22.
KINH THÀNH TỰU GIỚI[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm,
vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ, Tôn giả Xá-lê Tử nói với các Tỳ-kheo rằng:
“Nếu
Tỳ-kheo thành tựu giới, thành tựu định, thành tựu tuệ
thì ngay trong đời hiện tại mà ra vào định tưởng tri diệt[2];
tất có trường hợp này. Nếu ngay trong đời hiện tại mà
không chứng được cứu cánh trí[3],
khi thân hoại mạng chung, vượt qua khỏi trời Đoàn thực[4],
sanh lên các cõi trời Ý sanh[5],
tại các cõi ấy mà ra vào định tướng tri diệt; tất có
trường hợp này”.
Lúc
đó Tôn giả Ô-đà-di[6]
cũng hiện diện trong đại chúng. Tôn giả Ô-đà-di nói rằng:
“Thưa
Tôn giả Xá-lê Tử, nếu Tỳ-kheo sanh lên các cõi trời ý
sanh khác, mà ra vào định tưởng tri diệt; hoàn toàn không
có trường hợp ấy”.
Tôn
giả Xá-lê Tử ba lần lặp lại, nói với các Tỳ-kheo rằng:
“Nếu
Tỳ-kheo thành tựu giới, thành tựu định, thành tựu tuệ
thì ngay trong đời hiện tại mà ra vào định tưởng tri diệt;
tất có trường hợp này. Nếu ngay trong đời hiện tại mà
không chứng được cứu cánh trí, khi thân hoại mạng chung,
vượt qua khỏi trời Đoàn thực, sanh lên các cõi trời Ý
sanh, tại các cõi ấy mà ra vào định tướng tri diệt; tất
có trường hợp này”.
Tôn
giả Ô-đà-di cũng ba lần lặp lại, thưa rằng:
“Thưa
Tôn giả Xá-lê Tử, nếu Tỳ-kheo sanh lên các cõi trời Ý
sanh khác, mà ra vào định tưởng tri diệt; hoàn toàn không
có trường hợp ấy”.
Lúc
đó Tôn giả Xá-lê Tử liền suy nghĩ như thế này: “Thầy
Tỳ-kheo này cho đến ba lần bác lời ta nói, và cũng không
có vị Tỳ-kheo nào tán thán lời ta nói. Vậy ta hãy đi đến
Đức Thế Tôn”.
Rồi
Tôn giả Xá-lê Tử đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ
rồi ngồi xuống một bên.
Sau
khi Tôn giả Xá-lê Tử ra đi chẳng bao lâu, Tôn giả Ô-đà-di
cũng đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ rồi ngồi xuống
một bên.
Nơi
đây, Tôn giả Xá-lê Tử lại nói với các Tỳ-kheo rằng:
“Nếu
Tỳ-kheo thành tựu giới, thành tựu định, thành tựu tuệ
thì ngay trong đời hiện tại mà ra vào định tưởng tri diệt;
tất có trường hợp này. Nếu ngay trong đời hiện tại mà
không chứng được cứu cánh trí, khi thân hoại mạng chung,
vượt qua khỏi trời Đoàn thực, sanh lên các cõi trời Ý
sanh, tại các cõi ấy mà ra vào định tưởng tri diệt; tất
có trường hợp này”.
Tôn
giả Ô-đà-di lại thưa rằng:
“Thưa
Tôn giả Xá-lê Tử, nếu Tỳ-kheo sanh lên các cõi trời Ý
sanh khác, mà ra vào định tưởng tri diệt; hoàn toàn không
có trường hợp ấy”.
Tôn
giả Xá-lê Tử ba lần lặp lại, nói với các Tỳ-kheo rằng:
“Nếu
Tỳ-kheo thành tựu giới, thành tựu định, thành tựu tuệ
thì ngay trong đời hiện tại mà ra vào định tưởng tri diệt;
tất có trường hợp này. Nếu ngay trong đời hiện tại mà
không chứng được cứu cánh trí, khi thân hoại mạng chung,
vượt qua khỏi trời Đoàn thực, sanh lên các cõi trời Ý
sanh, tại các cõi ấy mà ra vào định tướng tri diệt; tất
có trường hợp này”.
