14.
KINH LA-VÂN[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại thành Vương xá, trong rừng Trúc
lâm, vườn Ca-lan-đa[2].
Bấy
giờ Tôn giả La-vân[3]
cũng ở tại thành Vương xá, trong rừng Ôn tuyền[4].
Lúc đó, Đức Thế Tôn sau khi đêm đã qua, vào buổi sáng
sớm, khoác y, cầm bát, đi vào thành Vương xá để khất thực.
Khất thực xong, Ngài đi đến rừng Ôn tuyền, trú xứ của
Tôn giả La-vân. Tôn giả La-vân từ đàng xa thấy Đức Thế
Tôn đến, lập tức đến rước, cầm y bát của Phật, trải
tọa cụ và múc nước rửa chân. Đức Phật rửa chân xong,
ngồi trên chỗ ngồi của La-vân.
Khi
đó Đức Thế Tôn liền lấy chậu nước đổ đi, chỉ lưu
lại một ít, rồi hỏi:
“La-vân,
ngươi nay có thấy Ta cầm chậu nước này đổ đi, chỉ lưu
lại một ít không?”
La-vân
đáp:
“Bạch
Thế Tôn, con có thấy”.
Phật
bảo:
“Ta
nói đạo của người kia cũng ít như vậy, nghĩa là đã biết
rồi còn nói dối mà không xấu hổ, không ăn năn, không tàm
không quý. Này La-vân, người kia cũng không có điều ác nào
là không làm. Do đó, này La-vân nên học như thế này, không
đùa giỡn và nói dối”.
Đức
Thế Tôn lại lấy cái chậu còn lại một ít nước đổ hết
ra rồi hỏi rằng:
“Này
La-vân, ngươi lại có thấy Ta cầm cái chậu còn một ít nước
ấy đổ ra hết không?”
La-vân
trả lời rằng:
“Con
có thấy, bạch Thế Tôn”.
Phật
bảo rằng:
“Này
La-vân, Ta nói rằng đạo của người kia cũng mất hết như
vậy. Nghĩa là đã biết rồi còn nói dối, mà không xấu hổ,
không ăn năn, không tàm, không quý. Này La-vân, người ấy
cũng không có việc ác nào mà không làm. Do đấy, này La-vân
nên học như thế này: Không được đùa giỡn và nói dối”.
Đức
Thế Tôn lại cầm chậu trống không ấy úp xuống đất rồi
hỏi rằng:
“Này
La-vân, ngươi lại có thấy Ta cầm chậu không này úp xuống
đất không?”
La-vân
trả lời:
“Con
có thấy, bạch Thế Tôn”.
Phật
bảo rằng:
“Này
La-vân, Ta nói rằng đạo của người kia cũng bị lật úp
như vậy, nghĩa là đã biết rồi còn nói dối mà không biết
xấu hổ, không ăn năn, không tàm, không quý. Này La-vân, người
ấy cũng không có việc ác nào mà không làm. Do đó, này La-vân
nên học như thế này, không được đùa giỡn và nói dối”.
Đức
Thế Tôn lại cầm chậu úp lật ngửa lên rồi hỏi rằng:
“Này
La-vân, ngươi có thấy Ta cầm cái chậu úp này giở ngửa
lên không?”
La-vân
trả lời rằng:
“Con
có thấy, bạch Thế Tôn!”
Đức
Phật bảo La-vân rằng:
“Ta
nói rằng đạo của người kia bị lật ngửa, cũng lại như
vậy. Nghĩa là đã biết rồi còn nói dối mà vẫn không xấu
hổ, không ăn năn, không tàm, không quý. Này La-vân, người
ấy cũng không có việc ác nào mà không làm. Do đó này La-vân,
nên học như thế này: Không được đùa giỡn và nói dối.
“Này
La-vân, cũng như nhà vua có thớt voi lớn, khi xông vào trận
chiến đấu thì dùng chân trước, chân sau, đuôi, bộ chân,
xương sống, hông, đầu, trán, tai, ngà, tất cả đều dùng,
chỉ giữ gìn chiếc vòi. Tượng sư thấy vậy, rồi suy nghĩ
như thế này: ‘Thớt voi lớn này của nhà vua vẫn còn tiếc
mạng sống. Vì sao thế? Vì thớt voi lớn của nhà vua này
khi xông vào trận giặc chiến đấu, thì dùng cả chân trước,
chân sau, đuôi, bộ xương, xương sống, hông, đầu, trán,
tai, ngà, tất cả đều dùng, chỉ gìn giữ chiếc vòi’. Này
La-vân, nếu thớt voi lớn của nhà vua khi xông vào trận giặc
chiến đấu dùng cả chân trước, chân sau, đuôi, bộ xương,
xương sống, hông, đầu, trán, tai, vòi đều dùng tất cả.
