15.
KINH TƯ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm,
vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng.
“Nếu
kẻ nào cố ý tạo nghiệp[2],
Ta nói rằng kẻ ấy phải thọ lấy quả báo. Hoặc thọ ngay
trong đời hiện tại, hoặc thọ vào đời sau. Nếu tạo nghiệp
mà không cố ý, Ta nói rằng người ấy không nhất thiết
phải thọ quả báo.
“Ở
đây, thân cố ý tạo ba nghiệp bất thiện, đưa đến khổ
quả, thọ khổ quả. Miệng có bốn nghiệp, ý có ba nghiệp
bất thiện, đưa đến khổ báo, thọ khổ quả.
“Những
gì là ba nghiệp do thân cố ý tạo bất thiện, đưa đến
khổ quả, phải thọ khổ báo? Một là sát sanh, quá hung dữ,
uống máu, cứ muốn sát hại, không thương xót chúng sanh,
cho đến loài côn trùng. Hai là lấy của không được cho,
đắm trước tài vật của kẻ khác, chiếm lấy với ý muốn
trộm cắp. Ba là tà dâm; người kia chính mình xâm phạm tới
người nữ có cha giữ gìn, hoặc có mẹ gìn giữ, hoặc được
cả cha và mẹ giữ gìn, hoặc được chị em giữ gìn, hoặc
được anh em gìn giữ, hoặc được cha mẹ vợ[3]
gìn giữ, hoặc được người thân thuộc gìn giữ, hoặc được
người cùng dòng họ gìn giữ; hoặc được bảo vệ bằng
đe dọa hình phạt hay roi vọt[4],
hoặc đã được thuê, hoặc đã được hứa hôn, cho đến
chỉ mới nhận tràng hoa làm tin. Đó là ba nghiệp do thân cố
ý tạo bất thiện, đưa đến khổ quả, thọ lấy khổ báo.
“Những
gì là bốn nghiệp do miệng cố ý tạo bất thiện, đưa đến
khổ quả, thọ lấy khổ báo? Một là nói dối; người kia
hoặc ở giữa đám đông, hoặc trong quyến thuộc, hoặc ở
tại vương gia, nếu có ai kêu mà hỏi rằng: ‘Ngươi có biết
thì nói’. Nhưng nó không biết mà nói là biết, biết nói
là không biết; không thấy nói là thấy, thấy nói không thấy.
Vì mình, vì người, hoặc vì của cải, biết rồi mà lại
nói dối. Hai là nói hai lưỡi; muốn ly gián người khác nên
nghe nơi người này đem nói với người kia vì muốn phá hoại
người này. Nghe nơi người kia đem nói với này vì muốn phá
hoại người kia. Những kẻ hợp nhau muốn tạo ly tán; những
kẻ đã ly tán lại muốn cho xa rời để kết bè đảng, vui
thích bè đảng, khen ngợi bè đảng. Ba là nói thô ác; người
ấy nếu có nói năng gì thì lời lẽ thô tục, hung bạo, tiếng
dữ trái tai, không ai mến nổi, làm cho người khác phải khổ
não, khiến cho không được định tâm. Bốn là nói lời thêu
dệt; người ấy nói không đúng lúc, nói không thành thật,
nói lời không đúng nghĩa, nói lời không đúng pháp, nói không
tịch tĩnh[5],
lại còn khen ngợi sự không tịch tĩnh, trái ngược thời
gian mà lại không khéo dạy dỗ, không khéo la mắng. Đó là
bốn nghiệp do miệng cố ý tạo, bất thiện, đưa đến khổ
quả, thọ lấy khổ báo.
“Những
gì ba nghiệp của ý cố ý tạo bất thiện, đưa đến khổ
quả, thọ lấy khổ báo? Một, tham lam; thấy tài vật và các
tư cụ sinh sống của người khác thường tham lam ước muốn
sao cho được về của mình. Hai là sân nhuế; trong ý ôm ấp
oán ghét, nghĩ rằng: chúng sanh kia đáng giết, đáng trói,
đáng bắt, đáng loại bỏ, đáng đuổi đi, mong cho kẻ kia
thọ khổ vô lượng. Ba là tà kiến; sở kiến điên đảo,
thấy như vầy, nói như vầy: ‘Không có bố thí, không có
trai phước, không có chú thuyết, không có nghiệp thiện ác,
không có nghiệp báo thiện ác, không có đời này, đời sau;
không có cha mẹ, trên đời không có bậc chân nhân đi đến
chỗ chí thiện, khéo vượt qua, khéo hướng đến, ở đời
này và đời sau mà tự chứng tri, tự giác ngộ, tự thân
tác chứng, thành tựu và an trú. Đó là ba nghiệp do ý cố
tạo bất thiện, đưa đến khổ quả, thọ ấy khổ báo.