Tôn
giả Ô-đà-di cũng ba lần lặp lại, thưa rằng:
“Thưa
Tôn giả Xá-lê Tử, nếu Tỳ-kheo sanh lên các cõi trời Ý
sanh khác, mà ra vào định tưởng tri diệt; hoàn toàn không
có trường hợp ấy”.
Tôn
giả Xá-lê Tử suy nghĩ thế này: “Thầy Tỳ-kheo này ở trưóc
Đức Thế Tôn, lặp lại ba lần bác lời ta nói, cũng không
có vị Tỳ-kheo nào tán thán lời ta nói; vậy ta nên im lặng”.
Lúc
ấy Đức Thế Tôn hỏi rằng:
“Này
Ô-đà-di, ngươi cho Ý sanh thiên là sắc chăng?”[7]
Tôn
giả Ô-đà-di bạch Đức Thế Tôn rằng:
“Quả
thật như vậy, bạch Thế Tôn”.
Đức
Thế Tôn liền khiển trách:
“Ngươi
là người ngu si mờ tối, không có mắt, bằng vào những gì
mà có thể luận bàn về A-tỳ-đàm thâm sâu[8]?”
Bấy
giờ Tôn giả Ô-đà-di sau khi bị Thế Tôn quở mắng lòng
dạ u sầu, cúi đầu im lặng, không còn lời lẽ để biện
luận, như có điều suy nghĩ.
Đức
Thế Tôn sau khi quở mắng Tôn giả Ô-đà-di rồi, nói Tôn
giả A-nan rằng:
“Khi
một Tỳ-kheo trưởng lão là bậc danh đức thượng tôn mà
bị người khác cật vấn, tại sao ngươi bỏ mặc, không chiếu
cố? Ngươi, là người ngu si, không có lòng từ, quay lưng lại
với bậc trưởng lão thượng tôn danh đức”.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn sau khi quở mắng Tôn giả Ô-đà-di và
Tôn giả A-nan, bèn nói với các Tỳ-kheo rằng:
“Nếu
Tỳ-kheo thành tựu giới, thành tựu định, thành tựu tuệ
thì ngay trong đời hiện tại mà ra vào định tưởng tri diệt;
tất có trường hợp này. Nếu ngay trong đời hiện tại mà
không chứng được cứu cánh trí, khi thân hoại mạng chung,
vượt qua khỏi trời Đoàn thực, sanh lên các cõi trời ý
sanh, tại các cõi ấy mà ra vào định tưởng tri diệt; tất
có trường hợp này”.
Đức
Thế Tôn nói như vậy xong liền vào tịnh thất im lặng tĩnh
tọa. Bấy giờ Tôn giả Bạch Tịnh[9]
đang hiện diện trong đại chúng. Tôn giả A-nan thưa với Tôn
giả Bạch Tịnh rằng:
“Đó
là việc làm của vị khác mà tôi bị quở mắng. Thưa Tôn
giả Bạch Tịnh, vào xế chiều Thế Tôn rời khỏi tịnh thất
mà đến trước chúng Tỳ-kheo, trải tòa ngồi, để cùng thảo
luận vấn đề này. Tôn giả Bạch Tịnh, ngài nên trả lời
việc này. Tôi rất thẹn với Đức Thế Tôn và các vị phạm
hạnh”.
Bấy
giờ vào lúc xế chiều, Đức Thế Tôn từ thiền thất đi
ra, đến trước chúng Tỳ-kheo, trải chỗ mà ngồi, rồi Ngài
bảo rằng:
“Này
Bạch Tịnh, Tỳ-kheo trưởng lão có mấy pháp để được
các vị phạm hạnh kính mến, tôn trọng?”
Tôn
giả Bạch Tịnh thưa rằng:
“Bạch
Thế Tôn, Tỳ-kheo trưởng lão nếu có năm pháp sẽ được
các vị phạm hạnh khác tôn trọng, kính mến.
“Những
gì là năm?
