10.
KINH LẬU TẬN[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật du hóa ở Câu-lâu-sấu[2],
tại đô ấp Kiếm-ma-sắt-đàm, đô ấp của Câu-lâu[3].
Bấy
giờ Đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
tri, do kiến[4] mà các lậu bị
tận diệt chớ không phải do không tri, không kiến.
“Sao
gọi là do tri, do kiến mà các lậu bị tận diệt? Đó là
do có chánh tư duy và không chánh tư duy[5].
Nếu không chánh tư duy thì dục lạâu chưa sanh sