19.
KINH NI-KIỀN[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật du hóa tại Thích-ki-sấu[2],
trong Thiên ấp[3].
Bấy
giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Các
Ni-kiền[4]
thấy như vậy, nói như vậy: ‘Những gì mà con người cảm
thọ[5]
đều do nhân đã tạo tác từ trước[6].
Nếu những nghiệp cũ của chúng do nhân khổ hạnh mà diệt
và không tạo tác cái mới nữa, thì các nghiệp ấy dứt sạch.
Các nghiệp đã dứt sạch thì các khổ được dứt sạch.
Các khổ đã được dứt sạch thì đã đạt đến khổ biên[7]’.
“Ta
liền đến các vị ấy; đến rồi liền hỏi:
“–
Này các Ni-kiền, phải chăng các vị thấy như vầy, nói như
vầy: ‘Những gì mà con người cảm thọ đều do nhân đã
tạo tác từ trước. Nếu những nghiệp cũ của chúng do nhân
khổ hạnh mà diệt và không tạo tác cái mới nữa, thì các
nghiệp ấy dứt sạch. Các nghiệp đã dứt sạch thì các khổ
được dứt sạch. Các khổ đã được dứt sạch thì đã
đạt đến khổ biên?’
“Họ
trả lời rằng:
“–
Đúng như vậy, Cù-đàm.
“Ta
lại hỏi các vị Ni-kiền kia rằng:
“–
Các vị tự có tịnh trí hay không, để biết rằng, trước
kia ta có hay không có? Trước kia ta tạo ác hay không tạo ác?
Ta chừng ấy khổ đã diệt tận, hay chừng ấy khổ chưa diệt
tận; và nếu đã diệt tận thì sẽ được đã diệt tận
vĩnh viễn[8]?
Chính ngay trong đời này mà đoạn các pháp bất thiện và
tạo tác các thiện pháp, tu tập và tác chứng chăng?’
“Họ
trả lời rằng:
“–
Không phải vậy, Cù-đàm!
“Ta
lại hỏi các Ni-kiền kia rằng:
“–
Các vị tự mình không có tịnh trí để biết rằng: ‘Trước
kia ta có hay không có? Trước kia ta tạo ác hay không tạo ác?
Ta chừng ấy khổ đã diệt tận, hay chừng ấy khổ chưa diệt
tận; và nếu đã diệt tận thì sẽ được đã diệt tận
vĩnh viễn? Chính ngay trong đời này mà đoạn các pháp bất
thiện và tạo tác các thiện pháp, tu tập và tác chứng chăng?’
Nhưng các vị lại nói rằng: ‘Những gì mà con người cảm
thọ đều do nhân đã tạo tác từ trước. Nếu những nghiệp
cũ của chúng do nhân khổ hạnh mà diệt và không tạo tác
cái mới nữa, thì các nghiệp ấy dứt sạch. Các nghiệp đã
dứt sạch thì các khổ được dứt sạch. Các khổ đã được
dứt sạch thì đã đạt đến khổ biên’.
“–
Này các vị Ni-kiền, nếu các vị tự có tịnh trí để biết
rằng: ‘Trước kia ta có hay không có? Trước kia ta tạo ác
hay không tạo ác? Ta chừng ấy khổ đã diệt tận, hay chừng
ấy khổ chưa diệt tận; và nếu đã diệt tận thì sẽ được
đã diệt tận vĩnh viễn? Chính ngay trong đời này mà đoạn
các pháp bất thiện và tạo tác các thiện pháp, tu tập và
tác chứng chăng?’ Thì này các Ni-kiền, các vị mới có thể
nói như vầy: ‘Những gì mà con người cảm thọ đều do
nhân đã tạo tác từ trước. Nếu những nghiệp cũ của chúng
do nhân khổ hạnh mà diệt và không tạo tác cái mới nữa,
thì các nghiệp ấy dứt sạch. Các nghiệp đã dứt sạch thì
các khổ được dứt sạch. Các khổ đã được dứt sạch
thì đã đạt đến khổ biên’.
“–
Này Ni-kiền, cũng như có người mà thân thể bị trúng tên
độc. Vì trúng tên độc nên rất đau đớn. Người ấy được
quyến thuộc yêu mến xót thương, muốn đem lại sự thiện
ích, an ổn, nên lập tức mời vị y sư nhổ tên đến[9].
Vị y sư liền lấy dao bén để giải phẫu vết thương; do
sự phẫu thuật vết thương nên lại rất đau đớn. Sau khi
giải phẫu vết thương, liền tìm mũi tên[10];
khi tìm mũi tên, lại càng rất đau đớn. Tìm được mũi tên,
liền lập tức nhổ ra; lúc nhổ ra y lại càng đau đớn thêm.
Nhổ mũi tên ra rồi, đậy vết thương lại và băng bó. Khi
băng bó vết thương, lại càng đau đớn hơn. Sau khi nhổ được
mũi tên ra, người ấy khỏe mạnh, không bệnh hoạn, các căn
không hư hoại, bình phục như cũ.
