16.
KINH GIÀ-LAM[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại Già-lam viên[2],
cùng đại chúng Tỳ-kheo, đến Ki-xá tử[3],
trụ trong vườn Thi-nhiếp-hòa[4],
phía Bắc thôn Ki-xá tử.
Bấy
giờ những người Già-lam ở Ki-xá tử nghe đồn Sa-môn Cù-đàm
thuộc dòng họ Thích[5],
đã từ bỏ dòng họ Thích, xuất gia học đạo, đang du hóa
tại Già-lam viên cùng chúng Đại Tỳ-kheo đến Ki-xá tử này,
trụ trong rừng Thi-nhiếp-hòa ở phía Bắc thôn Ki-xá tử.
Vị Sa-môn Cù-đàm ấy có tiếng tăm lớn, truyền khắp mười
phương rằng: ‘Sa-môn Cù-đàm là Như Lai, Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành, Thiện Thệ, Thế Gian Giải,
Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự[6],
Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu. Vị ấy ở trong thế gian
này giữa chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Phạm chí, từ loài người
cho đến loài trời, tự tri tự giác, tự tác chứng, thành
tựu và an trụ. Pháp mà vị ấy thuyết, khoảng đầu thiện,
khoảng giữa thiện, cứu cánh cũng thiện, có nghĩa, có văn,
hiển hiện phạm hạnh thanh tịnh trọn đủ[7]’.
Nếu gặp được Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh
Giác để tôn trọng, lễ bái cúng dường, thừa sự, thì sẽ
được nhiều thiện lợi. Chúng ta hãy cùng nhau đến gặp
Sa-môn Cù-đàm để lễ bái, cúng đường”.
Những
người Già-lam ở Ki-xá tử, nghe như vậy rồi, mỗi người
cùng với quyến thuộc của mình kéo nhau ra khỏi Ki-xá tử,
đi về phía Bắc, tới rừng Thi-nhiếp-hòa, họ muốn gặp
Đức Thế Tôn để lễ bái cúng dường.
Đi
đến chỗ Phật ngụ, những người Già-lam ấy hoặc có người
lễ bái cúi đầu dưới chân Phật rồi ngồi sang một bên,
hoặc có người chào hỏi Đức Phật rồi ngồi sang một bên,
hoặc có người chắp tay hướng đến Phật rồi ngồi sang
một bên, hoặc có người từ đàng xa thấy Đức Phật rồi
im lặng ngồi xuống.
Lúc
đó, những người Già-lam đều ngồi yên. Đức Phật thuyết
pháp cho họ, khuyến phát, khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ[8].
Sau khi bằng vô lượng phương tiện thuyết pháp, khuyến phát,
khát ngưỡng thành tựu hoan hỷ, Ngài ngồi im lặng.
Bấy
giờ những người Già-lam sau khi được Đức Phật thuyết
pháp, khuyến phát, khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ, họ đều
từ chỗ ngồi đứng dâïy, sửa áo trịch vai bên hữu, chắp
tay đến hướng Đức Phật, rồi bạch Đức Thế Tôn rằng:
“Thưa
Cù-đàm, có một vị Sa-môn, Phạm chí đi đến Già-lam chỉ
tự khen ngợi tri kiến của mình mà chê bai tri kiến của người
khác. Thưa Cù-đàm, lại có một vị Sa-môn, Phạm chí đi đến
Già-lam cũng chỉ tự khen ngợi tri kiến của mình mà chê bai
tri kiến của kẻ khác. Thưa Cù-đàm, chúng tôi nghe vậy liền
sanh ngờ vực: Những vị Sa-môn, Phạm chí ấy, vị nào thật?
Vị nào hư?”
Đức
Thế Tôn nói rằng:
“Này
các người Già-lam, các người chớ sanh lòng ngờ vực. Vì
sao vậy? Vì nhân có ngờ vực liền sanh ra do dự[9].
Này các người Già-lam, các ngươi tự mình không có tịnh
trí để biết có đời sau hay không có đời sau. Này các người
Già-lam, các người cũng không có tịnh trí để biết điều
đã làm có tội hay không có tội. Này các người Già-lam,
nên biết các nghiệp vốn sẵn có ba tập nhân[10].
Những gì là ba? Này các người Già-lam, tham là tập nhân sẵn
có của các nghiệp. Này các người Già-lam, nhuế và si là
tập nhân sẵn có của các nghiệp.