Tượng sự thấy vậy rồi liền suy nghĩ như thế này: ‘Thớt
voi lớn của nhà vua này không còn tiếc mạng sống nữa. Vì
sao thế? Thớt voi lớn của nhà vua này khi xông vào trận giặc
chiến đấu, dùng cả chân trước, chân sau, đuôi, bộ xương,
hông, đầu, ngà, vòi, tất cả đều đem dùng’. Này La-vân,
nếu thớt voi lớn khi xông vào trận giặc chiến đấu mà
dùng cả chân trước, chân sau, đuôi, bộ xương, xương sống,
hông, đầu, ngà, vòi, tất cả đều đem dùng. Này La-vân,
Ta nói thớt voi lớn của nhà vua khi xông vào trận giặc, chiến
đấu, không có việc dữ nào mà không làm, không ăn năn, không
tàm, không quý. Này La-vân, Ta nói rằng: Người kia cũng không
có việc ác nào mà không làm. Do đó, này La-vân, nên học
như thế này: Không được đùa giỡn và nói dối”.
Rồi
thì Đức Thế Tôn nói bài tụng rằng:
Kẻ
nào phạm một pháp,
Pháp
đó là nói dối:
Nó
không sợ đời sau;
Không
chừa sự dữ nào.
Thà
nuốt viên sắt cháy,
Nó
nóng như lửa đỏ;
Chứ
không nên phạm giới
Mà
nhận đời cúng thí.
Nếu
biết sợ khổ sở,
Không
thích nghĩ tưởng đến;
Chỗ
sáng, hay kín đáo
Chớ
tạo tác nghiệp ác.
Nếu
tạo nghiệp bất thiện,
Đã
làm, nay đang làm,
Trọn
không giải thoát được
Cũng
không có chỗ tránh.
Đức
Phật nói bài tụng rồi, lại hỏi rằng:
“Này
La-vân, ngươi nghĩ thế nào, người ta dùng gương để làm
gì?”
La-vân
trả lời rằng:
“Bạch
Thế Tôn, để nhìn xem khuôn mặt sạch hay không sạch”.
“Cũng
vậy, này La-vân, nếu ngươi sắp hành động với thân nghiệp
thì hãy quán sát thân nghiệp ấy rằng: ‘Ta sắp làm thân
nghiệp; thân nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh? Vì mình mà làm
hay vì người khác?’ Này La-vân, nếu khi quán sát như vậy,
mà biết rằng: ‘Ta sắp làm thân nghiệp, vì mình mà làm
hay vì người khác. Đó là thân nghiệp bất thiện, nó sẽ
đưa đến khổ quả và phải thọ lấy khổ báo’. Này La-vân,
ngươi nên bỏ thân nghiệp bất thiện sắp được làm ấy
đi. Này La-vân, nếu khi quán sát như vậy mà biết rằng: ‘Ta
sắp làm thân nghiệp, vì mình mà làm hay vì người khác. Đó
là thân nghiệp thiện, nó sẽ đưa đến lạc quả và sẽ
thọ lấy lạc báo’. Này La-vân, ngươi hãy thực hiện thân
nghiệp sẽ làm ấy.
“Này
La-vân, ngươi hiện đang hành động với thân nghiệp, hãy
quán sát thân nghiệp ấy rằng: ‘Ta đang làm thân nghiệp;
thân nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh? Vì mình làm hay vì người
khác?’ Này La-vân, khi quán sát như vậy mà biết rằng: ‘Ta
đang làm thân nghiệp; thân nghiệp này tịnh, vì mình làm hay
vì người khác. Đó là thân nghiệp bất thiện sẽ đưa đến
khổ quả và thọ lấy khổ báo’. Này La-vân, ngươi nên bỏ
thân nghiệp đang làm ấy đi. Này La-vân, nếu khi quán sát
như vậy, mà biết rằng: ‘Ta đang làm thân nghiệp; thân nghiệp
ấy bất tịnh, vì mình làm hay vì người khác. Nghiệp ấy
thiện, sẽ đưa đến lạc quả và thọ lấy lạc báo’. Này
La-vân, ngươi hãy nên thực hiện thân nghiệp đang làm ấy.
