20.
KINH BA-LA-LAO[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật du hóa ở Câu-lệ-sấu[2],
cùng với chúng Đại Tỳ-kheo, đi đến Bắc thôn[3],
trú ở phía Bắc của thôn trong rừng Thi-nhiếp-hòa[4].
Bấy
giờ Ba-la-lao Già-di-ni[5]
nghe rằng: “Sa-môn Cù-đàm thuộc dòng họ Thích, đã từ
bỏ dòng họ Thích, xuất gia học đạo, đang du hóa tại Câu-lệ-sấu
cùng chúng Đại Tỳ-kheo đi đến Bắc thôn, trú ở phía Bắc
của thôn trong rừng Thi-nhiếp-hòa. Vị Sa-môn Cù-đàm ấy
có tiếng tăm lớn, truyền khắp mười phương rằng: ‘Sa-môn
Cù-đàm là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh
Thành, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp
Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu. Vị ấy ở trong thế
gian này giữa chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Phạm chí, từ loài
người cho đến loài trời, tự tri tự giác, tự tác chứng,
thành tựu và an trụ. Pháp mà vị ấy thuyết, khoảng đầu
thiện, khoảng giữa thiện, cứu cánh cũng thiện, có nghĩa,
có văn, hiển hiện phạm hạnh thanh tịnh trọn đủ’. Nếu
gặp được Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác,
để tôn trọng, lễ bái cúng dường, thừa sự, thì sẽ được
nhiều thiện lợi”. Người kia suy nghĩ rằng: “Ta nên đến
yết kiến Sa-môn Cù-đàm để lễ bái, cúng dường”.
Ba-la-lao
Già-di-ni nghe vậy rồi, ra khỏi Bắc thôn, đi về hướng Bắc,
đến rừng Thi-nhiếp-hòa, muốn yết kiết Thế Tôn để lễ
bái cúng dường. Ba-la-lao Già-di-ni từ xa trông thấy Thế Tôn
ở trong rừng cây, đoan nghiêm đẹp đẽ, như mặt trăng giữa
đám tinh tú sáng ngời chói lọi, rực rỡ như tòa núi vàng,
đầy đủ tướng hảo, uy thần vời vợi, các căn tịch tịnh,
không gì ngăn che, thành tựu sự điều ngự, tâm yên tĩnh
lặng. Ba-la-lao Già-di-ni từ xa trông thấy Đức Thế Tôn rồi,
đến trước chỗ Thế Tôn, cùng chào hỏi rồi ngồi xuống
một phía, thưa với Thế Tôn rằng:
“Tôi
nghe Sa-môn Cù-đàm biết huyễn thuật, là nhà huyễn thuật[6].
Thưa Cù-đàm, nếu ai nói như vậy: ‘Sa-môn Cù-đàm biết
huyễn thuật, là nhà huyễn thuật’, người ấy không hủy
báng Sa-môn Cù-đàm chăng? Người ấy có nói đúng sự thật
không? Người ấy nói có đúng pháp chăng? Người ấy nói
đúng pháp và như pháp[7]
chăng? Đối với như pháp, không có sai lầm và không bị chỉ
trích chăng?”
Đức
Thế Tôn đáp:
“Này
Già-di-ni, nếu có ai nói như vầy, ‘Sa-môn Cù-đàm biết huyễn
thuật, là nhà huyễn thuật’, thì người ấy không hủy báng
Sa-môn Cù-đàm, người ấy nói chân thật, ngươi ấy nói đúng
pháp, người ấy nói pháp như pháp, đối với pháp không có
lỗi lầm, không bị chỉ trích. Vì sao thế? Này Già-di-ni,
Ta biết huyễn thuật ấy, nhưng chính Ta không phải là nhà
huyễn thuật”.
Già-di-ni
nói rằng:
“Những
điều các Sa-môn, Phạm chí kia nói là chân thật, nhưng tôi
không tin họ nói rằng ‘Sa-môn Cù-đàm biết huyễn thuật
và là nhà huyễn thuật”.
Thế
Tôn nói:
“Này
Già-di-ni, nếu người nào biết huyễn thuật thì người đó
là nhà huyễn thuật chăng?”
Già-di-ni
thưa rằng:
“Quả
thật vậy, Thế Tôn. Quả thật vậy, Thiện Thệ”.
Thế
Tôn bảo rằng:
“Này
Già-di-ni, ông đừng tự lầm lẫn mà hủy báng Ta. Nếu hủy
báng Ta thì chỉ tự gây tổn hại, có sự não hại, có xúc
phạm, điều mà Hiền Thánh ghét bỏ, và bị tội lớn. Vì
sao thế? Này Già-di-ni, điều ấy thật ra không đúng như lời
ông nói. Này Già-di-ni, ông có nghe Câu-lệ-sấu có binh tốt[8]
chăng?
Già-di-ni
đáp rằng:
“Tôi
nghe rằng có”.
“Này
Già-di-ni, ông nghĩ thế nào, Câu-lệ-sấu có binh tốt ấy
để làm gì?”
Già-di-ni
đáp:
“Thưa
Cù-đàm, để làm thông sứ và giết giặc cướp. Vì việc
đó nên Câu-lệ-sấu nuôi các binh tốt ấy”.
“Này
Già-di-ni, ông nghĩ thế nào, binh tốt Câu-lệ-sấu có giữ
giới cấm hay không giữ giới cấm?”
Già-di-ni
đáp:
“Thưa
Cù-đàm, nếu trên thế gian này có những người không giữ
giới cấm, vẫn không thể quá hơn binh tốt Câu-lệ-sấu.