“Này
các người Già-lam, người có tham bị tham che lấp, tâm không
nhàm đủ, hoặc sát sanh, hoặc lấy của không cho, hoặc hành
tà dâm, hoặc biết mà nói dối, hoặc lại uống rượu. Này
các người Già-lam, người có nhuế bị nhuế che lấp, tâm
không nhàm đủ, hoặc sát sanh, hoặc lấy của không cho, hoặc
hành tà dâm, hoặc biết mà nói dối, hoặc lại uống rượu.
Này các người Già-lam, người có si bị si che lấp, tâm không
nhàm đủ, hoặc sát sanh, hoặc lấy của không cho, hoặc hành
tà dâm, hoặc biết mà nói dối, hoặc lại uống rượu.
“Này
các người Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa việc giết
hại, dứt bỏ sự giết hại, dẹp bỏ dao gậy; có tàm, có
quý, có tâm từ bi, làm lợi ích cho tất cả, cho đến côn
trùng. Vị ấy đối với sự sát sanh, tâm đã trừ sạch.
“Này
các người Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa việc lấy
của không cho, đoạn trừ việc lấy của không cho; vui thích
trong việc lấy của đã cho, thường ưa sự bố thí, vui vẻ
không keo kiệt, không mong người kia đền trả. Vị ấy đối
với việc lấy của không cho, tâm đã trừ sạch.
“Này
các người Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa việc phi phạm
hạnh, đoạn trừ việc phi phạm hạnh; siêng tu phạm hạnh,
siêng tu diệu hạnh, thanh tịnh, không uế, ly dục, đoạn dâm.
Vị ấy đối với việc việc phi phạm hạnh, tâm đã trừ
sạch.
“Này
các người Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa việc nói
dối, đoạn trừ sự nói dối; nói lời chân thật, ưa thích
sự chân thật, an trụ nơi chân thật không di động, tất
cả những điều vị ấy nói đều đáng tin, không lừa gạt
thế gian. Vị ấy đối với việc nói dối, tâm đã trừ sạch.
“Này
các người Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa sự nói hai
lưỡi, đoạn trừ việc nói hai lưỡi, không phá hoại kẻ
khác, không nghe nơi người này nói lại người kia muốn phá
hoại người này, không nghe nơi người kia nói lại với người
này muốn phá hoại người kia; những người xa lìa nhau thì
muốn kết hợp lại, thấy người kết hợp lại thì vui vẻ,
không kết bè đảng, không khen việc kết bè đảng. Vị ấy
đối với việc việc nói hai lưỡi, tâm đã trừ sạch.
“Này
các người Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa việc nói
thô ác, đoạn trừ việc nói thô ác. Nếu có những lời mà
từ khí thô bạo, âm thanh hung dữ trái tai, mọi người không
vui, mọi người không ưa, làm cho người khác khổ não, làm
cho họ không được an ổn, vị ấy đoạn trừ những lời
nói như vậy. Nếu có những lời hòa nhã dịu dàng, xuôi tai,
đi sâu vào lòng người, đáng thích, đáng yêu, làm cho người
kia an lạc, âm thânh vừa đủ rõ ràng, không làm cho người
kia sợ sệt, làm cho người kia được an ổn, vị ấy nói
những lời như vậy. Vị ấy đối với việc nói lời thô
ác, tâm đã tịnh trừ.
“Này
các người Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa lời nói thêu
dệt[11],
đoạn trừ lời nói thêu dệt; nói đúng lúc, đúng sự thật,
nói về pháp, nói về nghĩa, nói về tịch tĩnh, ưa nói về
tịch tĩnh, hợp việc, hợp thời, thích nghi, khéo dạy dỗ,
khéo quở rầy. Vị ấy đối với việc nói lời thêu dệt,
tâm đã tịnh trừ.
“Này
các người Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa tham lam, đoạn
trừ tham lam, không ôm lòng não hại, thấy của cải và các
nhu cầu sinh sống của người khác không móng lòng tham lam,
muốn cho được trở về mình. Vị ấy đối với việc tham
lam tâm đã tịnh trừ.
“Này
các người Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa giận dữ,
đoạn trừ giận dữ, có tàm, có quý, có tâm từ bi, làm lợi
ích cho tất cả, cho đến loài côn trùng. Vị ấy đối với
sự giận dữ tâm đã tịnh trừ.
