26.
KINH CÙ-NI-SƯ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật du hóa tại thành Vương xá, trong rừng Trúc lâm,
vườn Ca-lan-đa[2].
Bấy
giờ Tỳ-kheo Cù-ni-sư[3]
cũng trú tại thành Vương xá, ở tại Vô sự thất[4],
cười đùa kiêu ngạo, tháo động, không chánh niệm như khỉ
vượn[5].
Tỳ-kheo Cù-ni-sư vì có chút việc nên đến thành Vương xá.
Bấy
giờ Tôn giả Xá-lê Tử cùng với chúng Tỳ-kheo sau giờ ngọ
thực, vì có chút việc nên vân tập tại giảng đường. Tỳ-kheo
Cù-ni-sư sau khi đã làm xong việc trong thành Vương xá, đi
đến giảng đường. Tôn giả Xá-lê Tử từ đằng xa trong
thấy Cù-ni-sư đi đến. Nhân Cù-ni-sư mà bảo các Tỳ-kheo
rằng:
“Này
chư Hiền, thầy Tỳ-kheo vô sự[6],
sống ở nơi vô sự, phải học sự kính trọng và biết tùy
thuận quán sát[7].
Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo vô sự, sống ở nơi vô sự mà
phần nhiều không kính trọng, không biết tùy thuận quán sát,
thì sẽ bị các Tỳ-kheo thường hay chỉ trích cật vấn: ‘Vị
Hiền giả này sống ở nơi vô sự mà làm gì? Vì sao thế?
Vị Hiền giả này sống ở nơi vô sự nhưng phần nhiều lại
không biết kính trọng, không biết tùy thuận quán sát’.
Nếu đến ở trong đại chúng, cũng bị các Tỳ-kheo thường
hay chỉ trích, cật vấn. Do đó, này chư Hiền, thầy Tỳ-kheo
vô sự, sống ở nơi vô sự, nên học kính trọng và biết
tùy thuận quán.
“Này
chư Hiền, thầy Tỳ-kheo vô sự, sống ở nơi vô sự, nên
học hạnh không cười giỡn, không tháo động[8].
Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo vô sự, sống ở nơi vô sự mà
hay cười giỡn, tháo động, thì sẽ bị các Tỳ-kheo thường
hay chỉ trích cật vấn: ‘Vị Hiền giả này sống ở nơi
vô sự mà làm gì? Vì sao thế? Vị Hiền giả này sống ở
nơi vô sự nhưng hay cười giỡn, tháo động’. Nếu đến
ở trong đại chúng, cũng bị các Tỳ-kheo thường hay chỉ
trích, cật vấn. Do đó, này chư Hiền, Tỳ-kheo vô sự, sống
ở nơi vô sự, nên học hạnh không cười giỡn, không tháo
động.
“Này
chư Hiền, Tỳ-kheo vô sự, sống ở nơi vô sự, nên học hạnh
không nói những đề tài súc sanh[9].
Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo vô sự, sống ở nơi vô sự mà
hay nói những vấn đề súc sanh, sẽ bị các Tỳ-kheo chỉ
trích cật vấn: ‘Vị Hiền giả này sống ở nơi vô sự
mà làm gì? Vì sao thế? Vị Hiền giả này sống ở nơi vô
sự nhưng hay nói những đề tài súc sanh’. Nếu đến ở
trong đại chúng, cũng bị các Tỳ-kheo thường hay chỉ trích,
cật vấn. Do đó, này chư Hiền, Tỳ-kheo vô sự, sống ở
nơi vô sự, nên học không nói những đề tài súc sanh.
“Này
chư Hiền, Tỳ-kheo vô sự, sống ở nơi vô sự, nên học không
kiêu ngạo và ít nói năng. Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo vô
sự, sống ở nơi vô sự mà hay kiêu ngạo và nói năng nhiều
sẽ bị các Tỳ-kheo chỉ trích cật vấn: ‘Vị Hiền giả
này sống ở nơi vô sự mà làm gì? Vì sao thế? Vị Hiền
giả này sống ở nơi vô sự mà lại hay kiêu ngạo và nói
năng nhiều’. Nếu đến ở trong đại chúng, cũng bị các
Tỳ-kheo thường hay chỉ trích, cật vấn. Do đó, này chư Hiền,
Tỳ-kheo vô sự, sống ở nơi vô sự nên học không kiêu ngạo
và ít nói năng.