“–
Này các Ni-kiền, người ấy có sẵn khôn ngoan nên liền suy
nghĩ như vầy: ‘Ta trước kia bị trúng tên độc. Vì trúng
tên độc nên rất đau đớn. Ta được quyến thuộc yêu mến
xót thương, muốn đem lại sự thiện ích, an ổn, nên lập
tức mời vị y sư nhổ tên đến. Vị y sư liền lấy dao bén
để giải phẫu vết thương; do sự phẫu thuật vết thương
nên lại rất đau đớn. Sau khi giải phẫu vết thương, liền
tìm mũi tên; khi tìm mũi tên, lại càng rất đau đớn. Tìm
được mũi tên, liền lập tức nhổ ra; lúc nhổ ra lại càng
đau đớn thêm. Nhổ mũi tên ra rồi, đậy vết thương lại
và băng bó. Khi băng bó vết thương, lại càng đau đớn hơn.
Ta sau khi mổ mũi tên ra rồi, được khỏe mạnh, không bệnh
hoạn, các căn không hư hoại, trở lại bình thường như cũ’.
“–
Cũng vậy, này Ni-kiền, nếu các vị có tịnh trí, vậy có
biết rằng: ‘Trước kia ta có hay không có, trước kia ta tạo
ác hay không tạo ác? Ta bị chừng ấy khổ là hết hay bị
chừng ấy khổ vẫn chưa hết. Nếu hết rồi sẽ được hết
khổ vĩnh viễn? Chính ngay trong đời này mà đoạn các pháp
bất thiện và tạo được các thiện pháp tu tập và tác chứng
chăng?’ Thì này các Ni-kiền, các vị mới có thể nói rằng:
‘Những gì mà con người cảm thọ đều do nhân đã tạo
tác từ trước. Nếu những nghiệp cũ của chúng do nhân khổ
hạnh diệt mà không tạo nghiệp mới nữa, thì các nghiệp
ấy sẽ chấm dứt. Các nghiệp đã chấm dứt thì các khổ
sẽ chấm dứt, các khổ đã được chấm dứt thì đã đạt
đến khổ biên’.
“Ta
hỏi như vậy mà không thấy các Ni-kiền có thể trả lời
Ta rằng: ‘Này Cù-đàm, đúng như vậy’ hay ‘không đúng
như vậy’.
“Lại
nữa, Ta hỏi các Ni-kiền rằng:
“–
Nếu các vị Ni-kiền có sự tinh cần bậc thượng, có sự
khổ hành bậc thượng[11];
bấy giờ các Ni-kiền có phát sanh sự khổ bậc thượng[12]
chăng?
“Họ
trả lời Ta rằng:
“–
Đúng vậy, Cù-đàm.
“–
Nếu có sự tinh cần bậc trung, có sự khổ hành bậc trung;
bấy giờ các Ni-kiền có phát sanh sự khổ bậc trung chăng?
“Họ
trả lời Ta rằng:
“–
Đúng vậy, Cù-đàm.
“–
Nếu có sự tinh cần bậc hạ, có sự khổ hành bậc hạ;
bấy giờ các Ni-kiền có phát sanh sự khổ bậc hạ chăng?
“Họ
trả lời Ta rằng:
“–
Đúng vậy, Cù-đàm.
“–
Như vậy là, nếu các vị Ni-kiền có sự tinh cần bậc thượng,
có sự khổ hành bậc thượng; bấy giờ các Ni-kiền có phát
sanh sự khổ bậc thượng. Nếu có sự tinh cần bậc trung,
có sự khổ hành bậc trung; bấy giờ các Ni-kiền có phát
sanh sự khổ bậc trung. Nếu có sự tinh cần bậc hạ, có
sự khổ hành bậc hạï; bấy giờ các Ni-kiền có phát sanh
sự khổ bậc hạ.
“Nếu
giả sử các Ni-kiền có sự tinh cần bậc thượng và khổ
hành bậc thượng, bấy giờ các Ni-kiền ấy dập tắt sự
khổ bậc thượng. Có sự tinh cần bậc trung và khổ hành
bậc trung, bấy giờ các Ni-kiền ấy dập tắt sự khổ bậc
trung. Có sự tinh cần bậc hạ và khổ hành bậc hạ, bấy
giờ các Ni-kiền ấy dập tắt sự khổ bậc hạ. Hoặc làm
như vậy, hoặc không làm như vậy, mà dập tắt khổ cùng
cực và các nỗi khổ rất nặng nề, thì nên biết các Ni-kiền
ngay trong đời này mà gây ra khổ. Nhưng các Ni-kiền bị si
mê che lấp, bị si mê trói buộc, nên nói thế này: ‘Những
gì mà con người cảm thọ đều do nhân đã tạo tác từ trước.
Nếu những nghiệp cũ của chúng do nhân khổ hạnh diệt mà
không tạo nghiệp mới nữa, thì các nghiệp ấy sẽ chấm
dứt. Các nghiệp đã chấm dứt thì các khổ sẽ chấm dứt,
các khổ đã được chấm dứt thì đã đạt đến khổ biên’.
“Ta
hỏi như vậy mà không thấy các Ni-kiền có thể trả lời
Ta rằng: ‘Này Cù-đàm, đúng như vậy’ hay ‘không đúng
như vậy’.
