18. KINH SƯ TỬ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật du hóa tại nước Bệ-xá-li[2],
bên bờ ao Di hầu[3],
Cao lâu đài quán[4].
Bấy
giờ một số đông bộ tộc Lệ-xế[5]
ở Bệ-xá-li vân tập nơi thính đường[6],
nhiều lần tán thán Phật, nhiều lần tán thán Pháp và Chúng
Tỳ-kheo. Lúc ấy đại thần Sư Tử, đệ tử Ni-kiền[7],
cũng ở trong chúng đó. Bấy giờ đại thần Sư Tử muốn
đến thăm viếng Đức Phật để cúng dường lễ bái. Đại
thần Sư Tử trước hết đi đến chỗ các Ni-kiền, thưa với
các Ni-kiền rằng:
“Thưa
chư Tôn, tôi muốn thăm viếng Sa-môn Cù-đàm”.
Khi
ấy các Ni-kiền quở Sư Tử rằng:
“Ông
chớ đến thăm Sa-môn Cù-đàm. Vì sao vậy? Sa-môn Cù-đàm
có tông chỉ bất khả tác[8],
và cũng giảng cho mọi người về pháp bất khả tác[9].
Này Sư Tử, nếu thăm viếng người có tông chỉ bất khả
tác sẽ không được may mắn; cúng dường lễ bái cũng sẽ
không được may mắn”.
Số
đông Lệ-xế ở Bệ-xá-li ba lần vân tập nơi thính đường,
nhiều lần tán thán Phật, nhiều lần tán thán Pháp và Chúng
Tỳ-kheo. Lúc ấy đại thần Sư Tử, đệ tử Ni-kiền, cũng
ba lần ở trong chúng đó. Bấy giờ đại thần Sư Tử cũng
lại ba lần muốn đến thăm viếng Đức Phật, cúng dường,
lễ bái.
Rồi
đại thần Sư Tử không cáo từ các Ni-kiền nữa, mà đi thẳng
đến chỗ Phật, cùng chào hỏi rồi ngồi xuống một bên
và nói như vầy:
“Tôi
nghe rằng Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ bất khả tác, và cũng
đem pháp bất khả tác giảng cho người khác. Thưa Cù-đàm,
nếu có người nói như vầy: ‘Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ
bất khả tác; cũng đem pháp bất khả tác giảng cho người
khác’. Người đó há không hủy báng Sa-môn Cù-đàm chăng?
Người ấy có nói đúng sự thật không? Người ấy nói có
đúng pháp chăng? Người ấy nói đúng pháp và như pháp[10]
chăng? Đối với như pháp, không có sai lầm và không bị chỉ
trích chăng?”
Đức
Thế Tôn đáp:
“Này
Sư Tử, nếu có ai nói như vầy: ‘Sa-môn Cù-đàm có tông
chỉ bất khả tác, và cũng đem bất khả tác giảng cho mọi
người’, người ấy không hủy báng Sa-môn Cù-đàm, người
ấy nói sự thật, người ấy nói đúng pháp, người ấy nói
pháp như pháp, đối với như pháp không có sai lầm, cũng không
bị chỉ trích. Vì sao vậy, này Sư Tử, có một sự kiện
mà, nhân sự kiện đó[11],
đối với pháp như thật, không thể hủy báng, khi nói rằng:
‘Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ bất khả tác, và cũng đem pháp
bất khả tác ấy nói cho người khác’.
“Này
Sư Tử, lại có một sự kiện nữa mà nhân sự kiện đó,
đối với pháp như thật, không thể hủy báng, khi nói rằng:
‘Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ khả tác[12]
và cũng đem pháp khả tác ấy nói cho người khác’.
“Này
Sư Tử, lại có một sự kiện nữa mà nhân sự kiện đó,
đối với pháp như thật, không thể hủy báng, khi nói rằng:
‘Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ đoạn diệt[13]
và cũng đem pháp kinh tởm ấy nói cho người khác’.
“Này
Sư Tử, lại có một sự kiện nữa mà nhân sự kiện đó,
đối với pháp như thật, không thể hủy báng, khi nói rằng:
‘Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ kinh tởm[14]
và cũng đem pháp kinh tởm ấy nói cho người khác’.