Vì sao thế? Vì binh tốt Câu-lệ-sấu phạm rất nhiều giới
cấm, chỉ làm các ác pháp”.
Lại
hỏi:
“Ông
thấy như vậy, biết như vậy, ta không hỏi ông. Nếu có người
khác hỏi ông, ‘Vì Già-di-ni biết rằng binh tốt Câu-lệ-sấu
phạm rất nhiều những giới cấm, chỉ làm những ác pháp;
nhân việc đó nên Già-di-ni cũng phạm rất nhiều cấm giới,
chỉ làm các ác pháp’. Nên nói như vậy, là lời nói đúng
sự thật chăng?”
Già-di-ni
đáp:
“Không
phải vậy, thưa Cù-đàm. Vì sao thế? Vì binh tốt Câu-lệ-sấu
có tri kiến khác, có sở nguyện khác, nên binh tốt Câu-lệ-sấu
phạm rất nhiều cấm giới, chỉ làm các ác pháp. Còn tôi
thì rất trì giới, không làm các ác pháp”.
Lại
hỏi:
“Già-di-ni,
ông biết binh tốt Câu-lệ-sấu phạm rất nhiều cấm giới,
chỉ làm các ác pháp, nhưng ông không do đó mà phạm cấm
giới, chỉ làm các ác pháp. Vậy thì vì sao không thể rằng
Như Lai biết huyễn thuật, trong khi chính mình không phải là
nhà huyễn thuật. Vì sao thế? Ta biết huyễn thuật, biết
người huyễn thuật, biết quả báo của huyễn thuật, biết
đoạn trừ huyễn thuật.
“Này
Già-di-ni, Ta cũng biết sát sanh, biết người sát sanh, biết
sự đoạn trừ sát sanh. Này Già-di-ni, Ta biết việc lấy của
không cho, biết người lấy của không cho, biết quả báo việc
lấy của không cho, biết sự đoạn trừ việc lấy của không
cho. Này Già-di-ni, Ta biết việc nói dối, biết người nói
dối, biết quả báo việc nói dối, biết đoạn trừ sự nói
dối. Này Già-di-ni, Ta biết như vậy, thấy như vậy. Ai nói
như vầy: ‘Sa-môn Cù-đàm biết huyễn thuật tức là nhà
huyễn thuật’, nếu người ấy chưa đoạn trừ lời nói
này, mà nghe tâm ấy, dục ấy, nguyện ấy, văn ấy, niệm
ấy, quán ấy, thì trong khoảnh khắc như co duỗi cánh tay,
mạng chung sanh vào địa ngục”.
Già-di-ni
nghe vậy, kinh hãi khủng khiếp, lông trên mình dựng đứng
lên, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ chân Phật,
quỳ mọp, chắp tay hướng về Thế Tôn mà bạch rằng:
“Cù-đàm,
tôi ăn năn tội lỗi. Thiện Thệ, tôi tự thú[9].
Tôi như ngu, như si, như bất định, như bất thiện. Vì sao
thế? Vì tôi nói quấy rằng Sa-môn Cù-đàm là nhà huyễn thuật.
Mong Thiện Thệ cho tôi được ăn năn tội lỗi, thấy tội
thì bày tỏ. Tôi đã ăn năn tội rồi, sẽ giữ gìn không
để tái phạm nữa”.
Thế
Tôn bảo rằng:
“Thật
như vậy, Già-di-ni, ông quả thật ngu, như si, như bất định,
như bất thiện. Vì sao thế? Vì ông đối với Như Lai, Vô
Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, mà nói quấy là nhà huyễn thuật.
Nhưng ông có thể ăn năn tội lỗi, thấy tội thì nên bày
tỏ, giữ gìn không để tái phạm nữa. Như vậy, này Già-di-ni,
nếu có người ăn năn tội lỗi, thấy tội nên bày tỏ, hộ
trì mà không tạo lại nữa, thì trưởng dưỡng Thánh pháp,
không còn có sự sai lầm nữa”.
Lúc
đó Già-di-ni chắp tay hướng về Đức Thế Tôn mà bạch rằng:
“Thưa
Cù-đàm, có Sa-môn, Phạm chí, thấy thế này, nói thế này:
‘Nếu kẻ nào sát sanh, kẻ ấy nhất thiết thọ báo ngay
trong đời này; nhân đó mà sanh ra ưu khổ. Nếu kẻ nào lấy
của không cho, nói dối, kẻ ấy nhất thiết thọ báo; nhân
đó mà sanh ra ưu khổ’. Thưa Sa-môn Cù-đàm, ý Ngài nghĩ
sao?”
Đức
Thế Tôn bảo rằng:
Này
Già-di-ni, nay Ta hỏi ông, tùy sự hiểu biết mà trả lời.
Này Già-di-ni, ý ông nghĩ sao? Nếu trong thôn ấp, hoặc có
một người đầu đội tràng hoa, dùng nhiều loại hương xoa
vào thân, rồi xướng nhạc, ca vũ, tự mình thỏa thích, vui
cười nữ sắc, hoan lạc như vua. Nếu có người hỏi rằng:
‘Người này trước kia làm những gì mà nay đầu đội tràng
hoa, hoặc dùng nhiều loại hương xoa vào thân rồi xướng
nhạc, ca vũ, tự mình thỏa thích, vui cười nữ sắc, hoan
lạc như vua?’ Hoặc có người trả lời rằng: ‘Người
ấy vì Quốc vương mà giết hại kẻ thù. Quốc vương sau
khi vui vẻ liền ban thưởng cho. Do đó người ấy đầu đội
tràng hoa, dùng nhiều loại hương xoa vào thân, rồi xướng
nhạc, ca vũ, tự mình thỏa thích, vui cười nữ sắc, hoan
lạc như vua. “Này Già-di-ni, ông có thấy như vậy, nghe như
vậy chăng?”
