17.
KINH GIÀ-DI-NI[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật du hóa tại Na-lan-đà[2],
ở xóm Tường, rừng Nại[3].
Bấy
giờ A-tư-la thiên có người con là Già-di-ni[4],
sắc tướng uy nghi, chói sáng rực rỡ, lúc đêm gần về sáng,
đi đến nơi Đức Phật, cúi lạy dưới chân Phật rồi ngồi
sang một bên.
Già-di-ni,
con trời A-tư-la bạch Phật rằng:
“Bạch
Thế Tôn, các người Phạm chí cao ngạo tự cho ngang bằng
trời[5].
Họ cho rằng, nếu có chúng sanh nào mạng chung, họ có thể
làm cho tự do qua lại các thiện xứ, sanh lên cõi trời[6].
Thế Tôn là Pháp chủ, mong Thế Tôn làm cho chúng sanh khi mạng
chung đi đến thiện xứ, sanh lên cõi trời”.
Thế
Tôn bảo rằng:
“Này
Già-di-ni, nay ta hỏi ông, tùy theo sự hiểu biết mà trả lời.
Này Già-di-ni, ý ông nghĩ thế nào? Nếu ở trong thôn ấp,
hoặc có kẻ nam, người nữ biếng nhác, không tinh tấn, lại
hành ác pháp, thành tựu mười loại nghiệp đạo bất thiện,
là sát sanh, lấy của không cho, tà dâm, nói dối, cho đến
tà kiến. Người ấy khi mạng chung, nếu có số đông người
đến, thảy đều chắp tay hướng về người đó kêu gọi,
van lơn, nói như thế này: ‘Các người, nam hoặc nữ, biếng
nhác, không siêng năng, lại hành ác pháp, thành tựu mười
loại nghiệp đạo bất thiện là sát sanh, lấy của không
cho, tà dâm nói dối, cho đến tà kiến. Các người nhân việc
này, duyên việc này, khi thân hoại mạng chung chắc chắn đi
đến thiện xứ, sanh lên cõi trời’. Như vậy, này Già-di-ni,
những người nam hay nữ biếng nhác kia, không siêng năng, lại
hành ác pháp, thành tựu mười loại nghiệp đạo bất thiện
là sát sanh, lấy của không cho, tà dâm, nói dối, cho đến
tà kiến; có thể nào vì được số đông người đều đến
chắp tay hướng về chúng mà kêu gọi, van lơn, nhân việc
ấy, duyên việc ấy mà lúc thân hoại mạng chung lại được
đi đến thiện xứ, sanh lên cõi trời không?”
Già-di-ni
thưa rằng:
“Không
thể được, bạch Thế Tôn”.
Phật
khen rằng:
“Lành
thay, Già-di-ni, vì sao thế? Những người nam hay nữ kia, biếng
nhác, không siêng năng, lại thực hành ác pháp, thành tựu
mười loại nghiệp đạo bất thiện là sát sanh, lấy của
không cho, tà dâm, nói dối, cho đến tà kiến. Nếu được
số đông người đến chắp tay hướng về chúng, mà kêu gọi,
van lơn, nhân việc ấy, duyên việc ấy khi thân hoại mạng
chung lại được đi đến thiện xứ sanh lên cõi trời. Việc
đó không thể có.
“Này
Già-di-ni, cũng như cách thôn không bao xa, có vực nước sâu,
nơi đó có một người ôm tảng đá lớn và nặng ném vào
trong nước. Nếu có số đông người đến đều chắp tay
hướng về tảng đá mà kêu gọi van lơn, nói như thế này:
‘Mong tảng đá nổi lên, mong tảng đá nổi lên’. Này Già-di-ni,
ông nghĩ thế nào? Tảng đá lớn nặng ấy có thể nào vì
được số đông người đến đều chắp tay hướng về nó
và kêu gọi van lơn, nhân việc đó, duyên việc đó mà sẽ
nổi lên không?”