“Bạch
Thế Tôn, Tỳ-kheo trưởng lão tu tập các giới cấm, thủ
hộ biệt giải thoát luật nghi[10],
lại còn khéo thâu nhiếp các oai nghi lễ tiết[11],
thấy những tội lỗi nhỏ nhặt cũng thường sanh tâm lo sợ,
thọ trì học giới. Bạch Thế Tôn, vị Tỳ-kheo trưởng lão
thượng tôn có cấm giới ấy sẽ được các vị phạm hạnh
kính mến tôn trọng.
Lại
nữa, bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo trưởng lão học rộng, nghe nhiều,
ghi nhớ không quên, tích lũy kiến thức rộng rãi; những pháp
nào mà khoảng đầu hoàn hảo, khoảng giữa hoàn hảo, khoảng
cuối cùng hoàn hảo, có nghĩa lý, có văn từ, hiển hiện
phạm hạnh, thanh tịnh trọn đủ, vị ấy học rộng nghe nhiều
các pháp như vậy, học tập nhuần nhuyễn cả ngàn lần, tâm
ý tư duy quán sát, thấy rõ ràng và hiểu thấu sâu xa. Bạch
Thế Tôn, Tỳ-kheo trưởng lão thượng tôn đa văn ấy sẽ
được các vị phạm hạnh kính mến tôn trọng.
“Lại
nữa, bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo trưởng lão thượng tôn có bốn
tâm tăng thượng[12],
sống an lạc trong đời hiện tại[13],
dễ được chớ không khó. Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo trưởng
lão thượng tôn có thiền tư ấy sẽ được các vị phạm
hạnh kính mến tôn trọng.
“Lại
nữa, bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo trưởng lão tu hành trí tuệ,
quán sát sự hưng khởi và suy tàn của các pháp[14],
chứng đắc như thật trí[15],
được sự sáng suốt của Thánh tuệ, phân biệt rõ ràng,
chân chánh dứt hết khổ. Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo trưởng
lão thượng tôn có trí tuệ sẽ được các vị phạm hạnh
kính mến tôn trọng.
“Lại
nữa, bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo trưởng lão đã dứt sạch các
lậu, không còn kết sử, tâm giải thoát, tuệ giải thoát,
ngay trong đời hiện tại tự tri, tự giác, tự tác chứng,
thành tựu và an trụ, ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã
vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’.
Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo trưởng lão thượng tôn đã lậu tận
ấy sẽ đưọc các vị phạm hạnh kính mến tôn trọng”.
Đức
Thế Tôn hỏi rằng:
“Này
Bạch Tịnh, nếu vị Tỳ-kheo trưởng lão thượng tôn không
có năm pháp này, thì do nghĩa nào để cho các vị phạm hạnh
kính mến tôn trọng?”
Tôn
giả Bạch Tịnh thưa:
“Bạch
Thế Tôn, nếu vị Tỳ-kheo trưởng lão thượng tôn không có
pháp này, thì thật không còn điều nào khác hơn để cho các
vị phạm hạnh kính mến tôn trọng. Chỉ còn lấy sự già
nua, tóc bạc, răng rụng, sức khỏe ngày càng suy tàn, thân
còm chân vẹo, cơ thể nặng nề, hơi thở đưa lên, chống
gậy mà đi, thịt teo, da nhăn, xù xì như cây gai, các căn rời
rụng, nhan sắc xấu xí. Vị ấy nhân những điều này được
các vị phạm hạnh kính mến, tôn trọng”.
Đức
Thế Tôn bảo rằng:
“Quả
thật như vậy, quả thật như vậy, nếu Tỳ-kheo trưởng lão
thượng tôn mà không có năm pháp này, thì thật không còn
điều kiện nào khác hơn để cho các vị phạm hạnh kính
mến tôn trọng. Chỉ còn lấy sự già nua, tóc bạc, răng rụng,
sức khỏe ngày càng suy tàn, thân còm chân vẹo, cơ thể nặng
nề, hơi thở đưa lên, chống gậy mà đi, thịt teo, da nhăn,
xù xì như cây gai, các căn rời rụng, nhan sắc xấu xí. Vị
ấy nhân những điều này được các vị phạm hạnh kính
mến, tôn trọng.
“Này
Bạch Tịnh, Tỳ-kheo Xá-lê Tử có đủ năm pháp này, các ngươi
phải kính mến tôn trọng. Vì sao thế?