Già-di-ni
đáp:
“Tôi
có thấy như vậy, nghe như vậy, Cù-đàm. Tôi đã nghe và sẽ
được nghe nữa”.
“Già-di-ni,
rồi lại thấy Quốc vương bắt bớ tội nhân, trói quặt
hai tay lại, đánh trống, xướng lệnh, kéo ra cửa thành phía
Nam, để ngồi dưới cây nêu cao, rồi chém bêu đầu. Nếu
có người hỏi rằng: ‘Người này phạm tội gì mà bị Quốc
vương giết nhỉ?’ Hoặc có người trả lời rằng: ‘Người
này giết lầm người vô tội trong Vương gia, do đó Quốc
vương ra lệnh hành hình như vậy’. Này Già-di-ni, ông có
thấy như vậy, nghe như vậy chăng?”
Già-di-ni
trả lời:
“Tôi
có thấy như vậy, Cù-đàm, tôi đã nghe và sẽ được nghe
nữa”.
“Này
Già-di-ni, nếu có Sa-môn, Phạm chí, thấy như vậy, nói như
vậy: ‘Nếu có người nào sát sanh người ấy nhất thiết
phải thọ báo ngay trong hiện tại này; nhân đó mà sanh ra
ưu khổ’, thì đó là lời nói chân thật hay lời nói hư
dối?”
Già-di-ni
đáp:
“Đó
là lời nói hư dối, thưa Cù-đàm”.
“Nếu
người ấy nói hư vọng, ông có tin chăng?”
Già-di-ni
đáp:
“Tôi
không tin, thưa Cù-đàm”.
Đức
Thế Tôn khen rằng:
“Lành
thay, Già-di-ni, Ta lại hỏi ông, ông nghĩ thế nào? Nếu trong
thôn ấp, hoặc có người đầu đội tràng hoa, dùng nhiều
thứ hương xoa vào thân, rồi xướng nhạc, ca vũ, tự mình
thỏa thích, vui chơi nữ sắc, hoan lạc như vua. Nếu có người
hỏi rằng: ‘Người này trước kia đã làm những việc gì
mà nay đầu đội tràng hoa, dùng nhiều thứ hương xoa vào
thân, rồi xướng nhạc, ca vũ, tự mình thỏa thích vui chơi
nữ sắc, hoan lạc như vua?’ Hoặc có người trả lời rằng,
“Người ấy ở nước khác, vì lấy của không cho, do đó
người ấy đầu đội tràng hoa, dùng nhiều thứ hương xoa
vào thân, rồi xướng nhạc, ca vũ, tự mình thỏa thích vui
chơi nữ sắc, hoan lạc như vua’. Này Già-di-ni, ông có thấy
như vậy, nghe như vậy chăng?”
Già-di-ni
thưa:
“Tôi
có thấy như vậy, thưa Cù-đàm, tôi đã nghe và sẽ được
nghe nữa”.
“Này
Già-di-ni, rồi lại thấy Quốc vương bắt bớ tội nhân trói
quặt hai tay ra sau, đánh trống, xướng lệnh kéo ra cửa phía
Nam, để ngồi dưới gốc cây nêu cao rồi chém bêu đầu.
Nếu có người hỏi rằng: ‘Người này mắc tội gì mà bị
Quốc vương giết chết?’ Hoặc có người trả lời rằng:
‘Người ấy lấy của không cho trong Vương gia, do đó Quốc
vương ra lệnh hành hình như vậy’. Này Già-di-ni, ông có
thấy như vậy, nghe như vậy chăng?”
Già-di-ni
trả lời rằng:
“Tôi
có thấy như vậy, Cù-đàm, tôi đã nghe và sẽ được nghe
nữa”.
“Này
Già-di-ni, nếu có Sa-môn, Phạm chí thấy và nói như vậy:
‘Nếu có kẻ nào lấy của không cho, kẻ ấy nhất thiết
phải thọ báo ngay trong đời hiện tại này, nhân đó mà sanh
ra ưu khổ’, thì lời nói đó chân thật hay lời nói hư dối?”
Già-di-ni
đáp:
“Đó
là lời nói hư dối, thưa Cù-đàm”.
“Nếu
người ấy nói hư vọng, ông có tin chăng?”
Già-di-ni
đáp:
“Tôi
không tin, thưa Cù-đàm!”
Đức
Thế Tôn khen rằng.
“Lành
thay! Lành thay! Già-di-ni!”
Lại
hỏi Già-di-ni:
“Già-di-ni,
ông nghĩ thế nào, nếu trong thôn ấp hoặc có người đầu
đội tràng hoa, dùng nhiều thứ hương xoa vào thân, rồi xướng
nhạc, ca vũ, tự mình thỏa thích vui chơi nữ sắc, hoan lạc
như vua. Nếu có người hỏi rằng: ‘Người ấy trước kia
làm những việc gì mà nay đầu đội tràng hoa, dùng nhiều
thứ hương xoa vào thân, rồi xướng nhạc ca vũ, tự mình
thỏa thích vui chơi nữ sắc, hoan lạc như vua?’ Hoặc có
người trả lời rằng: ‘Người ấy ca múa để vui giỡn,
cười đùa. Người ấy bằng lời nói dối làm cho Quốc vương
vui vẻ. Sau khi Quốc vương vui vẻ liền ban thưởng cho, do
đó người ấy đầu đội tràng hoa, dùng nhiều thứ hương
xoa vào thân, rồi xướng nhạc, ca vũ, tự mình thỏa thích
vui chơi nữ sắc, hoan lạc như vua’. Này Già-di-ni, ông có
thấy như vậy, nghe như vậy chăng?”
