12.
KINH HÒA-PHÁ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật du hóa tại Thích-ki-sấu[2]
nước Ca-duy-la-vệ[3],
trong vườn Ni-câu-loại[4].
Bấy
giờ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên[5]
cùng với chúng Đại Tỳ-kheo sau giờ ăn trưa[6],
vì có việc nên tập họp ngồi tại giảng đường. Lúc bấy
giờ Ni-kiền[7]
có một người đệ tử thuộc dòng họ Thích tên Hòa-phá[8],
sau giờ ăn trưa, thong thả đi đến chỗ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên;
cùng chào hỏi nhau rồi ngồi sang một bên.
Bấy
giờ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên hỏi sự việc như thế
này:
“Này
Hòa-phá, ý ông nghĩ sao? Giả sử có Tỳ-kheo thủ hộ thân,
miệng, ý; trong trường hợp này, ông có thấy vị ấy nhân
đó mà sanh khởi lậu bất thiện, khiến cho đến đời sau
chăng[9]?”
Hòa-phá
trả lời rằng:
“Này
Đại Mục-kiền-liên, giả sử có vị Tỳ-kheo thủ hộ thân,
miệng, ý; trong trường hợp này tôi thấy rằng nhân đó mà
sanh khởi lậu bất thiện, khiến cho đến đời sau. Này Đại
Mục-kiền-liên, giả sử có ai ở đời trước hành bất thiện
hạnh, người ấy do đó mà sanh khởi lậu bất thiện khiến
cho đến đời sau[10]”.
Lúc
đó[11]
Đức Thế Tôn đang tĩnh tọa ở chỗ vắng vẻ; bằng thiên
nhĩ thanh tịnh siêu việt loài người, nghe Tôn giả Đại Mục-kiền-liên
và Thích Hòa-phá đệ tử của Ni-kiền cùng bàn luận như
thế.
Đức
Thế Tôn nghe xong, vào lúc xế chiều, rời chỗ tĩnh tọa,
đi đến giảng đường, trải chỗ và ngồi trước chúng Tỳ-kheo.
Sau khi ngồi, Đức Thế Tôn hỏi rằng:
“Này
Đại Mục-kiền-liên, vừa rồi ông cùng đệ tử của Ni-kiền
Thích Hòa-phá bàn luận về việc gì? Lại có việc gì mà
tập họp ngồi tại giảng đường?”
Tôn
giả Đại Mục-kiền-liên bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, hôm nay con cùng với chúng Đại
Tỳ-kheo sau giờ ăn trưa, vì có việc nên tập họp ngồi tại
giảng đường. Lúc bấy giờ đệ tử Ni-kiền thuộc Thích
Hòa-phá này, sau giờ ăn trưa, thong thả đi đến chỗ con;
cùng chào hỏi nhau rồi ngồi sang một bên. Con hỏi như vầy:
‘Này Hòa-phá, ý ông nghĩ sao? Giả sử có Tỳ-kheo thủ hộ
thân, miệng, ý; trong trường hợp này, ông có thấy vị ấy
nhân đó mà sanh khởi lậu bất thiện, khiến cho đến đời
sau chăng?’ Hòa-phá trả lời con rằng: ‘Này Đại Mục-kiền-liên,
giả sử có Tỳ-kheo thủ hộ thân, miệng, ý; trong trường
hợp này tôi thấy rằng nhân thế mà sanh khởi lậu bất thiện,
khiến cho đến đời sau. Này Đại Mục-kiền-liên, giả sử
có ai ở đời trước hành bất thiện hạnh, người ấy do
đó mà sanh khởi lậu bất thiện khiến cho đến đời sau’.
Bạch Thế Tôn, vừa rồi con cùng Thích Hòa-phá đệ tử Ni-kiền
bàn luận như vậy. Vì việc đó mà ngồi tập họp tại giảng
đường”.
Lúc
đó Đức Thế Tôn bảo Thích Hòa-phá, đệ tử của Ni-kiền
rằng:
“Nếu
những gì ta nói là đúng, ông trả lời là đúng; nếu không
đúng ông nên trả lời là không đúng. Ông có điều gì nghi
ngờ thì nên hỏi ta như vầy: ‘Sa-môn Cù-đàm, cái này có
sự gì? Cái này có ý nghĩa gì?’ Tùy những điều Ta nói
mà ông có thể tiếp nhận được thì Ta với ông có thể
bàn luận điều ấy”.
Hòa-phá
trả lời rằng:
“Sa-môn
Cù-đàm, nếu điều Ngài nói là đúng, tôi sẽ nói là đúng.
