13.
KINH ĐỘ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật du hóa tại nước Xá-vệ, ở tại Thắng lâm trong
vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Có
ba độ xứ[2]
khác chủng tánh, khác danh xưng, khác tông chỉ, khác học thuyết,
mà dù cho người có trí tuệ khéo nhận lãnh, khéo ghi nhớ[3]
để nói cho người khác[4],
nhưng cũng không thu hoạch được lợi ích[5].
“Những
gì là ba? Hoặc có Sa-môn, Phạm chí thấy như vậy, nói như
vậy: Tất cả hành vi của con người đều nhân túc mạng
định sẵn[6].
“Lại
có Sa-môn, Phạm chí thấy như vậy, nói như vậy: Tất cả
hành vi của con người đều do Đấng Tôn Hựu[7]
định sẵn.
“Lại
có Sa-môn, Phạm chí thấy như vậy, nói như vậy: Tất cả
hành vi của con người đều vô nhân, vô duyên[8].
“Ở
trong đây, nếu có Sa-môn, Phạm chí nào thấy như vầy, nói
như vầy: ‘Tất cả hành vi của con người đều nhân túc
mạng định đoạt’, Ta liền đến nơi người kia; đến rồi
liền hỏi: ‘Này Hiền giả, có thật Hiền giả thấy như
vầy, nói như vầy: Tất cả hành vi của con người đều nhân
túc mạng định đoạt chăng? Người kia trả lời rằng: ‘Thật
vậy’. Ta lại nói với người kia rằng: ‘Nếu quả thật
như vậy, các Hiền giả đều là những kẻ sát sanh cả. Vì
sao thế? Bởi vì tất cả đều nhân túc mạng định đoạt
sẵn[9].
Cũng vậy, chư Hiền là những kẻ trộm cắp, tà dâm, nói
láo cho đến tà kiến. Tại sao thế? Bởi vì tất cả đều
nhân túc mạng định đoạt sẵn. Này chư Hiền, đối với
kiến chấp rằng: Tất cả đều nhân túc mạng định đoạt
sẵn, mà cho là như thật, thì ở bên trong, nhân bên trong[10],
những điều nên hay không nên làm, hoàn toàn không có ý dục,
không có phương tiện[11].
Này chư Hiền, nếu đối với điều nên làm và không nên
làm mà không biết đúng như thật thì sẽ mất chánh niệm,
không có chánh trí[12],
thì không có cách nào giáo hóa đúng theo pháp của Sa-môn được[13]’.
Nói như vậy mới có thể dùng lý để khuất phục các Sa-môn,
Phạm chí kia.
“Ở
đây, nếu có Sa-môn, Phạm chí nào, thấy như vầy, nói như
vầy: ‘Tất cả hành vi đều nhân Đấng Thiên Hựu định
đoạt’. Ta liền đi đến chỗ người kia, đến rồi liền
hỏi: ‘Này Hiền giả, có thật Hiền giả thấy như vầy,
nói như vầy: Tất cả hành vi của con người đều nhân Thiên
Hựu định đoạt chăng? Người kia trả lời rằng: ‘Thật
vậy’. Ta lại nói với người kia rằng: ‘Nếu quả thật
như vậy, các Hiền giả đều là những kẻ sát sanh cả. Vì
sao thế? Bởi vì tất cả đều nhân Thiên Hựu định đoạt
sẵn. Cũng vậy, này chư Hiền là những kẻ trộm cắp, tà
dâm, nói láo cho đến tà kiến. Tại sao thế? Bởi vì tất
cả đều nhân Thiên Hựu định đoạt sẵn. Này chư Hiền,
đối với kiến chấp rằng: Tất cả đều nhân Thiên Hựu
định đoạt sẵn, mà cho là như thật, thì ở bên trong, nhân
bên trong, những điều nên hay không nên làm, hoàn toàn không
có ý dục, không có phương tiện. Này chư Hiền, nếu đối
với điều nên làm và không nên làm mà không biết đúng như
thật thì sẽ mất chánh niệm, không có chánh trí, không có
cách nào giáo hóa đúng theo pháp của Sa-môn được’. Nói
như vậy mới có thể dùng lý để khuất phục các Sa-môn,
Phạm chí kia.