Già-di-ni
trả lời rằng:
“Tôi
có thấy như vậy, Cù-đàm, tôi đã nghe và sẽ được nghe
nữa”.
“Này
Già-di-ni, rồi lại thấy Quốc vương bắt bớ tội nhân, dùng
gậy đánh đến chết, rồi bỏ vào củi cây, chở trên xe
trống đi ra cửa thành phía Bắc, vất vào trong rãnh nước,
nếu có người hỏi rằng: ‘Người ấy mắc tội gì mà bị
quốc vương giết chết đi?’ Hoặc có người trả lời rằng:
‘Người ấy ở trước Quốc vương nói dối là có chứng
đắc, người ấy do lừa gạt Quốc vương bằng lời nói dối
nên bị Quốc vương ra lệnh bắt làm như thế’. Này Già-di-ni,
ông có thấy như vậy, nghe như vậy không?”
Già-di-ni
trả lời rằng:
“Tôi
có thấy vậy, Cù-đàm, tôi đã nghe và sẽ nghe nữa”.
“Này
Già-di-ni, ông nghĩ thế nào, nếu có Sa-môn, Phạm chí thấy
như vậy, nói như vậy: ‘Nếu có người nào nói dối, người
ấy nhất thiết phải thọ báo ngay trong đời hiện tại này,
nhân đó mà sanh ra ưu khổ’, thì lời nói đó là lời nói
chân thật hay hư dối?”
Già-di-ni
đáp:
“Đó
là lời nói hư dối, thưa Cù-đàm”.
“Nếu
người ấy nói hư vọng, ông có tin chăng?”
Già-di-ni
đáp:
“Tôi
không tin, thưa Cù-đàm”.
Đức
Thế Tôn khen rằng:
“Lành
thay! Lành thay! Già-di-ni!”
Lúc
đó, Già-di-ni liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai sửa
áo chắp tay hướng về Thế Tôn mà thưa rằng:
“Kỳ
diệu thay, những điều Cù-đàm nói rất vi diệu, khéo ví
dụ, khéo dẫn chứng. Bạch Cù-đàm, tôi ở trong Bắc thôn
có xây dựng một ngôi nhà cao lớn, sắp đặt giường nệm,
để sẵn đồ chứa nước thắp sáng những ngọn đèn lớn.
Nếu có vị Sa-môn, Phạm chí tinh tấn nào đến nghỉ ở ngôi
nhà cao lớn ấy, tôi sẽ tùy khả năng mà cung cấp những
gì vị ấy cần thiết. Có bốn vị luận sĩ mà sở kiến
khác nhau, cùng đến tập hợp tại ngôi nhà cao lớn ấy. Trong
đó có một vị luận sĩ thấy như vầy, nói như vầy[10]:
‘Không có bố thí, không có trai tếâ, không có chú thuyết,
không có nghiệp thiện, nghiệp ác, không có nghiệp báo thiện
ác, không có đời này đời sau, không có cha, không có mẹ,
trên đời không có bậc chân nhân đi đến thiện xứ, khéo
đi, khéo hướng[11],
tự tri, tự giác, tự chứng ngộ đời này và đời khác[12],
thành tựu và an trụ’.
“Vị
luận sư thứ hai lại có sở kiến trái ngược với sở kiến
của vị luận sư thứ nhất. Vị ấy cũng thấy như vầy,
nói như vầy: ‘Có bố thí, có trai tế, có chú thuyết, có
nghiệp thiện ác, có nghiệp báo thiện ác, có đời này đời
sau, có cha có mẹ có bậc chân nhân trên đời này đi đến
thiện xứ, khéo đi, khéo hướng, tự tri, tự giác, tự chứng
ngộ đời này và đời khác, thành tựu và an trụ’.
“Vị
luận sư thứ ba[13]
thấy như vầy, nói như vầy: ‘Tự mình làm và sai bảo người
khác làm, tự mình chém giết và sai bảo người khác chém
giết, tự mình nấu và sai bảo người khác nấu; ưu sầu[14],
phiền muộn, lo lắng, đấm ngực, áo não, khóc lóc, ngu si;
sát sanh, lấy của không cho, tà dâm, nói dối, uống rượu;
đào vách, mở kho, đến ngõ hẻm khác để ăn cướp[15],
phá làng hại xóm, phá thành, diệt nước; làm như thế không
phải là làm ác. Lại dùng vòng sắt bén như dao cạo, người
ấy đối với tất cả chúng sanh ở trên cõi đời này, trong
vòng một ngày mà bửa, mà cắt, mà chém, mà chặt, mà lột
da, mà lóc xẻ từng mảng thịt, lách từng phần từng khối;
do vậy vẫn không có nghiệp ác, do vậy vẫn không có nghiệp
báo ác. Ở bờ sông Hằng-già phía Nam, giết rồi cắt, rồi
khiến nấu’; và ở bờ sông Hằng-già phía Bắc mà bố thí,
trai tế, chú thuyết. Không do đó mà có tội hay có phước;
không do đó mà có quả báo tội phước. Cấp thí, tự chế
ngự, thủ hộ, nhiếp trì, tán thán, nhiêu ích, ái ngữ lợi
hành, không do đó mà có phước, không do đó mà có quả báo
của phước’.