Nếu không đúng tôi sẽ nói là không đúng. Nếu có điều
nào nghi ngờ tôi sẽ hỏi Cù-đàm: ‘Thưa Cù-đàm, điều
này có sự gì? Điều này có nghĩa gì?’ Tùy theo những điều
Sa-môn Cù-đàm nói, tôi tiếp nhận. Vậy, Sa-môn Cù-đàm hãy
cùng tôi bàn luận việc ấy”.
Đức
Thế Tôn hỏi rằng:
“Ý
Hòa-phá nghĩ sao? Giả sử có Tỳ-kheo sanh khởi thân hành bất
thiện, lậu, nóng bức, ưu sầu[12].
Vị ấy sau đó thân hành bất thiện được diệt trừ, không
tạo thêm những nghiệp mới, vứt bỏ nghiệp cũ, tức thời
ngay trong đời hiện tại liền đạt đến cứu cánh, không
còn bị nóng bức, thường trụ bất biến, tức điều được
nói là được thấy bởi Thánh tuệ, được biết bởi Thánh
tuệ. Nếu thân hành bất thiện, khẩu hành bất thiện, ý
hành bất thiện, vô minh hành, lậu, nóng bức và ưu sầu[13],
người ấy sau đó diệt trừ vô minh hành bất thiện, không
tạo thêm những nghiệp mới, vứt bỏ nghiệp cũ, ngay trong
đời này liền chứng được cứu cánh, không còn nóng bức,
thường trú bất biến, tức điều được nói là được thấy
bởi Thánh tuệ, được biết bởi Thánh tuệ. Thế nào, này
Hòa-phá Tỳ-kheo thủ hộ thân, miệng, ý như vậy, trong trường
hợp
này ông có thấy vị đó nhân mà sanh khởi lậu bất thiện,
khiến cho đến đời sau chăng?”
Hòa-phá
trả lời rằng:
“Thưa
Cù-đàm, giả sử có vị Tỳ-kheo thủ hộ thân, miệng, ý
như vậy, trong trường hợp này tôi không thấy vị ấy do
đó mà sanh khởi lậu bất thiện khiến cho đến đời sau”.
Đức
Thế Tôn khen rằng:
“Lành
thay, Hòa-phá, thế nào, này Hòa-phá, nếu có Tỳ-kheo vô minh
đã dứt hết, minh đã sanh khởi. Vị ấy vô minh đã dứt
hết, minh đã sanh khởi; cảm giác về hậu thân[14]
sanh khởi thì biết là cảm giác về hậu thân sanh khởi; khi
cảm giác về hậu mạng[15]
sanh khởi thì biết là cảm giác về hậu mạng sanh khởi.
Khi thân hoại mạng chung, tuổi thọ đã kết thúc, ngay trong
đời này, tất cả mọi cảm giác đã ngưng bặt, tự thân
mình biết sẽ đi đến chỗ lãnh đạm hoàn toàn[16].
“Này
Hòa-phá, cũng như nhân cây mà có bóng. Giả sử có người
mang búa thật bén đến chặt đứt rễ cây, chặt nát ra thành
nhiều khúc, phá làm mười phần, hoặc trăm phần, đốt cháy
thành tro, rồi hoặc để gió thổi bay đi, hoặc mang bỏ vào
trong nước. Ý Hòa-phá nghĩ sao? Bóng nhân cây mà có; bóng
ấy do đó mà mất hẳn cái nhân của nó, nên tuyệt diệt
không còn sanh nữa chăng?”
Hòa-phá
trả lời rằng:
“Đúng
như thế, thưa Cù-đàm”.
“Này
Hòa-phá, nên biết vị Tỳ-kheo kia lại cũng như vậy. Vô minh
đã dứt hết, minh đã sanh khởi. Vị kia vô minh đã dứt hết,
minh đã sanh khởi; cảm giác về hậu thân sanh khởi thì biết
là cảm giác về hậu thân sanh khởi; khi cảm giác về hậu
mạng sanh khởi thì biết là cảm giác về hậu mạng sanh khởi.
Khi thân hoại mạng chung, tuổi thọ đã kết thúc, ngay trong
đời này, tất cả mọi cảm giác đã ngưng bặt, tự thân
mình biết sẽ đi đến chỗ lãnh đạm hoàn toàn. Này Hòa-phá,
vị Tỳ-kheo với tâm giải thoát chơn chánh[17]
như vậy, liền được sáu trụ xứ thiện[18].