“Lại
nữa, Ta hỏi các Ni-kiền rằng:
“–
Các vị Ni-kiền, nếu có nghiệp mang lại lạc báo[13]
thì nghiệp ấy có thể nào nhân sự tinh cần và nhân sự
khổ hành mà chuyển thành khổ báo chăng? Họ trả lời Ta
rằng:
“–
Không thể, thưa Cù-đàm!
“–
Các vị Ni-kiền, nếu có nghiệp mang lại khổ báo[14]
thì nghiệp ấy có thể nào nhân sự tinh cần và nhân sự
khổ hạnh mà chuyển thành lạc báo chăng?
“Họ
trả lời Ta rằng:
“–
Không thể, thưa Cù-đàm!
“–
Các vị Ni-kiền, nếu có nghiệp báo trong đời hiện tại[15],
thì nghiệp ấy có thể nào nhân sự tinh cần và nhân sự
khổ hành ấy mà chuyển thành quả báo đời sau chăng?
“Họ
trả lời Ta rằng:
“–
Không thể, thưa Cù-đàm!
“–
Các vị Ni-kiền, nếu có nghiệp báo đời sau[16]
thì nghiệp ấy có thể nào nhân sự tinh cần và nhân sự
khổ hành mà chuyển thành quả báo đời hiện tại chăng?
“Họ
trả lời Ta rằng:
“–
Không thể, thưa Cù-đàm!
“–
Các vị Ni-kiền, nếu có nghiệp báo không chín[17],
nghiệp ấy có thể nào nhân sự tinh cần và nhân sự khổ
hạnh mà chuyển thành quả báo chín[18]
chăng?
“Họ
trả lời Ta rằng:
“–
Không thể, thưa Cù-đàm!
“–
Các vị Ni-kiền, đó là lạc nghiệp báo, nghiệp ấy không
thể nhân sự tinh cần và nhân sự khổ hành, mà chuyển thành
khổ báo được. Này các Ni-kiền, khổ báo nghiệp; nghiệp
ấy không thể nhân sự tinh cần hay nhân sự khổ hành mà
chuyển thành lạc báo được. Này các Ni-kiền,
hiện báo nghiệp; nghiệp ấy không thể nhân sự tinh tấn
và nhân sự khổ hạnh mà chuyển thành hậu báo được. Này
các Ni-kiền, sanh nghiệp báo; nghiệp ấy không thể nhân sự
tinh cần và nhân sự khổ hạnh mà chuyển thành hiện báo
được. Này các Ni-kiền, nghiệp không chín, nghiệp ấy không
thể nhân sự tinh cần và nhân sự khổ hạnh mà chuyển thành
quả báo chín. Này các Ni-kiền, nghiệp báo chín; nghiệp ấy
không thể nhân sự tinh cần và nhân sự khổ hạnh mà chuyển
đổi thành khác đi được. Vì vậy, này các Ni-kiền, sự
nỗ lực của quý vị là hư vọng[19],
sự tinh cần ấy là trống rỗng, chẳng đạt được gì cả[20].
“Các
Ni-kiền ấy liền trả lời Ta rằng:
“Thưa
Cù-đàm, chúng tôi có tôn sư tên là Thân Tử Ni-kiền[21]
có nói thế này: ‘Các Ni-kiền, nếu các ngươi trước kia
đã tạo tác ác nghiệp; những nghiệp ấy đều có thể nhân
sự khổ hành này mà bị diệt tận. Nếu nay hộ trì thân,
khẩu, ý; nhân đó không còn tạo ác nghiệp nữa’.
“Ta
lại hỏi các Ni-kiền kia rằng:
“–
Các vị tin tôn sư Thân Tử Ni-kiền, mà không chút nghi ngờ
sao?
“Họ
trả lời ta rằng:
“–
Cù-đàm, chúng tôi tin tôn sư Thân Tử Ni-kiền, không hề có
nghi hoặc.
“Ta
lại hỏi các Ni-kiền kia rằng:
“–
Có năm pháp đem lại hai quả báo trong đời này. Đó là tín,
lạc, văn, niệm, kiến thiện quán[22].
Các Ni-kiền, có phải chăng người ta tự có sự hư dối mà
nói rằng: ‘Điều này đáng tin, đáng nghe theo, đáng suy ngẫm,
đáng chiêm nghiệm kỹ[23]?’
Họ trả lời Ta rằng:
“–
Đúng như vậy, thưa Cù-đàm!
“Ta
lại bảo các Ni-kiền kia rằng:
“–
Đó là lời dối trá, sao đáng tin, sao đáng nghe theo, sao đáng
suy ngẫm, sao đáng chiêm nghiệm? Nghĩa là, người ta tự có
sự hư dối mà nói rằng: ‘Điều này đáng tin, đáng nghe
theo, đáng suy ngẫm, đáng chiêm nghiệm kỹ’.
“Nếu
các Ni-kiền nói như thế thì đối với pháp như thật có
năm điều đáng khiển trách[24],
chất vấn, là đáng ghê tởm[25].
Những gì là năm?
