữu diệt tức
sanh diệt. Đó là biết như thật về diệt của sanh.
“Thế
nào là biết như thật về diệt đạo của sanh? Tám chi Thánh
đạo từ chánh kiến cho đến chánh định là tám. Đó là
biết như thật về diệt đạo của sanh.
“Này
Tôn giả Xá-lê Tử. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật về sanh.
Biết như thật về tập của sanh, diệt của sanh và diệt
đạo của sanh như vậy; đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến,
được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh
và thể nhập chánh pháp.
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành
thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn
giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn
giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền
giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều
đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với
pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?”
“Có,
thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật
về hữu, biết như thật về tập của hữu, diệt của hữu
và diệt đạo của hữu.
“Thế
nào là biết như thật về hữu? Có ba hữu: Dục hữu, sắc
hữu và vô sắc hữu[12].
Đó là biết như thật về hữu.
Thế
nào là biết như thật về tập của hữu? Do thủ[13]
mà có hữu. Đó là biết như thật về hữu tập.
Thế
nào là biết như thật về hữu diệt? Thủ diệt tức hữu
diệt. Đó là biết như thật về hữu diệt.
Thế
nào là biết như thật về hữu diệt đạo? Tám chi Thánh đạo,
từ chánh kiến cho đến chánh định là tám. Đó là biết
như thật về hữu diệt đạo?
Này
Tôn giả Xá-lê Tử. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật về hữu,
biết như thật về hữu tập, hữu diệt và hữu diệt đạo
như vậy. Đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến, được chánh
kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập
chánh pháp.
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành
thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn
giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn
giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền
giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều
đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với
pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?”
“Có,
thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật
về thủ, biết như thật về thủ tập, thủ diệt và thủ
diệt đạo.
“Thế
nào là biết như thật về thủ? Đó là bốn thủ[14]:
dục thủ, giới thủ, kiến thủ và ngã thủ. Đó là biết
như thật về thủ.
“Thế
nào là biết như thật về tập của thủ? Do ái mà có thủ.
Đó là biết như thật về tập của thủ.
“Thế
nào là biết như thật về diệt của thủ? Nghĩa là ái diệt
thì thủ diệt. Đó là biết như thật về diệt của thủ.
“Thế
nào là biết như thật về diệt đạo của thủ? Tám chi Thánh
đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định là tám. Đó là
biết như thật về diệt đạo của thủ.
“Này
Tôn giả Xá-lê Tử. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật về thủ,
biết như thật về tập của thủ, diệt của thủ và diệt
đạo của thủ như vậy; đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến,
được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh
và thể nhập chánh pháp.
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành
thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn
giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn
giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền
giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều
đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với
pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?”
“Có,
thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật
về ái, biết như thật về tập của ái, diệt của ái và
diệt đạo của ái.
“Thế
nào là biết như thật về ái? Có ba ái: dục ái, sắc ái
và vô sắc ái[15].
Đó là biết như thật về ái.
“Thế
nào là biết như thật về tập của ái? Do thọ[16]
mà có ái. Đó là biết như thật về tập của ái.
“Thế
nào là biết như thật về diệt của ái? Thọ diệt tức ái
diệt. Đó là biết như thật về diệt của ái.
“Thế
nào là biết như thật về diệt đạo của ái? Tám chi Thánh
đạo từ chánh kiến cho đến chánh định là tám. Đó là
biết như thật về diệt đạo của ái.
“Này
Tôn giả Xá-lê Tử. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật về ái,
biết như thật về tập của ái, diệt của ái và diệt đạo
của ái như vậy; đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến, được
chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể
nhập chánh pháp.
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành
thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn
giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn
giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền
giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều
đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với
pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?”
“Có,
thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật
về thọ, biết như thật về tập của thọ, diệt của thọ
và diệt đạo của thọ.
“Thế
nào là biết như thật về thọ? Có ba thọ: lạc thọ[17],
khổ thọ và bất lạc bất khổ thọ. Đó là biết như thật
về thọ.