“Này
La-vân, nếu ngươi đã hành động với thân nghiệp, hãy quán
sát thân nghiệp ấy rằng: ‘Ta đã làm thân nghiệp; thân
nghiệp ấy đã quá khứ, đã diệt tận, đã biến dịch. Nó
là tịnh hay bất tịnh? Vì mình hay vì người khác?’ Này
La-vân, nếu khi quán sát như vậy mà biết rằng: ‘Ta đã
làm thân nghiệp; thân nghiệp ấy đã quá khứ, diệt tận,
biến dịch, thân nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh, vì mình làm
hay vì người khác. Nghiệp ấy là bất thiện, sẽ đưa đến
khổ quả và phải thọ lấy khổ báo’. Này La-vân, ngươi
hãy đến nơi người phạm hạnh, thiện tri thức, chí tâm
phát lộ thân nghiệp đã tạo ra, xin ăn năn lỗi lầm, cẩn
thận không giấu giếm, rồi phải khéo léo giữ gìn.
“Này
La-vân, nếu khi quán sát như vậy, mà rằng: ‘Ta đã làm thân
nghiệp. Thân nghiệp ấy đã quá khứ, diệt tận, biến dịch,
thân nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh, vì mình làm hay vì người
khác. Nghiệp ấy thiện, sẽ đưa đến lạc quả và thọ lấy
lạc báo’. Này La-vân, ngươi nên ngày đêm vui mừng, an trụ
chánh niệm, chánh trí.
“Với
khẩu nghiệp cũng lại như vậy.
“Này
La-vân, nếu nhân việc làm trong quá khứ nên đã sanh ý nghiệp,
hãy quán sát ý nghiệp ấy rằng: ‘Nếu nhân việc làm trong
quá khứ đã sanh ý nghiệp, ý nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh,
là vì mình làm hay vì người khác?’ Này La-vân, nếu khi quán
như vậy, mà biết nhân việc làm trong quá khứ mà sanh ra ý
nghiệp; ý nghiệp đã quá khứ, diệt tận, biến dịch. Ý
nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh, tự mình làm hay vì người
khác. Nếu ý nghiệp ấy là bất thiện sẽ đưa đến khổ
quả và phải thọ lấy khổ báo. Này La-vân, ngươi nên bỏ
ý nghiệp trong quá khứ ấy đi. Này La-vân, nếu khi quán như
vậy, mà rằng nhân việc làm trong quá khứ mà đã sanh ra ý
nghiệp; ý nghiệp ấy đã quá khứ, diệt tận, biến dịch;
ý nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh, vì mình hay vì người khác.
Nếu ý nghiệp ấy là thiện sẽ đưa đến lạc quả và thọ
lấy lạc báo. Này La-vân, ngươi đến thọ nhận ý nghiệp
quá khứ ấy.
“Này
La-vân, nhân việc làm trong vị lai nên sẽ sanh khởi ý nghiệp,
hãy quán sát ý nghiệp ấy rằng: ‘Nếu nhân việc làm trong
vị lai sẽ sanh ý nghiệp; ý nghiệp ấy là tịnh hay bất tịnh,
tự mình làm hay vì người khác?’ Này La-vân, nếu khi quán
như vậy, mà biết rằng ‘Nhân việc làm trong vị lai mà sẽ
sinh ý nghiệp; ý nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh, vì mình làm
hay vì người khác. Nếu ý nghiệp ấy là bất thiện sẽ đưa
đến khổ quả và phải thọ lấy khổ báo’. Này La-vân,
ngươi nên xả bỏ ý nghiệp trong vị lai đó đi. Này La-vân,
nếu khi quán sát như vậy, liền biết rằng: ‘Nhân việc
làm trong vị lai mà sanh ý nghiệp; ý nghiệp đó tịnh hay bất
tịnh, vì mình làm hay vì người khác. Nếu ý nghiệp ấy là
thiện, sẽ đưa đến lạc quả và thọ lấy lạc báo. Này
La-vân, ngươi nên nhận lãnh ý nghiệp trong vị lai ấy.