“Này
Sư Tử, lại có một sự kiện nữa mà nhân sự kiện đó,
đối với pháp như thật, không thể hủy báng, khi nói rằng:
‘Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ pháp luật[15]
và cũng đem pháp về pháp luật ấy nói cho người khác’.
“Này
Sư Tử, lại có một sự kiện nữa mà nhân sự kiện đó,
đối với pháp như thật, không thể hủy báng, khi nói rằng:
‘Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ khổ hành[16]
và cũng đem pháp khổ hành ấy nói cho người khác’.
“Này
Sư Tử, lại có một sự kiện nữa mà nhân sự kiện đó,
đối với pháp như thật, không thể hủy báng, khi nói rằng:
‘Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ không nhập thai[17]
và cũng đem pháp không nhập thai ấy nói cho người khác’.
“Này
Sư Tử, lại có một sự kiện nữa mà nhân sự kiện đó,
đối với pháp như thật, không thể hủy báng, khi nói rằng:
‘Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ an ổn[18]
và cũng đem pháp an ổn ấy nói cho người khác’.
“Này
Sư Tử, thế nào là ‘Có một sự kiện mà nhân sự kiện
đóù, đối với pháp như thật, không thể hủy báng, khi nói
rằng: ‘Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ bất khả tác, và cũng
đem pháp bất khả tác ấy nói cho người khác’? Này Sư Tử,
Ta nói thân ác hạnh là không nên làm, khẩu và ý ác hạnh
cũng không nên làm. Này Sư Tử, nếu có vô lượng pháp ô
uế bất thiện tương tự như vậy, làm cội gốc cho chư hữu
trong tương lai, làm nhân cho quả báo khổ, nóng bức, và làm
nhân cho sanh, già, bệnh, chết, này Sư Tử, Ta nói pháp ấy
hết thảy không nên làm. Này Sư Tử, đó là ‘Có một sự
kiện mà nhân sự kiện đóù, đối với pháp như thật, không
thể hủy báng, khi nói rằng: ‘Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ
bất khả tác, và cũng đem pháp bất khả tác ấy nói cho người
khác’.
“Này
Sư Tử, thế nào là ‘Có một sự kiện mà nhân sự kiện
đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng:
‘Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ khả tác và cũng đem tông chỉ
khả tác ấy nói cho người khác’? Này Sư Tử, Ta nói thân
diệu hạnh là nên làm, khẩu và ý diệu hạnh là nên làm.
Này Sư Tử, nếu có vô lượng pháp thiện tương ứng như
vậy, sẽ mang lại lạc quả, được thọ lạc báo, sanh về
thiện xứ để được trường thọ. Này Sư Tử, Ta nói, tất
cả những pháp này đều nên làm. Này Sư Tử, đó là ‘Có
một sự kiện mà nhân sự kiện đó, đối với pháp như thật
không thể hủy báng rằng: ‘Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ khả
tác và cũng đem pháp khả tác ấy nói cho người khác’.
“Này
Sư Tử, thế nào là ‘Có một sự kiện mà nhân sự kiện
đó, đối với pháp như thật không thể hủy báng rằng: ‘Sa-môn
Cù-đàm có tông chỉ đoạn diệt và cũng đem pháp đoạn diệt
ấy nói cho người khác’? Này Sư Tử, Ta nói thân ác hạnh
nên đoạn diệt; khẩu, ý ác hạnh nên đoạn diệt. Này Sư
Tử, nếu có vô lượng pháp ô uế, bất thiện như vậy, làm
cội gốc cho cội hữu trong tương lai, làm nhân cho khổ báo
phiền nhiệt, và cho sanh, già, bệnh, chết. Này Sư Tử, Ta
nói tất cả các pháp ấy nên đoạn diệt. Này Sư Tử, đó
là ‘Có một sự kiện mà, nhân sự kiện đó, đối với
pháp như thật, không thể hủy báng rằng: Sa-môn Cù-đàm có
tông chỉ đoạn diệt, và cũng đem pháp đoạn diệt ấy nói
cho người khác’.