Luận
sĩ thứ tư lại có sở kiến trái ngược sở kiến vị luận
chủ thứ ba. Vị ấy thấy như vầy, nói như vầy: ‘Tự mình
làm và sai bảo người khác làm, tự mình chém giết và sai
bảo người khác chém giết, tự mình nấu và sai bảo người
khác nấu; ưu sầu, phiền muộn, lo lắng, đấm ngực, áo não,
khóc lóc, ngu si; sát sanh, lấy của không cho, tà dâm, nói dối,
uống rượu; đào vách, mở kho, đến ngõ hẻm khác để ăn
cướp, phá làng hại xóm, phá thành, diệt nước; làm như
thế chính là làm ác. Lại dùng vòng sắt bén như dao cạo,
người ấy đối với tất cả chúng sanh ở trên cõi đất
này, trong vòng một ngày mà bửa, mà cắt, mà chém, mà chặt,
mà lột da, mà lóc xẻ từng mảng thịt, lách từng phần từng
khối; do vậy vẫn không có nghiệp ác, do vậy vẫn không có
nghiệp báo ác. Ở bờ sông Hằng-già phía Nam, giết rồi cắt,
rồi khiến nấu’; và ở bờ sông Hằng-già phía Bắc mà
bố thí, trai tế, chú thuyết. Do đó có tội có phước; do
đó mà có quả báo tội phước. Cấp thí, tự chế, thủ hộ,
nhiếp trì, tán thán, nhiêu ích, ái ngữ, lợi hành, do đó
mà có quả báo tội phước.
“Thưa
Cù-đàm, tôi nghe như vậy liền sanh nghi hoặc: ‘Những vị
Sa-môn, Phạm chí đó, ai nói chân thật, ai nói hư dối?’.”
Đức
Thế Tôn trả lời:
“Này
Già-di-ni, ông chớ sanh nghi hoặc. Vì sao thế? Vì do có nghi
hoặc mà sanh ra do dự. Này Già-di-ni, ông tự mình không có
tịnh trí, để biết là có đời sau hay không có đời sau.
Này Già-di-ni, ông lại cũng không có tịnh trí để biết điều
được làm là ác hay điều được làm là thiện? Này Già-di-ni,
có một pháp định[16]
được gọi là “Viễn ly”. Ông nhờ định ấy sẽ có thể
được chánh niệm, có thể đạt tới nhất tâm; như vậy,
ở trong đời hiện tại ông sẽ đoạn trừ sự nghi hoặc,
và được thăng tấn[17]”.
Lúc
đó Già-di-ni từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai sửa áo,
chắp tay hướng về Đức Thế Tôn mà bạch rằng:
“Thưa
Cù-đàm, thế nào là có một pháp định được gọi là “Viễn
ly”. Tôi nhờ định ấy sẽ có thể được chánh niệm, có
thể đạt tới nhất tâm; như vậy, ở trong đời hiện tại
tôi có thể đoạn trừ sự nghi hoặc, và được thăng tấn[18]?”
Đức
Thế Tôn bảo rằng:
“Thánh
đệ tử đa văn xa lìa sự giết, đoạn trừ sự giết; đoạn
trừ sự lấy của không cho, tà dâm, nói dối, cho đến đoạn
trừ tà kiến và được chánh kiến. Vị ấy ban ngày cày ruộng,
và gieo giống; đến chiều nghỉ ngơi và vào nhà ngồi thiền
định; qua đêm, lúc hừng sáng suy nghĩ như vầy: ‘Ta xa lìa
sự giết, đoạn trừ sự giết; đoạn trừ sự lấy của
không cho, tà dâm, nói dối, cho đến đoạn trừ tà kiến và
được chánh kiến. Vị ấy liền tự thấy: ‘Ta đã đoạn
trừ mười nghiệp đạo ác và niệm mười nghiệp đạo thiện’.
Vị ấy sau khi tự thấy: ‘Ta đã đoạn trừ mười nghiệp
đạo ác và niệm mười nghiệp đạo thiện’, liền sanh ra
hân hoan. Sau khi sanh ra hân hoan liền phát sanh hỷ; sau khi phát
sanh hỷ, thân liền an định; sau khi thân được an định,
thân liền cảm giác lạc. Sau khi thân cảm giác lạc thì được
nhất tâm. Này Già-di-ni, sau khi Thánh đệ tử Đa văn được
nhất tâm rồi thì tâm câu hữu với từ, biến khắp một
phương, thành tựu và an trụ. Cũng thế hai, ba, bốn phương,
tứ duy, thượng hạ, biến khắp tất cả, tâm câu hữu với
từ, không kết không oán, không sân, không nhuế, không não
hại, quảng đại vô biên, vô lượng, khéo tu tập biến mãn
tất cả thế gian, thành tựu và an trụ.
“Vị
ấy suy nghĩ như vầy: “Nếu có Sa-môn, Phạm chí nào thấy
như vầy, nói như vầy: ‘Không có sự bố thí, không có trai
tế, không có chú thuyết, không có nghiệp thiện ác, không
có nghiệp báo thiện ác, không có đời này đời sau, không
có cha, không có mẹ trên đời, không có bậc thiện nhân đi
đến thiện xứ, khéo đi, khéo hướng, tự tri, tự giác, tự
chứng ngộ đời này và đời khác, thành tựu và an trụ’.
Nếu điều vị Sa-môn, Phạm chí kia nói ra là chân thật, ta
không xâm phạm đời, dù sợ hãi hay không sợ hãi[19],
thường thương mến tất cả thế gian. Tâm ta không cùng thế
gian tranh cãi, cũng không có sự hân hoan thô trược. Nay ta
được pháp của bậc Vô thượng, thăng tấn đến trú xứ
an lạc. Đó là pháp định viễn ly. Những gì Sa-môn, Phạm
chí kia nói, không cho là đúng, không cho là sai. Sau khi không
cho là đúng, không cho là sai, liền được nội tâm tĩnh chỉ.