“Này
Bạch Tịnh, Tỳ-kheo Xá-lê Tử tu tập các giới cấm, thủ
hộ biệt giải thoát luật nghi, lại còn khéo thâu nhiếp các
oai nghi lễ tiết, thấy những tội lỗi nhỏ nhặt cũng thường
sanh tâm lo sợ, thọ trì học giới.
“Lại
nữa, này Bạch Tịnh, Tỳ-kheo Xá-lê Tử học rộng, nghe nhiều,
ghi nhớ không quên, tích lũy kiến thức rộng rãi; những pháp
nào mà khoảng đầu hoàn hảo, khoảng giữa hoàn hảo, khoảng
cuối cùng hoàn hảo, có nghĩa lý, có văn từ, hiển hiện
phạm hạnh, thanh tịnh trọn đủ; học rộng nghe nhiều các
pháp như vậy, học tập nhuần nhuyễn cả ngàn lần, tâm ý
tư duy quán sát, thấy rõ ràng và hiểu thấu sâu xa.
“Lại
nữa, này Bạch Tịnh, Tỳ-kheo Xá-lê Tử có bốán tâm tăng
thượng, sống an lạc trong đời hiện tại, dễ được chớ
không khó.
“Lại
nữa, này Bạch Tịnh, Tỳ-kheo Xá-lê Tử tu hành trí tuệ,
quán sát sự hưng khởi và suy tàn của các pháp, chứng đắc
như thật trí, được sự sáng suốt của Thánh tuệ, phân
biệt rõ ràng, chân chánh dứt hết khổ.
“Lại
nữa, này Bạch Tịnh, Tỳ-kheo Xá-lê Tử đã dứt sạch các
lậu, không còn kết sử, tâm giải thoát, tuệ giải thoát,
ngay trong đời hiện tại tự tri, tự giác, tự tác chứng,
thành tựu và an trụ, ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã
vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’.
“Này
Bạch Tịnh, Tỳ-kheo Xá-lê Tử thành tựu năm pháp này, các
ngươi nên kính mến tôn trọng”.
Đức
Phật thuyết như vậy. Tôn giả Bạch Tịnh và các Tỳ-kheo
sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
Tương đương
Pāli: A. V.166 Nirodha.
Tưởng tri diệt định想
知 滅 定. Pāli:
sañīavedayitanirodha-samāpatti.
Cũng nói là tưởng thọ diệt tận định,
hay diệt tận định.
Hán: đắc
cứu cánh trí得
究 竟 智, chỉ
chứng đắc
A-la-hán quả. Pāli:
aññā-ārādhānā.
Đoàn
thực thiên摶
食 天. Pāli:
Kabalīkārāhārabhakkha-devatā.
Ý sanh thiên意
生 天. Pāli:
manomaya-kāya-devatā.
Ô-đà-di烏
陀 夷. Pāli:
Udayī.
Pāli: Bhagavā
(...): kaṃ pana tvaṃ Udāyi
manomayaṃ kāyaṃ
paccesī
ti? Ye te bhante devāārupino
saññāmayā
ti, Thế Tôn hỏi: ‘Này Udāyi,
ngươi muốn hiểu thân do ý thức tạo thành là cái gì?’
– ‘Bạch Thế Tôn, Đó
là chư Thiên thuộc Vô sắc do tưởng tạo thành’.
Thậm thâm A-tì-đàm甚
深 阿 毗 曇; bản
Pāli tương đương
không đề
cập ý tưởng này.
Bạch Tịnh白
淨. Pāli:
Upavāṇa.
Xem cht.12 kinh 21.
Hán: thiện nhiếp oai nghi lễ tiết 善攝威儀禮節.
Pāli: ācāragocarasampanno, đầy đủ
oai nghi chánh hạnh.
Tứ tăng
thượng tâm四
增 上 心.
Pāli: catunnaṃ
jhānānaṃābhicetasikānaṃ,
bốn thiền, thuộc tăng
thượng tâm.
Hán: hiện pháp lạc cư (=trú)現
法 樂 居.
Pāli: diṭṭhadhammasukhavihāra.
Hán: quán hưng suy pháp 觀興衰法.
Hán: đắc
như thị trí得
如 是 智.