Già-di-ni
trả lời rằng:
“Không
thể được, bạch Thế Tôn!”
“Cũng
vậy, này Già-di-ni, những người nam hay nữ kia biếng nhác,
không tinh tấn, lại thực hành ác pháp, thành tựu mười loại
nghiệp đạo bất thiện là sát sanh, lấy của không cho, tà
dâm, nói dối, cho đến tà kiến, nếu được số đông người
đều đến chắp tay hướng về chúng mà kêu gọi, van lơn,
nhân việc đó, duyên việc đó mà lúc thân hoại mạng chung,
được đi đến thiện xứ, sanh lên cõi trời; điều đó không
thể có được.
“Vì
sao thế? Bởi vì mười loại nghiệp đạo bất thiện này
vốn đen, có quả báo đen, tự nhiên đi thẳng xuống, chắc
chắn đi đến ác xứ.
Này
Già-di-ni, ông nghĩ thế nào? Nếu như trong thôn ấp hoặc có
người nam hay nữ, tinh tấn siêng tu, lại thực hành diệu
pháp thành tựu mười nghiệp đạo thiện là xa lìa việc giết,
đoạn trừ việc giết, xa lìa lấy của không cho, tà dâm,
nói dối, cho đến xa lìa tà kiến, được chánh kiến. Người
ấy khi mạng chung nếu có số đông người đến đều chắp
tay hướng về người đó mà kêu gọi van lơn, nói như thế
này: ‘Này các người, nam hoặc nữ, các người đã tinh tấn
siêng tu, lại thực hành diệu pháp, thành tựu mười nghiệp
đạo thiện là xa lìa việc giết, đoạn trừ việc giết,
lấy của không cho, tà dâm, nói dối, cho đến tà kiến cũng
đều xa lìa, đoạn trừ tà kiến, được chánh kiến. Các
người nhân việc đó, duyên việc đó mà khi thân hoại mạng
chung, hãy đi đến ác xứ, sanh vào địa ngục’. Này Già-di-ni,
ông nghĩ thế nào? Các người nam nữ kia, tinh tấn siêng tu
lại thực hành diệu pháp, thành tựu mười nghiệp đạo thiện
là xa lìa việc giết, đoạn trừ việc giết, lấy của không
cho, tà dâm, nói dối, cho đến tà kiến, đoạn trừ tà kiến,
được chánh kiến. Có thể nào vì bị số đông người đến
chắp tay hướng về người đó mà ca ngợi cầu xin, nhân việc
đó, duyên việc đó, mà khi thân hoại mạng chung sẽ đi đến
ác xứ, sanh vào địa ngục không?”
Già-di-ni
trả lời rằng:
“Không
thể được, bạch Thế Tôn!”
Thế
Tôn khen rằng.
“Lành
thay, Già-di-ni! Vì sao vậy? Này Già-di-ni, những người nam
hay nữ kia siêng năng tinh tấn, lại thực hành diệu pháp,
thành tựu mười nghiệp thiện đạo là xa lìa việc giết,
đoạn trừ việc giết, lấy của không cho, tà dâm, nói dối,
cho đến tà kiến đều xa lìa, được chánh kiến. Nếu được
số đông người đến chắp tay hướng về người đó mà
kêu gọi van lơn, nhân việc đó, duyên việc đó mà khi thân
hoại mạng chung sẽ đi đến ác xứ, sanh vào địa ngục.
Điều này không thể có. Vì sao vậy? Này Già-di-ni, bởi vì
mười nghiệp đạo thiện là trắng, có quả báo trắng, tự
nhiên thăng lên, chắc chắn đến thiện xứ.