“Này
Sư Tử, thế nào là ‘Có một sự kiện mà nhân sự kiện
ấy, đối với pháp như thật không thể hủy báng rằng: ‘Sa-môn
Cù-đàm có tông chỉ kinh tởm và cũng đem pháp kinh tởm ấy
nói cho người khác’? Này Sư Tử, Ta nói thân ác hạnh, nên
kinh tởm; khẩu, ý ác hạnh nên kinh tởm. Này Sư Tử, nếu
có vô lượng pháp ô uế bất thiện tương tự như vậy, làm
cội gốc cho hữu trong tương lai, làm nhân cho khổ báo, phiền
nhiệt, và cho sanh, già, bệnh, chết. Này Sư Tử, Ta nói những
pháp ấy đều nên kinh tởm. Này Sư Tử, đó là ‘Có một
sự kiện mà nhân sự kiện đó, đối với pháp như thật
không thể hủy báng rằng: ‘Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ kinh
tởm, và cũng đem pháp kinh tởm ấy nói cho người khác’.
“Này
Sư Tử, thế nào là ‘Có một sự kiện, nhân sự kiện đó,
đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng: ‘Sa-môn
Cù-đàm có tông chỉ pháp luật cũng đem pháp luật ấy nói
cho người khác’? Này Sư Tử, vì mục đích đoạn tham dâm
mà Ta nói pháp luật. Vì mục đích đoạn sân nhuế và ngu
si mà Ta nói là pháp luật. Này Sư Tử, nếu vô lượng pháp
ô uế bất thiện, tương tự như vậy, làm cội gốc cho hữu
trong tương lai, làm nhân cho khổ báo, phiền nhiệt, và cho
sanh, già, bệnh, chết, này Sư Tử, vì mục đích đoạn trừ
những sự kiện ấy mà Ta nói pháp luật. Này Sư Tử, đó
là ‘Cóù một sự kiện mà nhân sự kiện ấy, đối với
pháp như thật, không thể hủy báng rằng: ‘Sa-môn Cù-đàm
có tông chỉ pháp luật, cũng đem tông chỉ pháp luật ấy
nói cho người khác’.
“Này
Sư Tử, thế nào là ‘Có một sự kiện mà nhân sự kiện
đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng:
‘Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ khổ hành và cũng đem pháp khổ
hành ấy nói cho người khác’? Này Sư Tử, hoặc có Phạm
chí Sa-môn lõa hình, không y phục[19]
hoặc dùng tay làm y phục, hoặc lấy lá làm y phục, hoặc
lấy hạt châu làm y phục; hoặc không múc nước bằng bình,
hoặc không múc nước bằng gáo; không ăn đồ ăn xốc xỉa
bằng dao gậy, không ăn đồ ăn lừa dối, không tự mình đến,
không làm khách được mời[20],
không làm khách được chào đón[21],
không làm khách được lưu[22],
không ăn từ giữa hai người đang ăn, không ăn tại nhà có
thai[23],
không ăn từ nhà có nuôi chó, không ăn từ nhà có lằng xanh
bay đến; không ăn cá, không ăn thịt, không uống rượu, không
uống nước dấm[24],
hoặc không uống gì cả, học tập hạnh không uống; hoặc
ăn một miếng, cho một miếng là đủ[25],
hoặc ăn hai, ba, bốn, cho đến bảy miếng, và cho bảy miếng
là đủ, hoặc ăn bởi một lần nhận được[26],
và cho đến một lần nhận được là đủ, hoặc ăn bởi
hai, ba bốn cho đến bảy lần nhận được và cho bảy lần
nhận được là đủ, hoặc ăn ngày một lần và cho một lần
là đủ, hoặc hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy ngày, nửa tháng,
hay một tháng, ăn một lần và cho một lần là đủ; hoặc
ăn cỏ[27],
hoặc ăn lúa cỏ[28],
hoặc ăn nếp tuế, hoặc ăn cám, hoặc ăn gạo đầu-đầu-la[29],
hoặc ăn đồ ăn thô; hoặc đến chỗ vô sự[30],
y nơi vô sự; hoặc ăn rễ, hoặc ăn trái, hoặc ăn quả tự
rụng; hoặc mặc áo khâu đủ thứ vải[31],
hoặc mặc áo lông, hoặc mặc áo vải đầu-xá[32],
hoặc mặc áo vải đầu-xá bằng lông, hoặc mặc bằng da
nguyên, hoặc mặc da có xoi lỗ, hoặc mặc da toàn xoi lỗ;
hoặc để tóc xõa, hoặc để tóc bệân, hoặc để tóc vừa
xõa vừa bện, hoặc chỉ cạo tóc, hoặc chỉ cạo râu, hoặc
cạo cả râu tóc, hoặc nhổ tóc, hoặc nhổ râu, hoặc nhổ
cả râu tóc, hoặc chỉ đứng thẳng không hề ngồi, hoặc
đi chồm hỗm, hoặc nằm gai, lấy gai làm giường; hoặc nằm
trái[33],
lấy trái làm giường; hoặc thờ nước, ngày đêm lấy tay
vọc; hoặc thờ lửa, ngày đêm đốt lên; hoặc thờ mặt
trời, mặt trăng, thờ Đấng Tôn Hựu Đại Đức, chắp tay
hướng về. So như vậy thời phải chịu vô lượng khổ, học
hạnh phiền lao.