“Nay
những điều khổ, lạc mà chúng sanh này cảm thọ đều do
sự tạo tác trước kia[26]
Nếu đúng như vậy thì các Ni-kiền trước kia tạo các ác
nghiệp. Bởi thế nên nay các Ni-kiền phải thọ khổ cực
trọng đại. Đó là điều đáng ghê tởm thứ nhất của các
Ni-kiền.
“Lại
nữa, chúng sanh lãnh thọ sự khổ vui đều do sự hội hợp[27].
Nếu đúng như vậy thì các vị vốn hội hợp các điều ác.
Bởi thế nên nay các Ni-kiền phải thọ khổ cực trọng đại.
Đó là điều đáng ghê tởm thứ hai của các Ni-kiền.
“Lại
nữa, chúng sanh lãnh thọ sự khổ vui đều do định mạng[28].
Nếu đúng như vậy thì các Ni-kiền có định mạng ác. Bởi
vậy cho nên nay các Ni-kiền phải thọ khổ cực trọng đại.
Đó là điều đáng ghê tởm thứ ba của các Ni-kiền.
“Lại
nữa, chúng sanh lãnh thọ sự khổ vui đều do kiến[29].
Nếu đúng như vậy thì các Ni-kiền vốn có ác kiến. Bởi
vậy cho nên nay các Ni-kiền phải thọ khổ cực trọng đại.
Đó là điều đáng ghê tởm thứ tư của các Ni-kiền.
“Lại
nữa, chúng sanh lãnh thọ sự khổ vui đều do Tôn hựu tạo[30].
Nếu đúng như vậy thì các Ni-kiền vốn có một Tôn hựu
hung ác. Bởi vậy cho nên nay các Ni-kiền phải thọ khổ cùng
cực. Đó là điều đáng ghê tởm thứ năm của các Ni-kiền.
“Nếu
các Ni-kiền vốn do tạo tác nghiệp ác hội hợp, ác định
mạng, ác kiến, ác Tôn hựu, vì thế mà các Ni-kiền nay phải
lãnh thọ khổ cực trọng đại. Đó là vì những việc ấy
nên các Ni-kiền là những người đáng ghê tởm.
“Pháp
mà ta tự tri, tự giác và nói cho các vị, dù là Sa-môn, Phạm
chí, hoặc Thiên, Ma, Phạm và những kẻ khác trên thế gian
đều không thể hàng phục được, đều không thể chế ngự
được.
“Thế
nào là pháp mà ta tự tri, tự giác và nói cho các vị, không
thể bị Sa-môn, Phạm chí, hoặc Thiên, Ma, Phạm và những
kẻ khác trên thế gian có thể khuất phục được? Có thể
làm cho ô uế được, và có thể chế ngự được?
“Nếu
có Tỳ-kheo xả bỏ thân nghiệp bất thiện để tu thiện nghiệp
nơi thân; xả bỏ khẩu, ý nghiệp bất thiện, tu thiện nghiệp
nơi khẩu, ý. Vị đó đối với sự khổ đời vị lai liền
tự biết ta không có khổ đời vị lai, được sự an lạc
như pháp mà không xả bỏ[31].
Vị ấy hoặc muốn đoạn trừ đối với nguyên nhân của
khổ do sự tập hành bằng dục, hoặc muốn nỗ lực đoạn
trừ đối với nguyên nhân của khổ do sự tập hành bằng
xả dục[32].
Vị ấy nếu muốn nỗ lực đoạn trừ đối với nguyên nhân
của khổ do tập hành bằng dục, vị ấy tu tập sự tập
hành bởi dục ấy[33]
và sau khi đã nỗ lực thành tựu[34],
sự khổ liền chấm dứt. Vị ấy nếu muốn đoạn trừ đối
với nguyên nhân của khổ bằng sự tập hành bởi xả dục,
tức tu tập sự tập hành bởi xả dục ấy, và sau khi nỗ
lực đã thành tựu, sự khổ liền chấm dứt.
“Bấy
giờ nếu Tỳ-kheo ấy suy nghĩ như thế này: ‘Tùy theo sự
tạo tác, tùy theo sự thực hành mà pháp bất thiện sanh khởi,
thiện pháp bị tiêu diệt. Nếu tự tinh cần khổ hạnh[35]
mà pháp bất thiện bị tiêu diệt, thiện pháp sinh khởi, thì
ta hãy tự tinh cần khổ hạnh ấy[36]’.
Rồi vị ấy tự tinh cần khổ hạnh. Sau khi đã tinh cần khổ
hạnh, pháp bất thiện bị tiêu diệt, thiện pháp sanh khởi.
Bấy giờ vị ấy không còn tinh cần khổ hạnh nữa. Vì sao
thế? Này các Tỳ-kheo, những gì cần phải làm trước đó,
nay mục đích đã thành tựu, nếu còn tinh cần khổ hạnh,
việc ấy không xảy ra.
“Này
Tỳ-kheo, cũng như người thợ làm tên, dùng kềm để uốn
tên[37].
Khi cây tên đã thẳng thì không còn dùng kềm nữa. Vì sao
thế? Vì việc phải làm trước đó nay đã xong rồi, nếu
còn dùng kềm nữa, việc ấy không đúng.