“Thế
nào là biết như thật về tập của thọ? Do xúc[18]
mà có thọ. Đó là biết như thật về tập của thọ.
“Thế
nào là biết như thật về diệt của thọ? Do xúc diệt nên
thọ diệt. Đó là biết như thật về diệt của thọ.
“Thế
nào là biết như thật về diệt đạo của thọ? Tám chi Thánh
đạo từ chánh kiến cho đến chánh định. Đó là biết như
thật về diệt đạo của thọ.
“Này
Tôn giả Xá-lê Tử, nếu có Tỳ-kheo biết như thật về thọ,
biết như thật về tập của thọ, diệt của thọ và diệt
đạo của thọ như vậy; đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến,
được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh
và thể nhập chánh pháp.
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành
thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn
giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn
giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền
giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều
đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với
pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?”
“Có,
thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật
về xúc, biết như thật về tập của xúc, diệt của xúc
và diệt đạo của xúc.
“Thế
nào là biết như thật về xúc? Có ba xúc[19]:
lạc xúc, khổ xúc và bất lạc bất khổ xúc. Đó là biết
như thật về xúc.
“Thế
nào là biết như thật về tập của xúc? Do sáu xứ mà có
xúc. Đó là biết như thật về tập của xúc.
“Thế
nào là biết như thật về diệt của xúc? Sáu xứ diệt tức
xúc diệt. Đó là biết như thật về diệt của xúc.
“Thế
nào là biết như thật về diệt đạo của xúc? Tám chi Thánh
đạo từ chánh kiến đến chánh định là tám. Đó là biết
như thật về diệt đạo của xúc.
“Này
Tôn giả Xá-lê Tử, nếu có Tỳ-kheo biết như thật về xúc,
biết như thật về tập của xúc, diệt của xúc và diệt
đạo của xúc như vậy; đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến,
được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh
và thể nhập chánh pháp.
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành
thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn
giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn
giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền
giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều
đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với
pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?”
“Có,
thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật
về sáu xứ[20],
biết như thật về tập của sáu xứ, diệt của sáu xứ và
diệt đạo của sáu xứ.
“Thế
nào là biết như thật về sáu xứ? Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ
xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Đó là biết như thật về
sáu xứ.
“Thế
nào là biết như thật về tập của sáu xứ? Do danh sắc mà
có sáu xứ. Đó là biết như thật về tập của sáu xứ.
“Thế
nào là biết như thật về diệt của sáu xứ? Danh sắc diệt
tức sáu xứ diệt. Đó là biết như thật về diệt của sáu
xứ.
“Thế
nào là biết như thật về diệt đạo của sáu xứ? Tám chi
Thánh đạo từ chánh kiến cho đến chánh định là tám. Đó
là biết như thật về diệt đạo của sáu xứ.
“Này
Tôn giả Xá-lê Tử, nếu có Tỳ-kheo biết như thật về sáu
xứ, biết như thật về tập của sáu xứ, diệt của sáu
xứ và diệt đạo của sáu xứ như vậy; đó là Tỳ-kheo đã
thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được
bất hoại tịnh và thể nhập chánh pháp.
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành
thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn
giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn
giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền
giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều
đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với
pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?”
“Có,
thưa Tôn giả Xá-lê Tử, đó là có Tỳ-kheo biết như thật
về danh sắc[21],
biết như thật về tập của danh sắc, diệt của danh sắc
và diệt đạo của danh sắc.
“Thế
nào là biết như thật về danh sắc? Đó là bốn ấm phi sắc[22]
là danh. Thế nào là biết về sắc? Bốn đại[23]
và sắc do bốn đại tạo[24].
Đây là nói về sắc, trước đó nói về danh, đó là danh
sắc. Đó là biết như thật về danh sắc.
Thế
nào là biết như thật về tập của danh sắc? Do thức mà
có danh sắc. Đó là biết như thật về tập của danh sắc.
“Thế
nào là biết như thật về diệt của danh sắc? Thức diệt
tức danh sắc diệt? Đó là biết như thật về diệt của
danh sắc.