“Này
các người Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa tà kiến,
đoạn trừ tà kiến, thực hành chánh kiến, không điên đảo;
thấy như vậy, nói như vậy: ‘Có sự bố thí, có sự trai
phước, và cũng có chú thuyết, có nghiệp thiện ác, có nghiệp
báo thiện ác. Có đời này và đời sau. Có cha, có mẹ, trên
đời có những bậc chân nhân đi đến thiện xứ, khéo vượt
qua, khéo hướng đến, trong đời này và đời sau mà tự tri
tự giác, tự tác chứng thành tựu và an trụ. Vị ấy đối
với việc tà kiến, tâm đã tịnh trừ.
“Này
các người Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử thành tựu tịnh
nghiệp nơi thân, thành tựu tịnh nghiệp nơi khẩu và ý. Xa
lìa nhuế, xa lìa não hại, trừ bỏ thùy miên, không trạo
cử, cống cao, đoạn trừ nghi, vượt qua mạn, chánh niệm,
chánh trí, không có ngu si; tâm vị ấy tương ứng với từ,
biến mãn một phương, thành tựu và an trụ. Cũng vậy, trong
hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng, hạ, cùng khắp tất
cả, tâm tương ứng với từ, không thù, không oán, không sân
nhuế, không não hại, rất rộng lớn, vô lượng, khéo tu tập,
biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ. Cũng vậy,
tâm bi, hỷ; tâm tương ứng với xả, không thù không oán,
không sân nhuế, không não hại, rộng lớn vô lượng, khéo
tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ.
Cũng vậy, này các người Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử tâm
không thù, không oán, không sân nhuế, không não hại, liền
được bốn trụ xứ an ổn[12].
Những gì là bốn?
“‘Nếu
có đời này đời sau, có quả báo của nghiệp thiện và ác.
Khi ta đã được nghiệp tương ứng với chánh kiến này rồi,
ta thọ trì đầy đủ, thân hoại mạng chung chắc chắn sanh
đến thiện xứ cho đến sanh lên các cõi trời’. Như vậy,
này các người Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử tâm không kết,
không oán, không sân nhuế, không não hại; đó là trụ xứ
an ổn thứ nhất.
“Lại
nữa, này các người Già-lam, ‘Nếu không có đời này và
đời sau, không có quả báo của nghiệp thiện và ác. Như
vậy, ta ở ngay trong đời này không phải do cớ ấy mà bị
người khác bài bác; nhưng lại được bậc chánh trí khen
ngợi, người tinh tấn, người có chánh kiến nói là có’.
Như vậy, này các người Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử tâm
không kết, không oán, không não hại, đó là được trụ xứ
an ổn thứ hai.
“Lại
nữa, này các người Già-lam, ‘Nếu có tạo tác gì, chắc
chắn ta không có tạo ác, ta không niệm ác. Vì sao vậy? Vì
tự mình không tạo ác, khổ do đâu mà sanh?’ Như vậy, này
các người Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử tâm không kết, không
oán, không não hại; đó là trụ xứ an ổn thứ ba.
“Lại
nữa, này các người Già-lam, ‘Nếu có tạo tác, chắc chắn
ta không tạo ác, ta không phạm đời sợ hay không sợ, luôn
luôn nên thương xót tất cả thế gian, tâm ta không tranh chấp
với tất cả thế gian, không vẩn đục, nhưng hân hoan’.
Như vậy, này các người Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử tâm
không kết, không oán, không não hại; đó là trụ xứ an ổn
thứ tư.
“Như
vậy, này các người Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử tâm không
kết, không oán, không sân hận, không não hại; đó là được
bốn trụ xứ an ổn”.
Những
người Già-lam bạch Phật:
“Thưa
Cù-đàm, đúng vậy, Đa văn Thánh đệ tử tâm không thù, không
oán, không sân nhuế, không não hại, liền được bốn trụ
xứ an ổn. Những gì là bốn?
“‘Nếu
có đời này đời sau, có quả báo của nghiệp thiện và ác.
Khi ta đã được nghiệp tương ứng với chánh kiến này rồi,
ta thọ trì đầy đủ, thân hoại mạng chung chắc chắn sanh
đến thiện xứ cho đến sanh lên các cõi trời’. Như vậy,
thưa Cù-đàm, Đa văn Thánh đệ tử tâm không kết, không oán,
không sân nhuế, không não hại; đó là trụ xứ an ổn thứ
nhất.