Sáu trụ xứ đó là gì? Này Hòa-phá, Tỳ-kheo mắt thấy sắc
mà không hỷ, không ưu, xả cầu, vô vi, chánh niệm, chánh
trí. Này Hòa-phá, vị Tỳ-kheo chánh tâm giải thoát như vậy,
đó gọi là được trú xứ thiện thứ nhất. Cũng vậy, tai,
mũi, lưỡi, thân, ý biết pháp mà không hỷ không ưu, xả
cầu, vô vi, chánh niệm, chánh trí. Này Hòa-phá, vị Tỳ-kheo
chánh tâm giải thoát như vậy, đó gọi là được trụ xứ
thứ sáu.
Hòa-phá
bạch rằng:
“Đúng
như vậy, thưa Sa-môn Cù-đàm!”
“Đa
văn Thánh đệ tử chánh tâm giải thoát như vậy, được sáu
trụ xứ thiện. Sáu trụ xứ thiện là những gì?”
“Thưa
Cù-đàm, Đa văn Thánh đệ tử khi mắt thấy sắc, không hỷ,
không ưu, xả cầu[19],
vô vi, chánh niệm, chánh trí”.
“Này
Hòa-phá, Tỳ-kheo với tâm giải thoát chơn chánh như vậy,
được nói là đạt được trụ xứ thiện thứ nhất. Cũng
vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, ý biết pháp mà không hỷ, không
ưu, xả cầu, vô vi, chánh niệm, chánh trí. Này Hòa-phá, Tỳ-kheo
với tâm giải thoát chơn chánh như vậy được nói là đạt
được trụ xứ thiện thứ sáu. Này Hòa-phá, Tỳ-kheo với
tâm giải thoát chơn chánh như vậy, được sáu trú xứ thiện
này”.
Hòa-phá
bạch rằng:
“Đúng
như thế, thưa Cù-đàm, Đa văn Thánh đệ tử với tâm giải
thoát chơn chánh như vậy, được sáu trú xứ thiện. Thưa
Cù-đàm, Đa văn Thánh đệ tử khi mắt thấy sắc, không hỷ,
không
ưu, xả cầu, vô vi, chánh niệm, chánh trí. Thưa Cù-đàm, Đa
văn Thánh đệ tử với tâm giải thoát chơn chánh như vậy,
được nói là đạt được trụ xứ thiện thứ nhất. Cũng
vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, ý biết pháp mà không hỷ, không
ưu, xả cầu, vô vi, chánh niệm, chánh trí. Thưa Cù-đàm, Đa
văn Thánh đệ tử với tâm giải thoát chơn chánh như vậy
được nói là đạt được trụ xứ thiện thứ sáu. Như vậy,
Thưa Cù-đàm, Đa văn Thánh đệ tử với tâm giải thoát chơn
chánh như vậy, được sáu trụ xứ thiện này”.
Rồi
thì, Hòa-phá bạch Thế Tôn rằng:
“Bạch
đức Cù-đàm, con đã biết. Bạch Đức Thiện Thệ, con đã
hiểu. Bạch Đức Cù-đàm, cũng như người có mắt sáng, cái
gì bị úp thì lật lên; cái gì bị che đậy thì giở ra; đối
với người mê thì chỉ đường cho; trong tối tăm thì cho
ánh sáng để ai có mắt thì thấy ánh sáng màu sắc. Sa-môn
Cù-đàm cũng giống như vậy, vì con mà dùng vô lượng phương
tiện thuyết pháp và hiển hiện nghĩa lý, theo đạo thậm
thâm[20].
“Bạch
Thế Tôn, hôm nay con xin tự quy y với Phật, Pháp và Chúng
Tỳ-kheo, duy nguyện Thế Tôn nhận cho con làm Ưu-bà-tắc; kể
từ hôm nay trọn đời xin tự quy y, cho đến mạng chung.
“Bạch
Thế Tôn, cũng như người nuôi con ngựa dở mà mong có lợi
ích. Bạch Thế Tôn, con cũng như vậy. Ni-kiền ngu si kia không
khéo hiểu rõ, không thể giải biết, không biết được ruộng
tốt, không suy xét mà cung kính, lễ bái, phụng sự trong một
thời gian dài, mong được lợi ích, nhưng chỉ luống nhọc
khổ, vô ích. Bạch Thế Tôn, con nay lần nữa xin tự quy y
Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo, duy nguyện Thế Tôn nhận cho
con làm Ưu-bà-tắc; kể từ hôm nay, trọn đời xin tự quy
y, cho đến mạng chung.
“Bạch
Thế Tôn, con vốn không biết nên đối với Ni-kiền ngu si
kia mà có tín, có kính, từ nay dứt hẳn. Vì sao thế? Vì phỉnh
gạt con vậy. Bạch Thế Tôn, nay lần thứ ba xin tự quy y với
Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo, duy nguyện Thế Tôn nhận lời
cho con làm Ưu-bà-tắc; hôm nay, trọn đời xin tự quy y, cho
đến khi mạng chung”.