Thế
nào là biết như thật về diệt đạo của danh sắc? Tám chi
Thánh đạo từ chánh kiến cho đến chánh định là tám. Đó
là biết như thật về diệt đạo của danh sắc.
“Này
Tôn giả Xá-lê Tử, nếu có Tỳ-kheo biết như thật về danh
sắc, biết như thật về tập của danh sắc, diệt của danh
sắc và diệt đạo của danh sắc như vậy. Đó là Tỳ-kheo
đã thành tựu kiến được chánh kiến, đối với pháp được
bất hoại tịnh và thể nhập chánh pháp.
Tôn
giả Xá-lợi-phất nghe rồi khen rằng:
“Lành
thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn
giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn
giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền
giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều
đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với
pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?”
“Có,
thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật
về thức[25],
biết như thật về tập của thức, diệt của thức và diệt
đạo của thức.
“Thế
nào là biết như thật về thức? Có sáu thức: nhãn thức,
nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. Đó
là biết như thật về thức.
“Thế
nào là biết như thật về tập của thức? Do hành mà có thức.
Đó là biết như thật về tập của thức.
“Thế
nào là biết như thật về diệt của thức? Hành diệt tức
thức diệt. Đó là biết như thật về diệt của thức.
“Thế
nào là biết như thật về diệt đạo của thức? Tám chi Thánh
đạo từ chánh kiến cho đến chánh định là tám. Đó là
biết như thật về diệt đạo của thức.
“Này
Tôn giả Xá-lê Tử, nếu có Tỳ-kheo biết như thật về thức,
biết như thật về tập của thức, diệt của thức và diệt
đạo của thức như vậy, đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến,
được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh
và thể nhập chánh pháp
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành
thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn
giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn
giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền
giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều
đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với
pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?”
“Có,
thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật
về hành[26],
biết như thật về tập của hành, diệt của hành và diệt
đạo của hành.
“Thế
nào là biết như thật về hành? Có ba hành[27]:
thân hành, khẩu hành và ý hành. Đó là biết như thật về
hành.
“Thế
nào là biết như thật về tập của hành? Do vô minh mà có
hành. Đó là biết như thật về tập của hành.
“Thế
nào là biết như thật về diệt của hành? Vô minh diệt tức
hành diệt. Đó là biết như thật về diệt của hành.
“Thế
nào là biết như thật về diệt đạo của hành? Tám chi Thánh
đạo từ chánh kiến cho đến chánh định là tám. Đó là
biết như thật về diệt đạo của hành.
“Này
Tôn giả Xá-lê Tử, nếu có Tỳ-kheo biết như thật về hành,
biết như thật về tập của hành, diệt của hành và diệt
đạo của hành như vậy, đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến,
được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh
và thể nhập chánh pháp
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành
thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn
giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn
giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền
giả Đại Câu-hi-la, nếu có Tỳ-kheo mà vô minh đã dứt, minh
đã phát sanh, thì vị ấy còn phải làm những gì nữa?”
Tôn
giả Đại Câu-hi-la trả lời rằng:
“Thưa
Tôn giả Xá-lê Tử, nếu có thầy Tỳ-kheo mà vô minh đã dứt,
minh đã phát sanh, thì vị ấy không còn gì phải làm nữa”.
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành
thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn
giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Hai
vị Tôn giả cùng nhau nói về nghĩa như vậy, thảy đều hoan
hỷ phụng hành, từ chỗ ngồi đứng dậy mà đi.
Chú thích
[1]
Bản Hán, quyển 7. Tương đương Pāli, không tìm thấy tương
đương chính xác; A. IX. 13 Koṭihita, A.IV. 174 Koṭṭhika, ghi
giữa cuộc thảo luận giữa ngài Mahākoṭṭhika và Sāriputta
với nội dung không hoàn toàn đồng nhất với bản Hán này.
[2]
Đại Câu-hi-la 大拘絺羅.
Pāli: Mahākoṭṭhita, hoặc Mahākoṭṭhika.
[3]
Bất hoại tịnh 不壤淨.