“Này
chư Hiền, Tỳ-kheo vô sự, sống ở nơi vô sự, nên học thủ
hộ các căn. Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo vô sự, sống ở
nơi vô sự mà phần nhiều không chịu thủ hộ các căn, sẽ
bị các Tỳ-kheo chỉ trích cật vấn: ‘Vị Hiền giả này
sống ở nơi vô sự mà làm gì? Vì sao thế? Vị Hiền giả
này sống ở nơi vô sự mà phần nhiều không chịu thủ hộ
các căn. Nếu đến ở trong đại chúng, cũng bị các Tỳ-kheo
thường hay chỉ trích, cật vấn. Do đó, này chư Hiền, Tỳ-kheo
vô sự, sống ở nơi vô sự nên học thủ hộ các căn.
“Này
chư Hiền, thầy Tỳ-kheo vô sự, sống ở nơi vô sự, nên
học biết đủ trong sự ăn uống. Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo
vô sự, sống ở nơi vô sự mà ham ăn quá dư, quá nhiều,
không biết đủ, sẽ bị các Tỳ-kheo chỉ trích cật vấn:
‘Vị Hiền giả này sống ở nơi vô sự mà làm gì? Vì sao
thế? Vị Hiền giả này sống ở nơi vô sự mà mà ham ăn
quá dư, quá nhiều, không biết đủ’. Nếu đến ở trong
đại chúng, cũng bị các Tỳ-kheo thường hay chỉ trích, cật
vấn. Do đó, này chư Hiền, Tỳ-kheo vô sự, sống ở nơi vô
sự nên học biết đủ trong sự ăn uống.
“Này
chư Hiền, thầy Tỳ-kheo vô sự, sống ở nơi vô sự, nên
học tinh tấn không giải đãi. Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo
vô sự, sống ở nơi vô sự mà lại thường không tinh tấn,
hay giải đãi, sẽ bị các Tỳ-kheo chỉ trích cật vấn: ‘Vị
Hiền giả này sống ở nơi vô sự mà làm gì? Vì sao thế?
Vị Hiền giả này sống ở nơi vô sự mà thường không tinh
tấn, trái lại còn giải đãi’. Nếu đến ở trong đại
chúng, cũng bị các Tỳ-kheo thường hay chỉ trích, cật vấn.
Do đó, này chư Hiền, Tỳ-kheo vô sự, sống ở nơi vô sự
nên học tinh tấn, không giải đãi.
“Này
chư Hiền, Tỳ-kheo vô sự, sống ở nơi vô sự, nên học chánh
niệm và chánh trí. Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo vô sự, sống
ở nơi vô sự mà không học chánh niệm chánh trí, sẽ bị
các Tỳ-kheo chỉ trích cật vấn: ‘Vị Hiền giả này sống
ở nơi vô sự mà làm gì? Vì sao thế? Vị Hiền giả này sống
ở nơi vô sự mà thường không có chánh niệm chánh trí’.
Nếu đến ở trong đại chúng, cũng bị các Tỳ-kheo thường
hay chỉ trích, cật vấn. Do đó, này chư Hiền, Tỳ-kheo vô
sự, sống ở nơi vô sự nên học chánh niệm chánh trí.
“Này
chư Hiền, Tỳ-kheo vô sự, sống ở nơi vô sự, nên học biết
thời và đúng thời; không đi vào thôn khất thực quá sớm,
cũng chẳng trở về quá trễ. Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo
vô sự, sống ở nơi vô sự mà vào thôn khất thực quá sớm
và trở về quá trễâ, sẽ bị các Tỳ-kheo chỉ trích cật
vấn: ‘Vị Hiền giả này sống ở nơi vô sự mà làm gì?
Vì sao thế? Vị Hiền giả này sống ở nơi vô sự mà vào
thôn khất thực quá sớm và trở về quá trễ’. Nếu đến
ở trong đại chúng, cũng bị các Tỳ-kheo thường hay chỉ
trích, cật vấn. Do đó, này chư Hiền, Tỳ-kheo vô sự, sống
ở nơi vô sự nên học biết thời và đúng thời.