“Cũng
vậy, Tỳ-kheo suy nghĩ như thế này: ‘Tùy theo sự tạo tác,
tùy theo sự thực hành mà pháp bất thiện sanh khởi, thiện
pháp bị tiêu diệt. Nếu tự tinh cần khổ hạnh mà pháp bất
thiện bị tiêu diệt, thiện pháp sinh khởi, thì ta hãy tự
tinh cần khổ hạnh ấy’. Rồi vị ấy tự tinh cần khổ
hạnh. Sau khi đã tinh cần khổ hạnh, pháp bất thiện bị
tiêu diệt, thiện pháp sanh khởi. Bấy giờ vị ấy không còn
tinh cần khổ hạnh nữa. Vì sao thế? Này các Tỳ-kheo, những
gì cần phải làm trước đó, nay mục đích đã thành tựu,
nếu còn tinh cần khổ hạnh việc ấy không đúng.
“Này
Tỳ-kheo, cũng như có người thương nhớ, say đắm, trông chờ
săn đón một người nữ kia, nhưng người nữ ấy lại nói
chuyện với một người khác, thăm hỏi lẫn nhau, qua lại
chung chạ. Người ấy do đó mà thân tâm phát sinh khổ não,
buồn rầu không?”
Tỳ-kheo
đáp:
“Thật
như vậy, bạch Thế Tôn!”
“Vì
sao thế? Vì người kia thương nhớ say đắm và hết sức trông
chờ săn đón nữ nhân mà nữ nhân ấy lại nói chuyện với
người khác, thăm hỏi lẫn nhau, qua lại chung chạ, thân tâm
người ấy làm sao khỏi sanh ra khổ não buồn rầu.
“Này
Tỳ-kheo, giả sử người kia suy nghĩ thế này: Ta thương nhớ
săn đón suông người nữ kia, nhưng người nữ ấy lại nói
chuyện với người khác, thăm hỏi lẫn nhau, qua lại chung
chạ. Nay ta có nên vì việc ấy tự gây khổ não và tự gây
ưu phiền mà dứt trừ sự thương nhớ say đắm người nữ
kia chăng?’ Người ấy sau đó vì sự tự gây khổ, tự gây
sầu não liền dứt trừ sự thương nhớ say đắm người nữ
ấy? Nếu người nữ kia vẫn còn nói chuyện với người khác,
thăm hỏi lẫn nhau, qua lại chung chạ, người ấy sau đó có
thể nào sẽ còn sanh ra khổ não, rất buồn rầu chăng?”
Tỳ-kheo
đáp:
“Không
còn nữa, bạch Thế Tôn”.
“Vì
sao thế? Vì người ấy đối với nữ nhân kia không còn tình
thương nhớ say đắm nữa. Giả sử nữ nhân kia vẫn còn nói
chuyện với người khác, thăm hỏi lẫn nhau, qua lại chung
chạ; nếu cho rằng người kia vì thế mà thân tâm lại còn
sanh khởi khổ não, rất buồn rầu, điều ấy không đúng.
“Cũng
thế, bấy giờ Tỳ-kheo suy nghĩ thế này: ‘Tùy theo sự tạo
tác, tùy theo sự thực hành mà pháp bất thiện sanh khởi,
thiện pháp bị tiêu diệt. Nếu tự tinh cần khổ hạnh mà
pháp bất thiện bị tiêu diệt, thiện pháp sinh khởi, thì
ta hãy tự tinh cần khổ hạnh ấy’. Rồi vị ấy tự tinh
cần khổ hạnh. Sau khi đã tinh cần khổ hạnh, pháp bất thiện
bị tiêu diệt, thiện pháp sanh khởi. Bấy giờ vị ấy không
còn tinh cần khổ hạnh nữa. Vì sao thế? Này các Tỳ-kheo
những gì cần phải làm trước đó, nay mục đích đã thành
tựu, nếu còn tinh cần khổ hạnh việc ấy không đúng.
“Vị
ấy lại nghĩ như thế này: ‘Nếu có những nguyên nhân để
đoạn trừ các khổ não kia, ta liền đã đoạn trừ rồi,
nhưng đối với dục ta vẫn còn như cũ chớ chưa đoạn được.
Nay ta hãy tìm cách đoạn được dục. Vị ấy vì để đoạn
dục, bèn sống cô đôïc, ẩn dật nơi rừng vắng, hoặc đến
dưới bóng cây, nơi vắng vẻ, sườn núi, động đá, đất
trống, lùm cây, hoặc đi vào rừng sâu, hoặc ở giữa bãi
tha ma. Khi vị ấy đã sống nơi rừng vắng rồi, hoặc là
đến dưới bóng cây, nơi vắng vẻ yên lặng, trải Ni-sư-đàn,
ngồi kiết già, dựng thân ngay thẳng, phản tỉnh không hướng
ý niệm ra ngoài[38]
đoạn trừ tham lam[39],
tâm không còn não hại[40];
thấy của cải và tư cụ sinh sống của người khác, không
còn móng khởi tham lam, muốn sao cho được về mình. Vị ấy
đối với tham lam đã tịnh trừ tâm ý. Cũng vậy, đối với
sân nhuế, tùy miên, trạo hối, đoạn trừ nghi, vượt qua
hoặc, không còn do dự đối với các thiện pháp, vị ấy
đối với nghi đã tịnh trừ tâm ý.