“Này
Già-di-ni, đó là pháp định, được gọi là viễn ly. Ông
có thể nhân định này mà được chánh niệm, mà được nhất
tâm. Như vậy, ông có thể đoạn hết nghi hoặc trong đời
hiện tại mà được thăng tiến.
“Lại
nữa Già-di-ni: Thánh đệ tử đa văn xa lìa sự giết, đoạn
trừ sự giết; đoạn trừ sự lấy của không cho, tà dâm,
nói dối, cho đến đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến.
Vị ấy ban ngày cày ruộng, và gieo giống; đến chiều nghỉ
ngơi và vào nhà ngồi thiền định; qua đêm, lúc hừng sáng
suy nghĩ như vầy: ‘Ta xa lìa sự giết, đoạn trừ sự giết;
đoạn trừ sự lấy của không cho, tà dâm, nói dối, cho đến
đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến. Vị ấy liền tự
thấy: ‘Ta đã đoạn trừ mười nghiệp đạo ác và niệm
mười nghiệp đạo thiện’. Vị ấy sau khi tự thấy: ‘Ta
đã đoạn trừ mười nghiệp đạo ác và niệm mười nghiệp
đạo thiện’, liền sanh ra hân hoan. Sau khi sanh ra hân hoan
liền phát sanh hỷ; sau khi phát sanh hỷ, thân liền an định;
sau khi thân được an định, thân liền cảm giác lạc. Sau
khi thân cảm giác lạc thì được nhất tâm. Này Già-di-ni,
sau khi Thánh đệ tử đa văn được nhất tâm rồi thì tâm
câu hữu với bi, biến khắp một phương thành tựu và an trụ;
cũng thế hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng hạ, biến khắp
tất cả. Tâm câu với bi, không kết, không oán không sân nhuế,
không não hại, quảng đại, vô lượng vô biên, khéo tu tập,
biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ.
“Vị
ấy suy nghĩ như vậy: “Nếu có Sa-môn, Phạm chí nào thấy
như vầy, nói như vầy: ‘Có sự bố thí, có trai tế, có
chú thuyết, có nghiệp thiện ác, có nghiệp báo thiện ác,
có đời này đời sau, có cha, có mẹ trên đời, có bậc thiện
nhân đi đến thiện xứ, khéo đi, khéo hướng, tự tri, tự
giác, tự chứng ngộ đời này và đời khác, thành tựu và
an trụ’. Nếu điều vị Sa-môn, Phạm chí kia nói ra là chân
thật, ta không xâm phạm đời, dù sợ hãi hay không sợ hãi,
thường thương mến tất cả thế gian. Tâm ta không cùng thế
gian tranh cãi, cũng không có sự hân hoan thô trược. Nay ta
được pháp của bậc Vô thượng, thăng tấn đến trú xứ
an lạc. Đó là pháp định viễn ly. Những gì Sa-môn, Phạm
chí kia nói, không cho là đúng, không cho là sai. Sau khi không
cho là đúng, không cho là sai, liền được nội tâm tĩnh chỉ.
“Này
Già-di-ni, đó là pháp định, được gọi là viễn ly. Ông
có thể nhân định này mà được chánh niệm, mà được nhất
tâm; như vậy, ông có thể đoạn hết nghi hoặc trong đời
hiện tại mà được thăng tiến.
“Lại
nữa Già-di-ni, Thánh đệ tử đa văn xa lìa sự giết, đoạn
trừ sự giết; đoạn trừ sự lấy của không cho, tà dâm,
nói dối, cho đến đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến.
Vị ấy ban ngày cày ruộng, và gieo giống; đến chiều nghỉ
ngơi và vào nhà ngồi thiền định; qua đêm, lúc hừng sáng
suy nghĩ như vầy: ‘Ta xa lìa sự giết, đoạn trừ sự giết;
đoạn trừ sự lấy của không cho, tà dâm, nói dối, cho đến
đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến. Vị ấy liền tự
thấy: ‘Ta đã đoạn trừ mười nghiệp đạo ác và niệm
mười nghiệp đạo thiện’. Vị ấy sau khi tự thấy: ‘Ta
đã đoạn trừ mười nghiệp đạo ác và niệm mười nghiệp
đạo thiện’, liền sanh ra hân hoan. Sau khi sanh ra hân hoan
liền phát sanh hỷ; sau khi phát sanh hỷ, thân liền an định;
sau khi thân được an định, thân liền cảm giác lạc. Sau
khi thân cảm giác lạc thì được nhất tâm. Này Già-di-ni,
sau khi Thánh đệ tử đa văn được nhất tâm rồi thì tâm
câu hữu với hỷ, biến khắp một phương thành tựu và an
trụ; cũng thế hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng hạ, biến
khắp tất cả. Tâm câu với hỷ, không kết, không oán, không
sân nhuế, không não hại, quảng đại, vô lượng vô biên,
khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an
trụ.
“Vị
ấy suy nghĩ như vầy: ‘Tự mình làm và sai bảo người khác
làm, tự mình chém giết và sai bảo người khác chém giết,
tự mình nấu và sai bảo người khác nấu; ưu sầu, phiền
muộn, lo lắng, đấm ngực, áo não, khóc lóc, ngu si; sát sanh,
lấy của không cho, tà dâm, nói dối, uống rượu; đào vách,
mở kho, đến ngõ hẻm khác để ăn cướp, phá làng hại xóm,
phá thành, diệt nước; làm như thế không phải là làm ác.