“Đa
văn Thánh đệ tử xả bỏ nghiệp bất thiện của thân, tu
thân thiện nghiệp, xả bỏ nghiệp bất thiện của miệng
và ý, tu thiện nghiệp miệng và ý. Đa văn Thánh đệ tử
đầy đủ giới đức tinh tấn như vậy, thành tựu tịnh nghiệp
nơi thân, thành tựu tịnh nghiệp nơi miệng và ý, lìa sân
nhuế, lìa não hại, từ bỏ ngủ nghỉ, không trạo cử và
cống cao, đoạn nghi, vượt kiêu mạn, chánh niệm, chánh trí,
không còn ngu si, tâm vị ấy đi đôi với từ, biến mãn một
phương thành tựu và an trú. Cũng vậy, với hai, ba, bốn phương
và tứ duy, thượng, hạ, biến mãn, tâm đi đôi với từ,
không thù không oán, không sân nhuế, không não hại, quảng
đại vô biên vô lượng, khéo tu tập biến mãn tất cả thế
gian, thành tựu và an trụ. Người kia suy nghĩ rằng: ‘Tâm
ta xưa kia vốn nhỏ hẹp, không khéo tu. Tâm ta nay đây khéo
tu, quảng đại vô lượng’. Đa văn Thánh đệ tử đối với
tâm vô lường, khéo tu tập như vậy, nếu trước kia nhân
có ác tri thức, vì đã phóng dật mà tạo nghiệp bất thiện,
nay những thứ ấy không thể lôi kéo, không thể làm ô uế,
không còn đi theo nữa. Giả sử có một trẻ thơ hoặc trai
hay gái được sanh ra, liền có thể tu hành từ tâm giải thoát[6],
về sau thân, miệng và ý có còn tạo những nghiệp bất thiện
nữa chăng?”
Các
Tỳ-kheo thưa rằng:
“Bạch
Thế Tôn, không thể”.
“Vì
sao vậy? Tự mình không làm nghiệp ác thì nghiệp ác ấy do
đâu mà sanh? Do đó, người tại gia hay xuất gia, nam hay nữ,
thường phải siêng tu từ tâm giải thoát. Nếu người tại
gia hay xuất gia, nam hay nữ ấy, tu từ tâm giải thoát, thì
không còn mang thân này đi đến đời sau mà chỉ theo tâm đi
khỏi cõi này. Tỳ-kheo nên nghĩ như vầy: ‘Ta vốn vì buông
lung mà tạo nghiệp bất thiện. Tất cả nghiệp ấy có thể
thọ báo trong đời này, chớ không thể đi đến đời sau
nữa’. Nếu có người thực hành từ tâm giải thoát rộng
lớn vô lượng, khéo tu tập như vậy, chắc chắn chứng quả
A-na-hàm, hoặc chứng cao hơn nữa.
“Cũng
vậy, tâm bi và hỷ; tâm câu hữu với xả, không kết, không
oán, không sân nhuế, không não hại, quảng đại vô lượng,
khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an
trụ. Người ấy suy nghĩ như vầy: ‘Tâm ta trước vốn nhỏ
hẹp, không khéo tu tập. Tâm ta nay đây rộng lớn vô lượng,
được khéo tu tập’. Đa văn Thánh đệ tử đối với tâm
vô lượng, khéo tu tập như vậy, nếu trước kia nhân có ác
tri thức, vì đã phóng dật mà tạo nghiệp bất thiện, nay
những thứ ấy không thể lôi kéo, không thể làm ô uế, không
còn đi theo nữa. Giả sử có một trẻ thơ hoặc trai hay gái
được sanh ra, liền có thể tu hành xả tâm giải thoát, về
sau thân, miệng và ý có còn tạo những nghiệp bất thiện
nữa chăng?”
Các
Tỳ-kheo thưa rằng:
“Bạch
Thế Tôn, không thể”.
“Vì
sao vậy? Tự mình không làm nghiệp ác thì nghiệp ác ấy do
đâu mà sanh? Do đó, người tại gia hay xuất gia, nam hay nữ,
thường phải siêng tu xả tâm giải thoát. Nếu người tại
gia hay xuất gia, nam hay nữ ấy, tu xả tâm giải thoát, thì
không còn mang thân này đi đến đời sau mà chỉ theo tâm đi
khỏi cõi này. Tỳ-kheo nên nghĩ như vầy: ‘Ta vốn vì buông
lung mà tạo nghiệp bất thiện. Tất cả nghiệp ấy có thể
thọ báo trong đời này, chớ không thể đi đến đời sau
nữa’. Nếu có người thực hành xả tâm giải thoát rộng
lớn vô lượng, khéo tu tập như vậy, chắc chắn chứng quả
A-na-hàm, hoặc chứng cao hơn nữa”.
Phật
thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan
hỷ phụng hành.
Chú thích
Không có Pāli
tương đương,
chỉ một ít điểm
tương đồng,
A.X 207 Cetanā,
X. 208 Karaja-kāya.
Hán: cố tác nghiệp 故作業.
Pāli:
sañcetanika kamma.
Hán: phụ phụ mẫu 婦父母.
Có lẽ muốn nói “cha mẹ của nàng dâu” tức cha mẹ chồng.
Nghĩa là, được
pháp luật bảo vệ.
Hán: bất chỉ tức thuyết不
止 息 說.
[6]Hán:
từ
tâm giải thoát慈
心 解 脱.
Pāli:
mettaṃ cetovimuttiṃ, tâm giải thoát với từ.