“Này
Sư Tử, có những khổ hạnh như vậy, chứ Ta chẳng nói là
không có. Này Sư Tử, nhưng những khổ hạnh như vậy là những
nghiệp hạ tiện, rất khổ, rất khốn, là sự thực hành
của người phàm phu, không phải Thánh đạo. Này Sư Tử, nếu
có Sa-môn, Phạm chí đối với các pháp khổ hạnh ấy mà
biết rõ, đoạn trừ, diệt tận và nhổ sạch gốc rễ của
chúng đến rốt cùng, không cho sanh ra, Ta nói rằng những người
kia là khổ hạnh[34].
Này Sư Tử, Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác,
đối với các pháp khổ hạnh ấy đã biết rõ, đã đoạn
trừ, diệt tận, nhổ tất cả gốc rễ của chúng đến rốt
cùng không cho sanh ra nữa, do đó Ta là người khổ hạnh. Này
Sư Tử, đó là sự kiện mà nhân sự kiện đó, đối với
pháp như thật, không thể hủy báng rằng: ‘Sa-môn Cù-đàm
có tông chỉ khổ hạnh, và cũng đem pháp khổ hạnh ấy nói
cho người khác’.
“Này
Sư Tử, thế nào là có một sự kiện mà nhân sự kiện đó,
đối vời pháp như thật, không thể hủy báng khi nói rằng:
‘Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ không nhập thai, và cũng đem
pháp không nhập thai ấy nói cho người khác?’ Này Sư Tử,
nếu có Sa-môn, Phạm chí nào đối với sự thai sanh trong tương
lai mà biết rõ, đoạn trừ, diệt tận, nhổ tuyệt gốc rễ
của nó, cho đến rốt cùng không cho sanh ra nữa, Ta nói rằng
người kia không còn vào thai. Này Sư Tử, Đức Như Lai, Vô
Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, đối với thai sanh trong tương
lai đã biết rõ, đã đoạn trừ, diệt tận, nhổ tuyệt gốc
rễ
của nó, cho đến rốt cùng không cho sanh ra nữa, do đó Ta
không còn vào thai nữa. Này Sư Tử, đó là một sự kiện
mà nhân sự kiện đó, đối với pháp như thật, không thể
hủy báng khi nói rằng: ‘Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ không
nhập thai và cũng đem pháp không nhập thai đó nói cho người
khác’.
“Này
Sư Tử, thế nào là có một sự kiện, mà nhân sự kiện đó
đối với pháp như thật, không thể hủy báng khi nói rằng:
‘Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ an ổn và cũng đem pháp an ổn
đó nói cho người khác’? Này Sư Tử, có một thiện nam tử
nào đó cạo bỏ râu tóc, mặc áo cà sa, chí tín, lìa bỏ
gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo, chỉ vì
mục đích thành tựu phạm hạnh vô thượng, ở ngay trong đời
mà tự tri, tự giác, tự tác chứng, thành tựu và an trụ,
biết như thật rằng: ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã
vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’.
Ta tự an ổn và cũng an ổn cho các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc,
Ưu-bà-di khác. Ta đã an ổn và làm cho chúng sanh lệ thuộc
vào sự sanh giải thoát sự sanh ấy; chúng sanh lệ thuộc vào
già, tật bệnh, sự chết, ưu sầu, ô nhiễm, được sự giải
thoát khỏi ưu sầu nhiễm ô ấy. Này Sư Tử, đó là có một
sự kiện mà nhân sự kiện đó không thể hủy báng đối
với pháp như thật rằng: ‘Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ an
ổn và cũng đem pháp an ổn ấy nói cho người khác’.”