“Lại
nữa, thưa Cù-đàm, ‘Nếu không có đời này và đời sau,
không có quả báo của nghiệp thiện và ác. Như vậy, ta ở
ngay trong đời này không phải do cớ ấy mà bị người khác
bài bác; nhưng lại được bậc chánh trí khen ngợi, người
tinh tấn, người có chánh kiến nói là có’. Như vậy, thưa
Cù-đàm, Đa văn Thánh đệ tử tâm không kết, không oán, không
não hại, đó là được trụ xứ an ổn thứ hai.
“Lại
nữa, thưa Cù-đàm, ‘Nếu có tạo tác gì, chắc chắn ta không
có tạo ác, ta không niệm ác. Vì sao vậy? Vì tự mình không
tạo ác, khổ do đâu mà sanh?’ Như vậy, thưa Cù-đàm, Đa
văn Thánh đệ tử tâm không kết, không oán, không não hại;
đó là trụ xứ an ổn thứ ba.
“Lại
nữa, thưa Cù-đàm, ‘Nếu có tạo tác, chắc chắn ta không
tạo ác, ta không phạm đời sợ hay không sợ, luôn luôn nên
thương xót tất cả thế gian, tâm ta không tranh chấp với
tất cả thế gian, không vẩn đục, nhưng hân hoan’. Như vậy,
thưa Cù-đàm, Đa văn Thánh đệ tử tâm không kết, không oán,
không não hại; đó là trụ xứ an ổn thứ tư.
“Như
vậy, thưa Cù-đàm, Đa văn Thánh đệ tử tâm không kết, không
oán, không sân hận, không não hại; đó là được bốn trụ
xứ an ổn.
“Thưa
Cù-đàm, chúng con đã biết. Bạch Thiện Thệ, chúng con đã
hiểu. Bạch Thế Tôn, chúng con trọn đời tự quy y với Phật,
Pháp và Chúng Tỳ-kheo. Duy nguyện Thế Tôn chấp nhận cho chúng
con làm Ưu-bà-tắc, bắt đầu từ hôm nay, trọn đời tự
quy y, cho đến lúc mạng chung”.
Phật
thuyết như vậy. Tất cả những người Già-lam và các Tỳ-kheo
sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
Tương đương
Pāli:
A.III 65 Kesaputtiyā.
Già-lam viên伽
藍 園.
Pāli:
Kesaputtaṃ nāma
Kālānaṃ
nigamo, thị trấn của những người Kālāma
tên là Kesaputta, ở Kosala.
Ki-xá tử羈
舍 子;
Pāli:
Kesaputta, xem cht. trên.
Thi-nhiếp-hòa lâm 尸攝惒林.
Pāli:
Siṃsapā.
Hán: Thích tông tộc釋
宗 族. Pāli:
Sakya-kula.
Đạo
pháp ngự. Pāli:
Damma-sārathi, Điều
ngự trượng phu. Bản Hán đọc
là dhamma-(đạo
pháp), thay vì là damma- (huấn luyện, điều
ngự).
Hán: cụ túc thanh tịnh hiển hiện phạm hạnh具
足 淸 淨. Pāli:
kevala-paripuṇṇaṃ pari-suddhaṃ
brahmacariyaṃ pakāseti,
hiển bày đời
sống phạm hạnh thanh tịnh và hoàn hảo tuyệt đối.
Hán: khuyến phát, khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ 勸發渴仰成就歡喜.Pāli:
sandassetvā
samādapetvā
samuttejetvā
sampahaṃsetvā,
chỉ bày, khuyên bảo, khích lệ, làm cho hoan hỷ.
Hán: nghi hoặc... sanh do dự. Pāli:
kaṅkhāniye...ṭhāne
vicikicchā
uppannā,
trong trường hợp nghi hoặc, do dự phát sanh.
Hán: tập nhân bản hữu 因習本有;
bản Pāli
không có chi tiết này.
Hán: ỷ ngữ綺
語.
Pāli:
samphappalāpa,
hư ngữ, tạp uế ngữ; nói bậy bạ.
Hán: an ổn trú xứ安
穩 住 處.
Pāli:
assāsa,
sự nghỉ ngơi (lấy lại hơi thở quân bình), sự bình an.