“Này
La-vân, cũng như nhà vua có thớt voi lớn, khi xông vào trận
chiến đấu thì dùng chân trước, chân sau, đuôi, bộ chân,
xương sống, hông, đầu, trán, tai, ngà, tất cả đều dùng,
chỉ giữ gìn chiếc vòi. Tượng sư thấy vậy, rồi suy nghĩ
như thế này: ‘Thớt voi lớn này của nhà vua vẫn còn tiếc
mạng sống. Vì sao thế? Vì thớt voi lớn của nhà vua này
khi xông vào trận giặc chiến đấu, thì dùng cả chân trước,
chân sau, đuôi, bộ xương, xương sống, hông, đầu, trán,
tai, ngà, tất cả đều dùng, chỉ gìn giữ chiếc vòi’. Này
La-vân, nếu thớt voi lớn của nhà vua khi xông vào trận giặc
chiến đấu dùng cả chân trước, chân sau, đuôi, bộ xương,
xương sống, hông, đầu, trán, tai, vòi đều dùng tất cả.
Tượng sự thấy vậy rồi liền suy nghĩ như thế này: ‘Thớt
voi lớn của nhà vua này không còn tiếc mạng sống nữa. Vì
sao thế? Thớt voi lớn của nhà vua này khi xông vào trận giặc
chiến đấu, dùng cả chân trước, chân sau, đuôi, bộ xương,
hông, đầu, ngà, vòi, tất cả đều đem dùng’. Này La-vân,
nếu thớt voi lớn khi xông vào trận giặc chiến đấu mà
dùng cả chân trước, chân sau, đuôi, bộ xương, xương sống,
hông, đầu, ngà, vòi, tất cả đều đem dùng. Này La-vân,
Ta nói thớt voi lớn của nhà vua khi xông vào trận giặc, chiến
đấu, không có việc dữ nào mà không làm, không ăn năn, không
tàm, không quý. Này La-vân, Ta nói rằng: Người kia cũng không
có việc ác nào mà không làm. Do đó, này La-vân, nên học
như thế này: Không được đùa giỡn và nói dối”.
Rồi
thì Đức Thế Tôn nói bài tụng rằng:
Kẻ
nào phạm một pháp,
Pháp
đó là nói dối:
Nó
không sợ đời sau;
Không
chừa sự dữ nào.
Thà
nuốt viên sắt cháy,
Nó
nóng như lửa đỏ;
Chứ
không nên phạm giới
Mà
nhận đời cúng thí.
Nếu
biết sợ khổ sở,
Không
thích nghĩ tưởng đến;
Chỗ
sáng, hay kín đáo
Chớ
tạo tác nghiệp ác.
Nếu
tạo nghiệp bất thiện,
Đã
làm, nay đang làm,
Trọn
không giải thoát được
Cũng
không có chỗ tránh.
Đức
Phật nói bài tụng rồi, lại hỏi rằng:
“Này
La-vân, ngươi nghĩ thế nào, người ta dùng gương để làm
gì?”
La-vân
trả lời rằng:
“Bạch
Thế Tôn, để nhìn xem khuôn mặt sạch hay không sạch”.
“Cũng
vậy, này La-vân, nếu ngươi sắp hành động với thân nghiệp
thì hãy quán sát thân nghiệp ấy rằng: ‘Ta sắp làm thân
nghiệp; thân nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh? Vì mình mà làm
hay vì người khác?’ Này La-vân, nếu khi quán sát như vậy,
mà biết rằng: ‘Ta sắp làm thân nghiệp, vì mình mà làm
hay vì người khác. Đó là thân nghiệp bất thiện, nó sẽ
đưa đến khổ quả và phải thọ lấy khổ báo’. Này La-vân,
ngươi nên bỏ thân nghiệp bất thiện sắp được làm ấy
đi. Này La-vân, nếu khi quán sát như vậy mà biết rằng: ‘Ta
sắp làm thân nghiệp, vì mình mà làm hay vì người khác. Đó
là thân nghiệp thiện, nó sẽ đưa đến lạc quả và sẽ
thọ lấy lạc báo’. Này La-vân, ngươi hãy thực hiện thân
nghiệp sẽ làm ấy.
“Này
La-vân, ngươi hiện đang hành động với thân nghiệp, hãy
quán sát thân nghiệp ấy rằng: ‘Ta đang làm thân nghiệp;
thân nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh? Vì mình làm hay vì người
khác?’ Này La-vân, khi quán sát như vậy mà biết rằng: ‘Ta
đang làm thân nghiệp; thân nghiệp này tịnh, vì mình làm hay
vì người khác. Đó là thân nghiệp bất thiện sẽ đưa đến
khổ quả và thọ lấy khổ báo’. Này La-vân, ngươi nên bỏ
thân nghiệp đang làm ấy đi. Này La-vân, nếu khi quán sát
như vậy, mà biết rằng: ‘Ta đang làm thân nghiệp; thân nghiệp
ấy bất tịnh, vì mình làm hay vì người khác. Nghiệp ấy
thiện, sẽ đưa đến lạc quả và thọ lấy lạc báo’. Này
La-vân, ngươi hãy nên thực hiện thân nghiệp đang làm ấy.