“Vị
ấy đã đoạn trừ năm triền cái[41]
vốn làm tâm ô uế, tuệ yếu kém, ly dục, ly ác bất thiện
pháp, cho đến chứng đệ Tứ thiền, thành tựu và an trụ.
“Vị
ấy đạt được tịnh tâm thanh tịnh, không nhơ uế và không
phiền nhọc như vậy, nhu nhuyến và khéo léo an trụ, chứng
đắc tâm bất động, hướng thẳng đến lậu tận trí thông.
Vị ấy biết như thật rằng: ‘Đây là Khổ’, ‘đây là
Khổ tập’, ‘đây là Khổ diệt’, và biết như thật ‘đây
là Khổ diệt đạo’. Cũng biết như thật rằng: Đây là
lậu, đây là lậu tập, đây là lậâu diệt, biết như thật
đây là lậu diệt đạo. Vị ấy biết như vậy, thấy như
vậy thì tâm giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, tâm giải
thoát vô minh lậu. Giải thoát rồi liền biết là giải thoát,
biết như thật rằng: ‘Sự sanh đã hết, phạm hạnh đã
vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’.
“Đức
Như Lai với chánh tâm giải thoát như vậy thành tựu được
năm điều tán thán như pháp, không tranh cãi, khả ái, khả
kính. Những gì là năm?
“Chúng
sanh kia thọ lãnh khổ vui đều do sự tạo tác trước kia.
Nếu đúng như vậy thì Như Lai vốn có nghiệp vi diệu từ
trước. Bởi vậy nên nay Như Lai mới có sự an lạc vô lậu
của Bậc Thánh, tịch tịnh, tĩnh chỉ, cảm thọ lạc. Đó
là điều xưng tán thứ nhất mà Như Lai đạt được.
“Lại
nữa, chúng sanh thọ lãnh khổ vui đều do hiệp hội. Nếu
đúng như vậy thì Như Lai vốn có sự nghiệp hội vi diệu.
Bởi vậy, nên nay Như Lai mới có sự hiệp hội vi diệu, sự
an lạc vô lậu của Bậc Thánh, tịch tịnh, tĩnh chỉ, cảm
thọ lạc. Đó là điều xưng tán thứ hai mà Đức Như Lai
đạt được.
“Lại
nữa, chúng sanh thọ lãnh khổ vui đều do định mạng. Nếu
đúng như vậy thì Như Lai vốn có định mạng vi diệu. Bởi
vậy, nên nay Như Lai mới có sự an lạc vô lậu của Bậc
Thánh, tịch tịnh, tĩnh chỉ, cảm thọ lạc. Đó là điều
xưng tán thứ ba mà Đức Như Lai đạt được.
“Lại
nữa, chúng sanh thọ lãnh khổ vui đều do kiến. Nếu đúng
như vậy thì Như Lai vốn có kiến vị diệu. Bởi vậy, nên
nay Như Lai mới có sự an lạc vô lậu của Bậc Thánh, tịch
tịnh, tĩnh chỉ, cảm thọ lạc. Đó là điều xưng tán thứ
tư mà Đức Như Lai đạt được.
“Lại
nữa, chúng sanh thọ lãnh khổ vui đều do Đấng Tôn Hựu tạo
tác. Nếu đúng như vậy thì Như Lai vốn có Tôn Hựu vi diệu.
Bởi vậy, nên nay Như Lai mới có sự an lạc vô lậu của
bậc Thánh, tịch tịnh, tĩnh chỉ, cảm thọ lạc. Đó là điều
xưng tán thứ năm mà Đức Như Lai đạt được.
“Đó
là Như Lai vốn có từ trước nghiệp vi diệu, sự hội họp
vi diệu, định mạng vi diệu, kiến vi diệu và Tôn Hựu vi
diệu và tạo tác vi diệu của Tôn Hựu. Do đó mà Như Lai
được năm điều tán thán.
“Có
năm nhân duyên làm cho tâm sanh ưu khổ. Những gì là năm? Đó
là dâm dục triền, do dâm dục quấn chặt nên tâm sanh ưu
khổ. Cũng vậy, đối với sân nhuế, thụy miên, trạo hối,
nghi hoặc. Do nghi hoặc quấn chặt, nên tâm sanh ưu khổ. Đó
là năm nhân duyên làm tâm sanh ưu khổ.
“Có
năm nhân duyên để tâm diệt ưu khổ. Những gì là năm? Như
do dâm dục triền nên tâm sinh ưu khổ, trừ dâm dục triền
rồi thì ưu khổ liền bị tiêu diệt. Vì dâm dục triền nên
tâm sanh ra ưu khổ, ngay trong đời hiện tại mà chứng đắc
cứu cánh, không phiền, không nhiệt và thường trụ bất biến;
đó là sở tri của bậc Thánh, sở kiến của bậc Thánh. Cũng
vậy, với sân nhuế, thùy miên, nghi hoặc triền; do nghi hoặc
quấn chặt nên tâm sanh ra ưu khổ. Nếu trừ được nghi hoặc
triền rồi thì ưu khổ liền bị tiêu diệt. Vì nghi hoặc
quấn chặt nên tâm sanh ra ưu khổ, trong đời hiện tại mà
chứng đắc cứu cánh, không phiền, không nhiệt, thường trụ
bất biến. Đó là sở tri của Bậc Thánh, sở kiến của Bậc
Thánh. Ấy là năm nhân duyên để tâm diệt trừ ưu khổ.