Đại
thần Sư Tử bạch Thế Tôn rằng:
“Bạch
Cù-đàm, con đã biết. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu. Bạch
Cù-đàm, cũng như người có mắt tỏ, cái gì úp thì giở
lên, cái gì che kín thì mở ra, chỉ đường cho người mê,
đem ánh sáng đến chỗ tối, để cho ai có mắt sáng liền
thấy màu sắc. Sa-môn Cù-đàm cũng lại như vậy, bằng vô
lượng phương tiện, để thuyết pháp cho con, bày tỏ nghĩa
lý, tùy theo các đạo[35].
“Bạch
Cù-đàm, nay con xin quy y Phật, quy y Pháp và Chúng Tỳ-kheo,
cúi mong Thế Tôn nhận con làm Ưu-bà-tắc; kể từ hôm nay,
trọn đời tự quy y, cho đến khi mạng chung.
“Bạch
Thế Tôn, cũng như có người nuôi một con ngựa bất lương,
mà mong được sự lợi ích, chỉ uổng công nhọc nhằn mà
chẳng được sự lợi ích gì cả. Thế Tôn, con cũng như vậy.
Các Ni-kiền ngu si kia, con không khéo hiểu biết, không thể
tự biết, không nhận được đâu là ruộng tốt, mà lại
không tự suy xét, mãi thờ kính, cúng dường, lễ bái để
trông được lợi ích, chỉ nhọc mà vô ích. Bạch Thế Tôn,
nay con một lần nữa xin tự quy Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo.
Cúi mong Đức Thế Tôn nhận con làm Ưu-bà-tắc, kể từ hôm
nay, trọn đời tự quy y, cho đến mạng chung.
“Bạch
Thế Tôn, con vốn không hiểu nên đối với các Ni-kiền ngu
si kia có sự tin tưởng và kính trọng, và từ nay chấm dứt.
Vì sao thế? Vì họ lừa dối con. Bạch Thế Tôn, nay con lần
thứ ba, xin tự quy y nơi Phật, quy y Pháp, và Chúng Tỳ-kheo.
Cúi mong Thế Tôn nhận con làm Ưu-bà-tắc, kể từ hôm nay,
trọn đời tự quy y, cho đến mạng chung”.
Phật
thuyết như vậy. Đại thần Sư Tử và các Tỳ-kheo sau khi
nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Chú thích
[1]
Bản Hán, quyển 4. Tương đương
Pāli:
A. VIII. 12. Sīha-sutta.
Tham chiếu, Tứ Phần Luật 42 (Đại
22 tr.871); Pāli:
Mahāvagga
VI.31. 10-11.
[2]
Bệ-xá-li鞞
舍 羅; phiên
âm quen thuộc là Tì-da-li毗
耶 離.
Pāli:
Vesālī,
thủ phủ của bộ tộc Licchavi, phía Bắc sông Hằng, đối
ngạn với Magadha.
[3]
Hán: Di hầu thủy biên 彌猴水邊.
Không thấy địa
danh này trọng Pāli.
Bản Pāli:
Vesāliyaṃ
viharati Mahāvane
Kūṭāgārasālāyaṃ,
trú ở Vesālī,
giảng đường
Trùng các, trong rừng Mahāvana
(Đại
lâm).
[4]
Hán: Cao lâu đài
quán高
樓 臺 觀. Pāli:
kūīagārasāla,
ngôi nhà lầu, thường gọi là “Trùng các giảng đường重
閣 講 堂.”
Lệ-xế麗
掣, cũng
phiên âm là Li-xa離
車 hoặc Lê-xa梨
車.
Pāli:
Licchavi.
[6]
Hán: thính đường聽
堂, sảnh đường.
Pāli:
santhāgāra,
tập hội đường,
hội trường, nhà hội nghị.
[7]
Hán: Ni-kiền đệ
tử Sư Tử đại
thần 尼乾弟師子大臣.
Pāli:
Sīho
senāpati
Nigaṇṭha-sāvaka.