“Này
La-vân, nếu ngươi đã hành động với thân nghiệp, hãy quán
sát thân nghiệp ấy rằng: ‘Ta đã làm thân nghiệp; thân
nghiệp ấy đã quá khứ, đã diệt tận, đã biến dịch. Nó
là tịnh hay bất tịnh? Vì mình hay vì người khác?’ Này
La-vân, nếu khi quán sát như vậy mà biết rằng: ‘Ta đã
làm thân nghiệp; thân nghiệp ấy đã quá khứ, diệt tận,
biến dịch, thân nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh, vì mình làm
hay vì người khác. Nghiệp ấy là bất thiện, sẽ đưa đến
khổ quả và phải thọ lấy khổ báo’. Này La-vân, ngươi
hãy đến nơi người phạm hạnh, thiện tri thức, chí tâm
phát lộ thân nghiệp đã tạo ra, xin ăn năn lỗi lầm, cẩn
thận không giấu giếm, rồi phải khéo léo giữ gìn.
“Này
La-vân, nếu khi quán sát như vậy, mà rằng: ‘Ta đã làm thân
nghiệp. Thân nghiệp ấy đã quá khứ, diệt tận, biến dịch,
thân nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh, vì mình làm hay vì người
khác. Nghiệp ấy thiện, sẽ đưa đến lạc quả và thọ lấy
lạc báo’. Này La-vân, ngươi nên ngày đêm vui mừng, an trụ
chánh niệm, chánh trí.
“Với
khẩu nghiệp cũng lại như vậy.
“Này
La-vân, nếu nhân việc làm trong quá khứ nên đã sanh ý nghiệp,
hãy quán sát ý nghiệp ấy rằng: ‘Nếu nhân việc làm trong
quá khứ đã sanh ý nghiệp, ý nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh,
là vì mình làm hay vì người khác?’ Này La-vân, nếu khi quán
như vậy, mà biết nhân việc làm trong quá khứ mà sanh ra ý
nghiệp; ý nghiệp đã quá khứ, diệt tận, biến dịch. Ý
nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh, tự mình làm hay vì người
khác. Nếu ý nghiệp ấy là bất thiện sẽ đưa đến khổ
quả và phải thọ lấy khổ báo. Này La-vân, ngươi nên bỏ
ý nghiệp trong quá khứ ấy đi. Này La-vân, nếu khi quán như
vậy, mà rằng nhân việc làm trong quá khứ mà đã sanh ra ý
nghiệp; ý nghiệp ấy đã quá khứ, diệt tận, biến dịch;
ý nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh, vì mình hay vì người khác.
Nếu ý nghiệp ấy là thiện sẽ đưa đến lạc quả và thọ
lấy lạc báo. Này La-vân, ngươi đến thọ nhận ý nghiệp
quá khứ ấy.
“Này
La-vân, nhân việc làm trong vị lai nên sẽ sanh khởi ý nghiệp,
hãy quán sát ý nghiệp ấy rằng: ‘Nếu nhân việc làm trong
vị lai sẽ sanh ý nghiệp; ý nghiệp ấy là tịnh hay bất tịnh,
tự mình làm hay vì người khác?’ Này La-vân, nếu khi quán
như vậy, mà biết rằng ‘Nhân việc làm trong vị lai mà sẽ
sinh ý nghiệp; ý nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh, vì mình làm
hay vì người khác. Nếu ý nghiệp ấy là bất thiện sẽ đưa
đến khổ quả và phải thọ lấy khổ báo’. Này La-vân,
ngươi nên xả bỏ ý nghiệp trong vị lai đó đi. Này La-vân,
nếu khi quán sát như vậy, liền biết rằng: ‘Nhân việc
làm trong vị lai mà sanh ý nghiệp; ý nghiệp đó tịnh hay bất
tịnh, vì mình làm hay vì người khác. Nếu ý nghiệp ấy là
thiện, sẽ đưa đến lạc quả và thọ lấy lạc báo. Này
La-vân, ngươi nên nhận lãnh ý nghiệp trong vị lai ấy.