Phật
thuyết như vậy. Thích Hòa-phá và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật
thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Tương đương
Pāli:
A.IV. 195 Vappa-sutta.
[2]
Thích-ki-sấu 釋羈瘦.
Pāli:
Sakkesu, “Giữa chúng những người Thích-ca.
[3]
Ca-duy-la-vệ 迦
維 羅 衛, cũng
gọi là Ca-tì-la-vệ迦
毗 羅 衛. Pāli:
Kapilavatthu, thủ phủ của người Thích-ca; quê hương của Đức
Thích Tôn.
[4]
Ni-câu-loại viên尼
拘 類 園. Pāli:
Nigrodhārāma,
khu rừng gần Kappilavathu (Ca-tỳ-la-vệ) của một người bộ
tộc Thích-ca tên là Nigrodha, được
cúng cho Phật khi ngài trở về sanh quán ngay khi Ngài thành Đạo
trong năm đầu
tiên.
[5]Đại
Mục-kiền-liên大
目 犍 連. Pāli:
Mahā-Moggallāna.
[6]
Hán: trung thực hậu中
食 後.
[7]
Ni-kiền, tức Ni-kiền Tử, hay Ni-kiền Thân Tử尼
乾 親 子. Pāli:
Nagaṇṭhā
Nātaputta.
[8]
Hòa-phá惒
破. Pāli:
Vappa, trùng tên với một trong năm đệ
tử đầu
tiên của Phật.
[9]
Pāli:
Idha assa Vappa kāyena
saṃvutto vācāya
saṃvutto manasā
saṃvutto avijjāvirāgā
vijjuppādā
passasi no tvaṃ Vappa taṃ ṭhānāṃ
yatonidānaṃ
purisaṃ dukkhavedaniyāāsavā
assaveyyuṃ abhisamparāyam
ti, “Này Vappa, ở đây
có người phòng hộ thân, phòng hộ miệng, phòng hộ ý, xa
lìa vô minh, sanh khởi minh; do nhân duyên nào đó
mà người trong đời
vị lai có thể khởi lên các lậu dẫn đến
thọ khổ ấy. Này Vappa, ông có thấy trường hợp ấy chăng?”
[10]
Pāli:
pubbe pāpakammaṃ
kataṃ avipakkavipākaṃ,
tatonidānaṃ
purisaṃ dukkhavedaniyāāsavā
assaveyyuṃ abhisamparāyaṃ,
“ác nghiệp được
làm trong quá khứ nhưng quả dị thục chưa chín do nhân duyên đó
người ấy trong tương lai có thể khởi lên lậu hoặc dẫn đến
cảm thọ khổ.
[11]
Bản Tống-Nguyên-Minh: bỉ thời 彼時;
bản Cao-ly: hậu thời後
時, sau đó.
[12]
Hán: lậu phiền nhiệt ưu thích漏
煩 憂 熱 憂 戚. Pāli:
kāyasamārambhapaccayā
uppajjanti āsavā
vighātaparilāhā,
“do duyên là sự hoạt động
của thân mà phát sinh các lậu, (là những thứ) gây tàn hại,
nóng bức”.
[13]
Vô minh hành... ưu sầu, Pāli:
avijjāpaccayā
uppajjanti āsavā...,
“do duyên là vô minh mà sinh khởi các lậu...”
[14]
Hán: hậu thân giác後
身 覺.
Pāli:
kāyapariyantikaṃ
vedanaṃ vediyamāno,
khi có cảm giác về cảm thọ của thân tối hậu.
[15]
Hán: hậu mạng giác後命覺.
Pāli:
jīvapariyantikaṃ
vedanaṃ, cảm thọ của sinh mạng tối hậu.
[16]
Hán: cứu cánh lãnh究
竟 冷. Pāli:
sīti,
lạnh lùng.
[17]
Hán: chánh tâm giải thoát正
心 解 脫.
Pāli:
sammāvimuttacitta,
tâm được
giải thoát hoàn toàn.
[18]
Hán: lục thiện trú xứ六
善 住 處.
Pāli:
cha satatavihārā,
sáu hằng trú, an trú thường hằng.
[19]
Hán: xả cầu捨
求.
Pāli:
upekkhako viharati, vị ấy sống với trạng thái xả.
[20]
Bản Cao-ly: tùy kỳ chư đạo隨
其 諸 道. Các
bản Tống-Nguyên-Minh: tùy thậm thâm đạo隨
甚 深 道.