“Này
Già-di-ni, cũng như cách thôn không xa có vực nước sâu, nơi
đó có người đem hủ dầu ném vào nước; hủ bị vỡ, sành
cặn chìm xuống, dầu bơ nổi lên trên. Cũng vậy, này Già-di-ni,
những người nam hay nữ kia tinh tấn siêng tu, lại thực hành
diệu pháp, thành tựu mười nghiệp đạo thiện là xa lìa
việc giết, đoạn trừ việc giết, lấy của không cho, tà
dâm, nói dối, cho đến xa lìa tà kiến, đoạn trừ tà kiến,
được chánh kiến. Người ấy khi mạng chung, thân thể là
sắc thô nặng, thuộc về bốn đại, do cha mẹ sanh, nuôi lớn
bằng cơm áo, chống dựa khi ngồi nằm, chăm sóc bằng tắm
gội, là pháp phá hoại, là pháp diệt tận, là pháp ly tán.
Sau khi mạng chung, hoặc chim quạ rỉa mổ, hoặc hùm sói ăn,
hoặc bị đốt, hoặc bị chôn. Tất cả trở thành cát bụi.
Tâm ý thức của người ấy thường được huân tập bởi
tín, tinh tấn, đa văn, bố thí, trí tuệ. Người ấy, nhân
việc ấy, duyên việc ấy mà tự nhiên thăng lên cao, sanh đến
thiện xứ.
“Này
Già-di-ni, người ấy đối với việc sát sanh, đã xa lìa việc
giết, đoạn trừ việc giết. Đó là con đường vườn hoa[7],
con đường thăng tấn, con đường thiện xứ.
“Này
Già-di-ni, cũng vậy đối với sự lấy của không cho, tà dâm,
nói dối, cho đến tà kiến, xa lìa tà kiến, được chánh
kiến. Đó là con đường vườn hoa, con đường thăng tấn,
con đường thiện xứ.
“Này
Già-di-ni, lại có con đường vườn hoa, con đường thăng tấn,
con đường thiện xứ. Thế nào là lại có con đường vườn
hoa, con đường thăng tấn, con đường thiện xứ? Đó là tám
chi thánh đạo. Từ chánh kiến cho đến chánh định; đó là
tám. Này Già-di-ni, đó là lại có con đường vườn hoa, con
đường thăng tấn, con đường thiện xứ”.
Đức
Phật thuyết như vậy. Già-di-ni và các Tỳ-kheo sau khi nghe
Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Chú thích
[1]
Tương đương
Pāli:
S.2.4.6. Pacchabhūmana-sutta
(người phương Tây) hay Mataka-sutta (người đã
chết). Chi tiết này không phù hợp với Pāli.
[2]
Bản Cao-li: Na-nan-đà
viên那
難 陀 園;
Tống-Nguyên-Minh: Na-nan-đà
quốc那
難 陀 國;
Pāli:
Nālandā,
một thị trấn gần Rāhagaha.
[3]
Tường thôn Nại lâm牆
村 柰 林.
Pāli:
Pāvarika-ambavana,
là một vườn xoài của Pavārika,
một phú hào người Kosambi. Trong vườn xoài tại thị trấn
Nālanda,
ông dựng một tịnh xá cúng dường Phật.
[4]
Hán: A-tư-la thiên – Già-di-ni阿
私 羅 天 - 伽
彌 尼.
Pāli:
Asibandakaputta-Gāmaṇi,
thôn trưởng Asibandakaputta. Bản Hán hiểu gāmaṇi
(thôn trưởng) là từ riêng.
[5]
Hán: sự nhược can thiên事
若 干 天.
[6]
Bản Pāli
nói, theo tập quán các Bà-la-môn phương Đông
(Pacchābhūmaka),
nếu có những người chết họ chỉ cần gọi tên là những
người này được
sanh lên cõi trời.
[7]
Hán: viên quán chi đạo園
觀 之 道,
có lẽ uyyāna (Pāli,
vườn hoa) được
do gốc động
từ uyyāti:
xuất phát. Sanskrti: udyāna:
vườn hoa, cũng có nghĩa “tiên lên” (ud + YĀ).