“Lại
nữa, còn có pháp khác ngay trong đời hiện tại mà chứng
đắc cứu cánh, không phiền, không nhiệt, thường trụ và
bất biến, là sở tri của bậc Thánh, là sở kiến của bậc
Thánh. Thế nào là còn có pháp khác ngay trong đời hiện tại
mà chứng đắc cứu cánh không phiền, không nhiệt, thường
trụ và bất biến, là sở tri của bậc Thánh, sở kiến của
Bậc Thánh? Đó là tám chi thánh đạo, tức từ chánh kiến
đến chánh định. Ấy là còn có pháp ngay trong đời hiện
tại mà chứng đắc cứu cánh, không phiền, không nhiệt, thường
trú và bất biến, là sở tri của Bậc Thánh, sở kiến của
bậc Thánh.
Phật
thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan
hỷ phụng hành.
Chú thích
[1]
Tương đương
Pāli:
M.101. Devadaha-sutta.
[2]
Thích-ki-sấu, xem cht.192, kinh số 12.
[3]
Thiên ấp 天邑,
sinh quán thân mẫu của Đức
Thích Tôn; vườn Lâm-tỳ-ni cũng gần đó.
Pāli:
Devadahaṃ nāma
Sakyānaṃ
nigamo, trong một tụ lạc tên là Devadaha (Thiên tí, cánh
tay trời) của người họ Thích.
[4]
Ni-kiền, Pāli:
Nigaṇṭha, xem chú thích? Bản Pāli:
santi... eke samaṇabrāhmaṇā
evaṃvādino
evaṃdiṭṭhino... evaṃvādino...
Nigaṇṭhā,
“Có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương như vầy, kiến
giải như vầy... Những người Nigantha chủ trương như vậy”.
[5]
Pāli:
yaṃ kiñcāyaṃ
purisapuggalo paṭisaṃvedeti sukhaṃ vā
dukkhaṃ vā
adukkham asukhaṃ vā,
những gì mà con người cảm thọ như khổ, lạc, phi khổ phi
lạc.
[6]
Nhân bổn tác因
本 作. Pāli:
pubbekatahetu, nguyên nhân được
làm đời
trước.
[7]
Pāli:
dukkhakkhayā
vedanākkhayo;
vedanākkhayā
sabbaṃ dukkhaṃ nijjiṇṇaṃ bhavisatī
ti, “do khổ diệt tận nên thọ diệt tận; do thọ diệt tận
nên hết thảy khổ tuyệt diệt”.
[8]
Hán: nhược tận dĩ, tiện đắc
tận 若盡已便得盡.
Với sự diệt tận khổ mức độ
như thế này, tất cả khổ sẽ được
diệt tận.
[9]
Hán: bạt tiễn kim y拔
箭 金 醫. Pāli:
bhisakko sallakatto, y sĩ nhổ tên, hay y sĩ giải phẫu.
[10]
Hán: tiễn kim箭
金.
[11]
Hán: thượng đoạn
thượng khổ hành上
斷 上 苦 行, đoạn
ở đây được
hiểu là tinh cần. Pāli:
tibbo uppakkamo, tibbaṃ padhānaṃ,
“tiến hành một cách căng
thẳng, tinh cần một cách căng
thẳng”. Trong bản Hán, padhāna
(tinh cần) được đọc
là pahāna
(đoạn).
[12]
Sanh thượng khổ生
上 苦, lãnh
thọ cảm thọ tối thượng khổ. Pāli:
tibbā
opakkamikā
dukkhā,
những (cảm giác) khổ đột
nhiên và kịch liệt.
[13]
Hán: lạc báo nghiệp樂
報 業. Pāli:
kammaṃ sukhavedanīyaṃ,
nghiệp dẫn đến
cảm thọ lạc.
[14]
Hán: khổ báo nghiệp苦
報 業.
Pāli:
kammaṃ dukkhavedanīyaṃ.
[15]
Hán: hiện pháp báo nghiệp現
法 報 業.
Pāli:
diṭṭhadhammavedanīya
kamma.
[16]
Hán: hậu sanh báo nghiệp候
生 報 業.
Pāli:
samparāyavedanṭya
kamma.
[17]
Hán: bất thục báo nghiệp 不熟報業.
Pāli:
aparipakkavedanīya
kamma.
[18]
Hán: thục báo nghiệp熟
報 業.
Pāli:
paripakkavedanīya
kamma.
[19]
Hán: hư vọng phương tiện虚
妄 方 便. Pāli:
aphalo upakkamo, nỗ lực không kết quả.
[20]
Hán: không đoạn
vô hoạch 空斷無獲.
Pāli:
aphalaṃ padhānaṃ,
sự chuyên cần không kết quả.