[8]
Hán: tông bổn bất khả tác宗
本 不 可 作. Pāli:
akiriyavāda,
chủ trương phi tác nghiệp, không hành động
hay không thực tiễn. Trong kinh, hàm ý “điều
không nên làm” hay “không có tác dụng”, tức chủ trương
không hành động.
[9]
Hán: bất khả tác pháp不
可 作 法. Pāli:
akiriyāya
dhammam.
[10]
Hán: pháp như pháp法
如 法. Pāli:
dhammassa cānudhamma,
và tùy pháp của pháp, chỉ những vấn đề
liên hệ đến
pháp.
[11]
Pāli:
atthi ... Pariyāyo,
yena... pariyāyena:
có pháp môn, do bởi pháp môn đó...
[12]
Hán: tông bổn khả tác宗
本 可 作. Pāli:
kiriyavāda.
[13]
Hán: tông bổn đoạn
diệt宗
本 斷 滅. Pāli:
ucchedavāda.
[14]
Hán: tông bổn khả (tắng) ố宗
本 可 (憎) 惡. Pāli:
ucchedavāda,
tức chủ trương khổ hạnh.
[15]
Hán: tông bổn pháp luật宗
本 法 律. Pāli:
venayika, sự chế ngự.
[16]
Hán: tông bổn khổ hành宗本苦行.Pāli:
tapassī.
[17]
Hán: tông bổn bất nhập thai宗
本 不 入 胎. Pāli:
[18]
Hán: tông bổn an ổn宗
本 安 隠. Pāli:
assattha, sự nghỉ ngơi.
[19]Đoạn
trình bày các lối khổ hạnh này giống kinh 104 ở sau. Bản
Pāli
tương đương
không có đoạn
này. Các chú thích dưới đây
tham chiếu D.XXV Udumbarika-sīhanāda-suttanta.
[20]
Hán: bất lai tôn不
來 尊. Pāli:
na-ehi-bhadantika, “không là Tôn giả được
gọi: Mời đến đây!”
Hán: bất thiện tôn不
善 尊.
Không thấy có Pāli
tương đương.
Có lẽ: na-sādhu-bhadantika,
“không là Tôn giả được
chào đón:
Lành
thay, Tôn giả!”
[22]
Hán: bất trụ tôn不
住 尊. Pāli:
na-tiṭṭha-bhadantika, “không là Tôn giả được
mời mọc: Hãy ở lại đây,
Tôn giả!”
[23]
Hán: bất hoài nhâm gia thực不
懷 妊 家 食. Pāli:
na gabbhiniyā
(paṭiganṇhāti),
không (nhận thức ăn)
từ người đàn
bà mang thai.
[24]
Hán: ác thủy惡
水. Pāli:
thusodaka, nước lên men.
[25]
Pāli:
ekāgāriko
vā
hoti ekālopiko,
mỗi nhà chỉ nhận một miếng ăn.
[26]
Hán: thực nhất đắc食
一 得. Pāli:
ekissāpi
dattiyā
yāpeti,
chỉ sống bằng một vật được
cho.
[27]
Hán: thái như菜
茹. Pāli:
sāka-bhakkho.
[28]
Hán: bại tử稗
子,
loại cỏ giống như lúa. Pāli:
sāmāka.
[29]
Hán: đầu-đầu-la頭
頭 邏. Pāli:
daddula.
[30]
Hán: chí vô sự xứ至
無 事處, đến
nơi rừng vắng? Không thấy Pāli
tương đương.
Tham chiếu: vana-mla-palāhāro
yāpeti.
[31]
Hán: liên hiệp y連
合 衣. Pāli:
masāṇāni,
vải gai lẫn các vải khác.
[32]
Hán: đầu-xá
y頭
舍 衣. Pāli:
dussa, vải thô chưa nhuộm màu.
[33]
Hán: ngọa quả臥
果. Pāli:
phalaka, (nằm trên) tấm ván. Bản Hán hiểu phala(ka) là trái
cây.
[34]
Pāli:
yassa... Tapaniyā
pāpakā
akusalā
dhammā
pahīnā...
tam ahaṃ ‘tapassī’
ti vadāmi,
“những ai bằng khổ hạnh mà đoạn
trừ các pháp ác bất thiện, Ta nói người ấy là ‘người
khổ hạnh’.”
[35]
Hán: tùy kỳ chư đạo隨
其 諸 道. Pāli:
?