“Ở
đây, nếu có Sa-môn, Phạm chí nào thấy như vầy, nói như
vầy: ‘Tất cả hành vi của con người đều vô nhân vô duyên’.
Ta liền đi đến chỗ người kia, đến rồi liền hỏi: ‘Này
Hiền giả, có thật Hiền giả thấy như vầy, nói như vầy:
Tất cả hành vi của con người đều vô nhân vô duyên? Người
kia trả lời rằng: ‘Thật vậy’. Ta lại nói với người
kia rằng: ‘Nếu quả thật như vậy, các Hiền giả đều
là những kẻ sát sanh cả. Vì sao thế? Bởi vì tất cả đều
vô nhân vô duyên. Cũng vậy, chư Hiền là những kẻ trộm
cắp, tà dâm, nói láo cho đến tà kiến. Tại sao thế? Bởi
vì tất cả đều vô nhân vô duyên. Này chư Hiền, đối với
kiến chấp rằng: Tất cả đều vô nhân vô duyên, mà cho là
như thật, thì ở bên trong, nhân bên trong, những điều nên
hay không nên làm, hoàn toàn không có ý dục, không có phương
tiện. Này chư Hiền, nếu đối với điều nên làm và không
nên làm mà không biết đúng như thật thì sẽ mất chánh niệm,
không có chánh trí, thì không có cách nào giáo hóa đúng theo
pháp của Sa-môn được’. Nói như vậy mới có thể dùng
lý để khuất phục các Sa-môn, Phạm chí kia.
“Những
pháp mà ta tự mình biết, tự mình giác ngộ, thuyết giảng
cho các ngươi; dù là Sa-môn, Phạm chí, Thiên, Ma, Phạm và
các loài thế gian khác đều không thể khuất phục được,
không thể làm cho ô uế được, không thể chế phục được.
Thế nào là những pháp mà ta tự mình biết, tự mình giác
ngộ, thuyết giảng cho các ngươi; dù là Sa-môn, Phạm chí,
Thiên, Ma, Phạm và các loài thế gian khác đều không thể
khuất phục được, không thể làm cho ô uế được, không
thể chế phục? Đó là pháp sáu xứ mà ta tự mình biết,
tự mình giác ngộ, thuyết giảng cho các ngươi; dù là Sa-môn,
Phạm chí, Thiên, Ma, Phạm và các loài thế gian khác đều
không thể khuất phục được, không thể làm cho ô uế được,
không thể chế phục.
“Lại
có pháp sáu giới mà ta tự mình biết, tự mình giác ngộ,
thuyết giảng cho các ngươi; dù là Sa-môn, Phạm chí, Thiên,
Ma, Phạm và các loài thế gian khác đều không thể khuất
phục được, không thể làm cho ô uế được, không thể chế
phục.
“Thế
nào là pháp sáu xứ mà ta tự mình biết, tự mình giác ngộ,
thuyết giảng cho các ngươi? Đó là nhãn xứ, nhĩ, tỷ, thiệt,
thân, ý xứ. Đó là pháp sáu xứ ta đã tự tri, tự giác,
ta nói cho các ngươi biết.
“Thế
nào là pháp sáu giới mà ta tự mình biết, tự mình giác ngộ,
thuyết giảng cho các ngươi? Đó là địa giới, thủy, hỏa,
phong, không và thức giới. Đó là pháp sáu giới mà ta đã
tự tri tự giác, đã nói cho các ngươi biết.
“Do
hòa hiệp của sáu giới[14]
nên sanh thai mẹ. Nhân sáu giới mà có sáu xứ[15];
nhân sáu xứ có xúc[16],
nhân xúc mà có thọ[17].
“Này
các Tỳ-kheo, nếu ai có cảm thọ liền biết như thật về
Khổ, biết về Khổ tập, biết về Khổ diệt, biết như thật
về Khổ diệt đạo. Thế nào là biết như thật về khổ?
Là sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, thù nghịch gặp
nhau là khổ, yêu thương mà chia ly là khổ, mong muốn mà không
được là khổ. Tóm lại, năm ấm xí thạnh là khổ.
“Thế
nào là biết như thật về Khổ tập? Do Ái mà thọ Hữu trong
tương lai cùng với lạc dục, mong cầu hữu nơi này hay nơi
kia[18].