“Này
chư Hiền, Tỳ-kheo vô sự, sống ở nơi vô sự, nên học biết
ngồi và ngồi đúng chỗ; không lấn chỗ ngồi của vị Trưởng
lão, bị Tỳ-kheo nhỏ khiển trách[10].
Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo vô sự, sống ở nơi vô sự mà
chiếm chỗ ngồi của bậc trưởng lão, bị các Tỳ-kheo nhỏ
quở trách, sẽ bị các Tỳ-kheo chỉ trích cật vấn: ‘Vị
Hiền giả này sống ở nơi vô sự mà làm gì? Vì sao thế?
Vị Hiền giả này sống ở nơi vô sự mà chiếm chỗ ngồi
của các bậc trưởng lão, bị các Tỳ-kheo nhỏ quở trách’.
Nếu đến ở trong đại chúng, cũng bị các Tỳ-kheo thường
hay chỉ trích, cật vấn. Do đó, này chư Hiền, Tỳ-kheo vô
sự, sống ở nơi vô sự nên học biết ngồi và ngồi đúng
chỗ.
“Này
chư Hiền, Tỳ-kheo vô sự, sống ở nơi vô sự, nên học thảo
luận về Luật và A-tì-đàm[11].
Vì sao thế. Này chư Hiền, khi Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi
vô sự, hoặc có người đến hỏi về Luật và A-tì-đàm.
Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi vô sự mà
không biết trả lời về Luật và A-tì-đàm, thì làm cho các
Tỳ-kheo khác thường quở trách cật vấn: ‘Vị Hiền giả
này sống ở nơi vô sự mà làm gì? Vì sao thế? Vị Hiền
giả vô sự này sống ở nơi vô sự nhưng không biết trả
lời về Luật và A-tì-đàm’. Nếu đến ở giữa đại chúng
cũng làm cho các Tỳ-kheo thường chỉ trích cật vấn. Do đó,
này chư Hiền, Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi vô sự nên học
thảo luận về Luật và A-tì-đàm.
“Này
chư Hiền, thầy Tỳ-kheo vô sự, sống ở nơi vô sự, nên
học thảo luận về tịch tĩnh giải thoát[12]
và ly sắc[13]
cho đến vô sắc định[14].
Vì sao thế? Này chư Hiền, khi Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi
vô sự, hoặc có người đến hỏi về tịch tĩnh giải thoát
và ly sắc cho đến vô sắc định. Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo
vô sự sống ở nơi vô sự mà không biết trả lời về tịch
tĩnh giải thoát và ly sắc cho đến vô sắc định thì làm
cho các Tỳ-kheo khác thường quở trách cật vấn: ‘Vị Hiền
giả này sống ở nơi vô sự này mà làm gì? Vì sao thế? Vị
Hiền giả vô sự này sống ở nơi vô sự nhưng không biết
trả lời về tịch tĩnh giải thoát và ly sắc cho đến vô
sắc định’. Nếu đến ở giữa đại chúng cũng làm cho
các Tỳ-kheo thường chỉ trích cật vấn. Do đó, này chư Hiền,
Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi vô sự nên học thảo luận về
tịch tĩnh giải thoát và ly sắc cho đến vô sắc định.
“Này
chư Hiền, thầy Tỳ-kheo vô sự, sống ở nơi vô sự, nên
học thảo luận về lậu tận trí thông. Vì sao thế. Này chư
Hiền, khi Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi vô sự, hoặc có người
đến hỏi về lậu tận trí thông. Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo
vô sự sống ở nơi vô sự mà không biết trả lời về lậu
tận trí thông, thì làm cho các Tỳ-kheo khác thường quở trách
cật vấn: ‘Vị Hiền giả này sống ở nơi vô sự này mà
làm gì? Vì sao thế? Vị Hiền giả vô sự này sống ở nơi
vô sự nhưng không biết trả lời về lậu tận trí thông’.
Nếu đến ở giữa đại chúng cũng làm cho các Tỳ-kheo thường
chỉ trích cật vấn. Do đó, này chư Hiền, Tỳ-kheo vô sự
sống ở nơi vô sự nên học thảo luận về lậu tận trí
thông”.