[21]
Thân Tử Ni-kiền親
子 尼 乾. Pāli:
Nigaṇṭha Nātaputta.
[22]
Tín信(saddhā),
lạc樂
(ruci: hoan hỷ), văn聞 (anussava:
tùy văn,
nghe tường thuật), niệm念(ākārāparivitakka:
tướng tĩnh lự, suy xét các dấu hiệu hay điều
kiện hay lý do), và kiến
thiện quán見
善 觀
(diṭṭthinijhānakhanti:
nhẫn thọ tà kiến).
[23]
Hán: năm điều,
tín,
lạc, văn,
niệm, kiến thiện quán. Bản Pāli:
“Lòng tin của các Tôn giả Nigaṇṭha đối
với Tôn sư quá khứ như là thế nào? Sự hoan hỷ, tùy văn,
thẩn sấn và nhẫn thọ như thế nào?” (diễn giải về năm
pháp nói trên).
[24]
Hán: ngũ trách cật. Pāli:
dasa vādānuvādā,
mười luận đề
(của các học thuyết).
[25]
Hán: khả tắng ố可
橧 惡.
[26]
Hán: nhân bản tác因
本 作. Pāli:
pubbekatahetu.
[27]
Hán: nhân hiệp hội因
合 會.
Pāli:
saṅgātibhava.
[28]
Hán: nhân vi mạng因
為 命. Pāli:
abhijātihetu,
nhân là chủng loại thọ sanh. Tức do sự khác biệt da màu
hay huyết thống.
[29]
Hán: nhân kiến因
見. Pāli:
diṭṭhadhammupakkamahetu, nguyên nhân là sự nỗ lực trong đời
hiện tại. Bản Hán hình như chỉ đọc:
diṭṭha-hetu.
[30]
Hán: Tôn hựu tạo尊
佑 造.
Pāli:
Issaranimmānahetu,
nguyên nhân là sự sáng tạo của Thượng đế
(Tự tại thiên).
[31]
Pāli:
dhammikaṃ ca sukhaṃ na pariccajati, tasmiṃ ca sukhe anadhimucchito,
vị ấy không từ bỏ lạc thọ phù hợp chánh pháp, nhưng
cũng không bị buộc chặt vào lạc thọ đó.
[32]
Hán: Bỉ hoặc dục đoạn
khổ nhân hành dục, hoặc dục đoạn
khổ nhân hành xả dục彼
或 欲 斷 苦 因 行 欲 或 欲 斷 苦 因 行 捨 欲. Dục đoạn
hành tức khát vọng đoạn
trừ bất thiện bằng tinh cần trong khổ hạnh. Dục đoạn
này được
phát triển trong tinh tấn, khinh an, niệm, chánh tri, và do tư
duy xả. Trong bản Hán này có hai phương pháp tu tập, hoặc
bằng dục đoạn
hành thuần tuý, hoặc dục đoạn
hành đi đôi
với xả. Pāli:
imassa kho me dukkhanidānassa
saṃkhāraṃ
padahato saṃkhātappadhānā
virāgo
hoti; imassa pana me dukkha-nidānassa
ajjhupekkhato upekhaṃ bhāvayato
virago hoti, ta đối
với nguyên nhân đau
khổ này tinh cần hành; do tinh cần hành mà ly nhiễm; lại
nữa, ta đối
với nguyên nhân đau
khổ này mà xả (không quan tâm); do tu tập xả mà ly nhiễm.
(Nghĩa là, không cần đến
sự tinh cần khổ hạnh nữa; Tự đoạn
khổ).
[33]
Hán: tu kỳ hành dục修
其 行 欲. Pāli:
saṃkhāraṃ
tattha padahati, ở đây
vị ấy tập trung nỗ lực trên hành.
[34]
Hán: dĩ đoạn已
斷, tinh
cần tới mức tuyệt đỉnh.
[35]
Hán: tự đoạn
khổ自
斷 苦. Pāli:
dukkhāya
attānaṃ
padahato, tập trung tự ngã để
hành trì khổ.
[36]Đại
ý đoạn
này theo Pāli:
vị Tỳ-kheo trong khi sống với cảm thọ lạc, nhận thấy
pháp thiện suy giảm và bất thiện tăng
trưởng, bèn áp dụng sự thực hành với cảm thọ khổ (tức
áp dụng lối khổ tu), khi ấy pháp thiện tăng
trưởng và pháp bất thiện suy giảm.
[37]
Hán: dụng kiểm (sic)
nạo tiễn用檢撓箭.
Pāli:
tejanaṃ dvisu alātesu ātāpitaṃ,
hơ nóng cây tên giữa hai ngọn lửa.
[38]
Hán: phản niệm bất hướng反
念 不 向.
Pāli:
parimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā,
sau khi đặt
niệm tưởng ngay trước mặt (hệ niệm tại tiền).
[39]
Hán: tham tứ貪
伺; Pāli:
abhijjhaṃ loke, ham muốn trần tục.
[40]
Hán: tâm vô hữu tránh 心無有諍.
[41]
Hán: ngũ cái五
蓋,
vừa kể đoạn
trên. Pāli:
pañca nivāraṇā.