Đó là biết như thật về Khổ tập.
“Thế
nào là biết như thật về Khổ diệt? Do Ái này mà thọ Hữu
trong tương lai cùng với lạc dục, mong cầu hữu nơi này hay
nơi kia, tất cả như vậy đã đoạn trừ không còn dư tàn,
đã xả ly, diệt tận, vô dục, tịch tĩnh, tịch diệt. Đó
gọi là biết như thật về Khổ diệt[19].
“Thế
nào là biết như thật về Khổ diệt đạo? Đó là tám chi
thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định là tám. Đó
là biết như thật về Khổ diệt đạo.
“Tỳ-kheo
nên biết như thật về Khổ, nên đoạn Khổ tập, nên thực
chứng Khổ diệt, nên tu Khổ diệt đạo. Nếu Tỳ-kheo nào
biết như thật về Khổ, đoạn Khổ tập, thực chứng Khổ
diệt, tu Khổ diệt đạo, thì đó là Tỳ-kheo đã tận trừ
tất cả lậu, đã giải trừ các kết, có thể bằng chánh
trí chứng đắc Khổ đế”.
Phật
thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan
hỷ phụng hành.
Chú thích
[1]
Tương đương
Pāli:
A.II. 61 Tittha (hoặc Titthāyatana-sutta).
[2]
Hán: độ
xứ度
處. Pāli:
titthāyatana,
chỗ vượt qua sông. Tittha cũng chỉ tông phái hay giáo phái,
do đó,
Titthāyatana
cũng chỉ căn
cứ hay nền tảng lập thuyết của các giáo phái.
[3]
Pāli:
paṇḍitehi samanuyuñjayamānāni
samanugāhiyamānāni
samanubhassiya-mānāni,
“bị các nhà thông thái nạn vấn, chất vấn, khuyến cáo”.
[4]
Pāli:
paraṃ gantvā,
“sau khi đến
với người khác”. Tức là, có thể giảng giải lại cho
người khác.
[5]
Pāli:
akiriyāya
saṇṭhahanti, “chúng (các học thuyết ấy) không mang lại
hữu ích gì”.
[6]
Hán: nhất thiết giai nhân túc mạng tạo一
切 皆 因 宿 命 造, "Tất
cả đều
do nhân túc mạng”, nguyên nhân đã định
sẵn từ đời
trước. Pāli:
taṃ sabbaṃ pubbekatahetū.
[7]
Hán: Tôn Hựu 尊佑,
Thượng đế.
Pāli:
Issaranimanahetū,
nguyên nhân do Thượng đế
biến hóa ra hay sáng tạo.
[8]
Hán: vô nhân vô duyên無
因 無 緣, thuyết
tự nhiên, không có nguyên nhân và điều
kiện. Pāli:
ahetu-appaccayā.
[9]
Bản Pāli:
pāṇātipātino
bhavissanti pubbekatahetu, “họ sẽ (được
coi như) là những kẻ sát sanh, do hành động đời
trước”.
[10]
Hán: ư nội nhân nội於
內 因 內.
Pāli,
không tìm ra ý nghĩa tương đương.
[11]
Hán: vô dục vô phương tiện無
欲 無 方 便. Pāli:
na hoti chando vā
vāyāmo,
không có ước muốn, không có nỗ lực.
[12]
Pāli:
mujṭṭhassatīnaṃ
anārakkhānaṃ
viharataṃ, sống xao lãng, không giữ gìn (các căn).
[13]
Pāli:
na hoti paccattaṃ sahadhammiko samaṇavādo,
không thể tự gọi mình là Sa-môn một cách chân chánh.
[14]
Hán: lục giới hiệp六
界 合. Pāli:
channaṃ dhātūnaṃ
upādāya
gabbhassāvavakkanti
hoti, do chấp thủ (y trên) sáu giới mà có sự nhập thai.
[15]
Bản Pāli:
nhân nhập thai mà có danh sắc... xúc... thọ.
[16]
Nguyên Hán: canh lạc 更樂.
[17]
Nguyên Hán: giác覺.
[18]
Bản Pāli:
vô minh duyên hành, hành duyên thức, cho đến,
sanh duyên già...
[19]
Bản Pāli:
do vô minh diệt không dư tàn nên hành diệt...