“Này
La-vân, nhân việc làm trong hiện tại nên đang sanh khởi ý
nghiệp, hãy nên quán sát ý nghiệp ấy rằng: ‘Nếu nhân
việc đang làm trong hiện tại nên sanh khởi ý nghiệp, ý nghiệp
ấy tịnh hay bất tịnh, vì mình làm hay vì người khác?’
Này La-vân, nếu khi quán sát như vậy, mà biết rằng: ‘Nhân
việc đang làm trong hiện tại nên đang sanh khởi ý nghiệp;
ý nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh, vì mình làm hay vì người
khác. Nếu nghiệp ấy là bất thiện, sẽ đưa đến khổ quả
và sẽ thọ lấy khổ báo’. Này La-vân, ngươi nên xả bỏ
ý nghiệp trong hiện tại ấy đi. Này La-vân, nếu khi quán
sát như vậy, mà biết rằng: ‘Nhân có việc đang làm trong
hiện tại nên đang sanh khởi ý nghiệp; ý nghiệp ấy tịnh
hay bất tịnh, vì mình làm hay vì người khác. Nếu ý nghiệp
ấy là thiện sẽ đưa đến lạc quả và thọ lấy lạc báo’.
Này La-vân, ngươi nên nhận lãnh ý nghiệp hiện tại ấy.
“Này
La-vân, nếu trong quá khứ đã có những vị Sa-môn, Phạm chí
tạo nghiệp thân, khẩu, ý; đã quán sát rồi, lại quán sát
nữa; đã thanh tịnh, lại thanh tịnh nữa. Tất cả những
vị ấy, ngay nơi nghiệp thân, khẩu, ý của mình, quán rồi
lại quán nữa, đã tịnh rồi lại tịnh hơn nữa.
Này
La-vân, nếu trong vị lai sẽ có những vị Sa-môn, Phạm chí
tạo nghiệp thân, khẩu, ý, sẽ quán rồi lại quán nữa, sẽ
thanh tịnh rồi lại thanh tịnh hơn. Tất cả những vị ấy
ngay nơi thân nghiệp, khẩu, ý nghiệp của mình, quán rồi
lại quán nữa, sẽ thanh tịnh rồi lại thanh tịnh hơn.
“Này
La-vân, nếu trong hiện tại có những Sa-môn, Phạm chí tạo
nghiệp thân, khẩu, ý; đang quán rồi lại quán nữa, đang
thanh tịnh rồi lại thanh tịnh hơn. Tất cả những vị ấy
ngay nơi nghiệp thân, khẩu, ý của mình, đang quán rồi lại
quán nữa, đang thanh tịnh rồi lại thanh tịnh hơn.
“Này
La-vân, ngươi nên học như thế. Chính Ta cũng ngay nơi nghiệp
thân, khẩu, ý của Ta, đang quán rồi lại sẽ quán, đang thanh
tịnh rồi lại thanh tịnh hơn”.
Rồi
thì, Đức Thế Tôn lại nói bài tụng rằng:
Thân
nghiệp và khẩu nghiệp,
Ý
nghiệp, này La-vân!
Pháp
thiện hay bất thiện;
Ngươi
hãy thường quán sát.
Đã
biết còn nói dối,
Này
La-vân đừng nói.
Tai
hại do nói dối,
Sao
lại dám nói dối?
Pháp
Sa-môn bị úp,
Trống
không, không chơn thật;
Đó
chính là nói dối,
Không
giữ gìn miệng mình.
Cho
nên không nói dối,
Là
con bậc Chánh giác.
Đó
là pháp Sa-môn,
La-vân
hãy nên học.
Nơi
nơi vui sung túc,
An
ổn, không sợ hãi,
La-vân
muốn đến đó,
Đừng
làm hại người khác.
Phật
thuyết như vậy. Tôn giả La-vân và các Tỳ-kheo sau khi nghe
Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Chú thích
[1]
Tương đương
Pāli:
M.61. Ambataṭṭhikā-Rāhulovādasuttaṃ.
[2]
Vương xá thành Trúc lâm Ca-lan-đa
viên王
舍 城 竹 林 迦 蘭 哆 圓. Pāli:
Rājagahe...
Veluvāne
Kalandakanivāpe.
[3]
Tôn giả La-vân尊
者 羅 云, tức
La-hầu-la羅
睺 羅. Pāli: Āyasmant
Rahula.
[4]
Ôn tuyền lâm溫
泉 林. Pāli:
Tapodārāma,
tinh xá Ôn tuyền hay Suối nước nóng, ở phụ cận thành Vương
xá. Bản Pāli,
bấy giờ Rahula ở rừng Ambalaṭṭhikā.