Pāli: avecca-pasāda, cũng nói là bất động tín, bất hoại
tín, hay chứng tịnh; tín tâm không thể bị lay chuyển; đức
tin trong sáng. Có bốn bất hoại tín (chứng tịnh): tin Phật,
tin Pháp, tin Tăng, tin Thánh giới.
[4]
Thực 食.
Pāli: āhāra. Có bốn loại thức ăn; xem các cht. dưới.
[5]
Đoàn thực thô tế摶食粗細,
thức ăn được nắn lại hay vo tròn (theo tục ăn bốc); thức
ăn vật chất, gồm loại cứng và loại mềm tức cố thể
và chất lỏng; Pāli: kabaliṅkāro āhāro oḷāriko vā sukkumo.
[6]
Nguyên-Hán: canh lạc thực更樂食,
hay xúc thực, thức ăn là sự xúc chạm, chỉ sự tiếp xúc
giữa căn và cảnh. Pāli: phasso āhāro.
[7]
Ý tư thực意思食,
hay tư niệm thực, thức ăn là tư duy của ý thức. Pāli: manosañcetanā-āhāro.
[8]
Thức thực識食,
thức ăn là sự nhận thức, phân biệt. Pāli: viññāṇaṃ
āhāro.
[9]
Hán: thực tập食集.
Pāli: āhāra-samudaya, sự tập khởi hay khởi nguyên của thức
ăn.
[10]
Hán: thực diệt đạo食滅道.
Pāli: āhāra-nirodha-gāminipṭipadā, sự thực hành dẫn đến
chỗ diệt trừ thức ăn.
[11]
Ba lậu: dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu欲漏, 有漏, 無明漏.
Pāli: kāma-āsavā, bhava-āsavā, avijjā-āsavā.
[12]
Ba hữu: dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu 欲有, 色有, 無色有.
Pāli: kāma-bhava, rūpa-bhava, ārūpa-kāma.
[13]
Nguyên-Hán: thọ 受.
Pāli: upādāna.
[14]
Hán: tứ thọ 四受.
Bốn thọ hay bốn thủ: dục thủ欲取,
giới (cấm) thủ戒
(禁) 取,
kiến thủ見取,
ngã (ngữ) thủ我
(語) 取.
Pāli: cattārimāni upādānāni, kāmupādānaṃ diṭṭhupādānaṃ
sīlabbatupādanaṃ attavādupādānaṃ.
[15]
Ba ái: dục ái, sắc ái, vô sắc ái欲愛, 色愛, 無色愛.
Pāli: kāma-taṇhā, rūpa-taihā, arūpa-taṇhā.
[16]
Nguyên-Hán: giác 覺;
Pāli: vedanā.
[17]
Hán: ba giác, tức ba thọ: khổ thọ苦受,
lạc thọ樂受,
bất khổ bất lạc thọ不苦不樂受.
Pāli: tisso vedanā, sukhā vedanā dukkhā vedanā adukkhamasukhā vedanā.
[18]
Hán: canh lạc更樂.
Pāli: phassa.
[19]
Hán: ba canh lạc: lạc canh lạc 樂更樂,
khổ canh lạc苦更樂,
bất lạc bất khổ canh lạc不樂不苦更樂.
[20]
Lục xứ 六處.
Pāli: cha ayātana.
[21]
Danh sắc 名色.
Pāli: nāma-rūpa.
[22]
Tứ phi sắc ấm (hay uẩn) 四非色陰.
Pāli: cattāro arūpakkhandhā, gồm thọ, tưởng, hành và thức.
[23]
Tứ đại 四大.
Pāli: cattāro mahābhūtā.
[24]
Tứ đại tạo vi sắc 四大造為色.
Pāli: catumaṃ mahābhūtānaṃ upādāya rūpaṃ.
[25]
Thức 識.
Pāli: viññāṇa.
[26]
Hành 行.
Pāli: saṃkhāra.
[27]
Ba hành: thân hành身行,
khẩu hành 口行,
ý hành 意行.
Pāli: tayo saṃkhāra, kāyasaṃkhāro vacīsaṃkhāro cittasaṃkhāro