Lúc
ấy, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên cũng hiện diện trong đại
chúng. Tôn giả Đại Mục-kiền-liên thưa rằng:
“Thưa
Tôn giả Xá-lê Tử, chỉ những Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi
vô sự mới nên học những pháp như vậy, chứ không phải
là những Tỳ-kheo ở giữa người đời[15]
sao?”
Tôn
giả Xá-lê Tử trả lời rằng:
“Tôn
giả Đại Mục-kiền-liên, Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi vô
sự còn nên học những pháp như vậy huống gì là Tỳ-kheo
sống giữa nhân gian?”
Như
vậy hai vị Tôn giả cùng khen tán lẫn nhau, tán thán “Lành
thay!” Sau khi nghe những điều được nói, từ chỗ ngồi
đứng dậy mà đi.
Kính
trọng, không cười cợt,
Không
phiếm luận, kiêu ngạo,
Hộ
căn, ăn biết đủ,
Tinh
tấn, chánh niệm, trí,
Biết
thời, ngồi đúng chỗ,
Thảo
luận Luật, Tỳ-đàm,
Và
tịch tĩnh giải thoát,
Lậu
tận thông cũng vậy.
Chú thích
[1]<![endif]>
Bản Hán, quyển 6. Tương đương Pāli: M. 69 Gulissāni-suttaṃ
(bản Devanagari, Goliyānisuttaṃ).
[2]
Trúc lâm Ca-lan-đa viên 竹林迦蘭多園.
Pāli: Veluvāne Kanlandakanivāpe.
[3]
Cù-ni-sư 瞿尼師.
Pāli: Gulissāni (Goliyāni).
[4]
Hán: tại vô sự thất在無事室.
Pāli: (gulissāni nāma bhikkhu) āraññ iko, (Tỳ-kheo Gulissāni)
là người sống trong rừng (ẩn cư).
[5]
Pāli: (āraññiko) padasamācāro, (là ẩn sĩ sống trong rừng,
nhưng) là người có hành vi thô tháo.
[6]Vô
sự Tỳ-kheo 無事比丘.
Pāli: āraññaka-bhikku, Tỳ-kheo sống (ẩn cư) trong rừng.
[7]
Pāli: āraññkena... Bhikkhunā saṃghagatena saughe viharante sabrahmacārisu
sagāravena bhavitabbaṃ sappatussena, “Tỳ-kheo tu hạnh sống ở
rừng, khi đến sống giữa Tăng, cần phải tôn trọng, cung
kính các đồng phạm hạnh”.
[8]
Hán: bất điệu tiếu, bất táo nhiễu不調笑不躁擾.
Pāli: anuddhata, không trạo cử, acapala, không náo động.
[9]
Hán: súc sanh luận 畜生論.
Pāli: tiracchāna-kathā, câu chuyện về thú vật; chuyện vô
ích, trở ngại sự tu tập. Nhưng, đoạn này, trong bản Pāli
tương đương: amukhararena bhavitabbaṃ avikiṇṇavācena, không
nên lắm lời, không nên nói tạp nhạp.
[10]
Pāli: there ca bhikkhū nānupakhajja
nisīdissāmi nave ca bhikkhū na āsanena paṭibāhissāmi, không chiếm
chỗ ngồi của các Tỳ-kheo Thượng tọa; không đuổi các
vị tân Tỳ-kheo khỏi chỗ ngồi.
[11]
Luật, A-tì-đàm 律阿毗曇.
Pāli: abhivinaya, abhidhamma, chỉ phần tinh nghĩa của luật (vinaya)
và pháp (dhamma); không phải A-tì-đàm của Luận tạng.
[12]
Hán: tức giải thoát息解脫.
Pāli: santa-vimokka.
[13]
Hán: ly sắc離色.
Pāli: atikkamma rūpe, vượt qua sắc pháp.
[14]
Hán: nãi chí vô sắc định乃至無色定.
Pāli: āruppā tattha yogo karaṇīyo, tu tập về các vô sắc.
[15]
Hán: nhân gian Tỳ-kheo 人間毗丘.
Pāli: gāmantavihārin, (Tỳ-kheo) sống tại các thôn xóm.