Lại dùng vòng sắt bén như dao cạo, người ấy đối với
tất cả chúng sanh ở trên cõi đất này, trong vòng một ngày
mà bửa, mà cắt, mà chém, mà chặt, mà lột da, mà lóc xẻ
từng mảng thịt, lách từng phần từng khối; do vậy vẫn
không có nghiệp ác, do vậy vẫn không có nghiệp báo ác. Ở
bờ sông Hằng-già phía Nam, giết rồi cắt, rồi khiến nấu’;
và ở bờ sông Hằng-già phía Bắc mà bố thí, trai tế, chú
thuyết. Không do đó mà có tội hay có phước; không do đó
mà có quả báo tội phước. Cấp thí, tự chế ngự, thủ
hộ, nhiếp trì, tán thán, nhiêu ích, ái ngữ lợi hành, không
do đó mà có phước, không do đó mà có quả báo của phước’.
Nếu điều vị Sa-môn, Phạm chí kia nói ra là chân thật, ta
không xâm phạm đời, dù sợ hãi hay không sợ hãi, thường
thương mến tất cả thế gian. Tâm ta không cùng thế gian tranh
cãi, cũng không có sự hân hoan thô trược. Nay ta được pháp
của bậc Vô thượng, thăng tấn đến trú xứ an lạc. Đó
là pháp định viễn ly. Những gì Sa-môn, Phạm chí kia nói,
không cho là đúng, không cho là sai. Sau khi không cho là đúng,
không cho là sai, liền được nội tâm tĩnh chỉ.
“Này
Già-di-ni, đó là pháp định, được gọi là viễn ly. Ông
có thể nhân định này mà được chánh niệm, mà được nhất
tâm. Như vậy, ông có thể đoạn hết nghi hoặc trong đời
hiện tại mà được thăng tiến.
“Lại
nữa Già-di-ni, Thánh đệ tử đa văn xa lìa sự giết, đoạn
trừ sự giết; đoạn trừ sự lấy của không cho, tà dâm,
nói dối, cho đến đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến.
Vị ấy ban ngày cày ruộng, và gieo giống; đến chiều nghỉ
ngơi và vào nhà ngồi thiền định; qua đêm, lúc hừng sáng
suy nghĩ như vầy: ‘Ta xa lìa sự giết, đoạn trừ sự giết;
đoạn trừ sự lấy của không cho, tà dâm, nói dối, cho đến
đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến. Vị ấy liền tự
thấy: ‘Ta đã đoạn trừ mười nghiệp đạo ác và niệm
mười nghiệp đạo thiện’. Vị ấy sau khi tự thấy: ‘Ta
đã đoạn trừ mười nghiệp đạo ác và niệm mười nghiệp
đạo thiện’, liền sanh ra hân hoan. Sau khi sanh ra hân hoan
liền phát sanh hỷ; sau khi phát sanh hỷ, thân liền an định;
sau khi thân được an định, thân liền cảm giác lạc. Sau
khi thân cảm giác lạc thì được nhất tâm. Này Già-di-ni,
sau khi Thánh đệ tử đa văn được nhất tâm rồi thì tâm
câu hữu với xả, biến khắp một phương thành tựu và an
trụ; cũng thế hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng hạ, biến
khắp tất cả. Tâm câu với xả, không kết, không oán, không
sân nhuế, không não hại, quảng đại, vô lượng vô biên,
khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an
trụ.
“Vị
ấy suy nghĩ như vầy: ‘Tự mình làm và sai bảo người khác
làm, tự mình chém giết và sai bảo người khác chém giết,
tự mình nấu và sai bảo người khác nấu; ưu sầu, phiền
muộn, lo lắng, đấm ngực, áo não, khóc lóc, ngu si; sát sanh,
lấy của không cho, tà dâm, nói dối, uống rượu; đào vách,
mở kho, đến ngõ hẻm khác để ăn cướp, phá làng hại xóm,
phá thành, diệt nước; làm như thế thật sự là làm ác.
Lại dùng vòng sắt bén như dao cạo, người ấy đối với
tất cả chúng sanh ở trên cõi đất này, trong vòng một ngày
mà bửa, mà cắt, mà chém, mà chặt, mà lột da, mà lóc xẻ
từng mảng thịt, lách từng phần từng khối; do vậy có nghiệp
ác, do vậy có nghiệp báo ác. Ở bờ sông Hằng-già phía Nam,
giết rồi cắt, rồi khiến nấu; và ở bờ sông Hằng-già
phía Bắc mà bố thí, trai tế, chú thuyết. Do đó mà có tội
hay có phước; do đó mà có quả báo tội phước. Cấp thí,
tự chế ngự, thủ hộ, nhiếp trì, tán thán, nhiêu ích, ái
ngữ, lợi hành; do đó mà có phước, do đó mà có quả báo
của phước’. Nếu điều vị Sa-môn, Phạm chí kia nói ra
là chân thật, ta không xâm phạm đời, dù sợ hãi hay không
sợ hãi, thường thương mến tất cả thế gian. Tâm ta không
cùng thế gian tranh cãi, cũng không có sự hân hoan thô trược.
Nay ta được pháp của bậc Vô thượng, thăng tấn đến trú
xứ an lạc. Đó là pháp định viễn ly. Những gì Sa-môn, Phạm
chí kia nói, không cho là đúng, không cho là sai. Sau khi không
cho là đúng, không cho là sai, liền được nội tâm tĩnh chỉ.
“Này
Già-di-ni, đó là pháp định, được gọi là viễn ly. Ông
có thể nhân định này mà được chánh niệm, mà được nhất
tâm. Như vậy, ông có thể đoạn hết nghi hoặc trong đời
hiện tại mà được thăng tiến”.
Khi
Phật nói bài pháp ấy xong, Già-di-ni viễn ly trần cấu, phát
sanh con mắt thanh tịnh thấy rõ các pháp. Lúc đó, Già-di-ni
thấy pháp, chứng pháp, giác ngộ pháp bạch tịnh, đoạn nghi,
vượt qua hoặc[20],
không còn tôn sùng ai khác, không còn do ai khác, không còn do
dự, đã trụ nói quả chứng đạt, được vô sở úy đối
với giáo pháp của Thế Tôn, liền từ chỗ ngồi đứng dậy,
cúi đầu lễ dưới chân Phật mà bạch rằng.
“Bạch
Đức Thế Tôn, con từ nay xin quy y Phật, quy y Pháp và Chúng
Tỳ-kheo; cúi mong Đức Thế Tôn nhận con làm Ưu-bà-tắc; bắt
đầu từ hôm nay, trọn đời quy y cho đến khi mạng chung”.
Phật
thuyết như vậy. Ba-la-lao Già-di-ni và các Tỳ-kheo sau khi nghe
Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Chú thích
[1]<![endif]>
Tương đương
Pāli:
S.42.13. Pāṭali-sutta.
[2]
Câu-lệ-sấu拘
麗 瘦. Pāli:
Koliyesu, giữa những người Koliyā,
một bộ tộc theo thể chế cộng hòa trong thời Phật, cư
ngụ tại làng Rāmagama
trên bờ sông Hằng, và phần khác sống tại Devadaha, lãnh
thổ của họ và của giòng Sakya được
chia đôi
bằng sông Rohinin và một cuộc chiến đẫm
máu sắp xảy ra, nếu không có sự can thiệp của Đức
Phật.
[3]
Bắc thôn北
村. Pāli:
Uttara, tên thôn ở trong Koliyā.
[4]
Thi-nhiếp-hòa lâm尸
攝 惒 林. Pāli:
Simsapavana.
[5]Ba-la-lao
Già-di-ni波
羅 牢 伽 彌 尼. Pāli:
Pātaliya-gāminī
thôn trưởng Pātaliya.
[6]
Hán: tri huyễn thị huyễn知幻是幻.
Pāli:
(...) māyaṃ
jānatī
ti (...) māyavī
ti, (Sa-môn Gotama) biết huyễn thuật, (vậy Gotama là) nhà huyễn
thuật.
[7]
Hán: pháp như pháp法
如 法. Pāli:
dhammassa cānudhamma,
và tùy pháp của pháp, chỉ những vấn đề
liên hệ đến
pháp.
[8]
Hán: tốt卒.
Pāli:
lambacūlake
bhaṭte, người làm thuê có lọn tóc buông thỏng.
[9]
Hán: tự thú自
首. Bản
Cao-li: tự tích自昔(từ
trước).
[10]
Thuyết đoạn
diệt (uccheda-vāda)
của Ajita Kesa-kambāli.
Xem D.2 Sāmaññaphala-sutta;
No.1(21), Trường A-hàm “Kinh số 14, Phạm Động), Đại
1, tr.88.
[11]
Hán: thiện khứ thiện hướng 善去善向.
Pāli:
sammagata, sammā-paṭippanna, chân
chánh hành trì (tám Thánh đạo),
chân chánh thú hướng (nhắm đếùn
Niết-bàn).
[12]
Pāli:
na (...) ye imañ ca lokaṃ parañ ca lokaṃ sayaṃ abhiñīa
saccchikatvā
pavedenti, “không có những vị sau khi tự mình thực chứng
về thế giới này và thế giới khác rồi thuyết minh lại”.
[13]
Thuyết vô tác dụng (akiriya-vāda)
của Pūrana
Kassapa, Pāli,
D. 2. Sāmaññaphala-sutta;
No.1(21), Trường A-hàm “Kinh số 14, Phạm Động), Đại
1, tr.88.
[14]
Tự mình hay khiến người khác; đoạn
sau, văn
nghĩa tương tợ.
[15]
Hán: chí tha hạng mạch至
他 巷 陌. (bản
Cao-li: kiếp 劫).
Có lẽ Pāli:
paripanthe (Hán đọc:
parapanthe) tiṭihato, chận đường ăn
cướp.
[16]
Hán: hữu pháp chi định 有法之定.
Pāli:
atthi... Dhammasamādhi.
[17]
Tham chiếu Pāli:
atthi gāmaṇi
dhammasamādhi
tatra ce tvaṃ cittasamādhiṃ
paṭilabeyyāsi
evaṃ tvaṃ imaṃ kaṅkhādhammam
pajaheyyāsi,
“Này thôn trưởng, có pháp định
(pháp tam-muội), mà nếu trong đó
ngươi có thể đạt được
tâm định
như vậy ngươi có thể đoạn
trừ pháp nghi hoặc”.
[18]
Hán: thăng
tấn昇
進.
Pāli:
sagga, sanh lên trên; sanh thiên.
[19]
Hán: bố dữ bất bố怖與不怖,
chỉ người run sợ tức kẻ yếu, và người vững vàng tức
kẻ mạnh. Pāli:
tasaṃ vā
thāvaraṃ.
[20]
Hán: đoạn
nghi độ
hoặc斷
疑 度 惑. Pāli:
tiṇṇa-vicikiccho vigata-kathaṃkatho, vượt qua hoài nghi, dứt
trừ do dự.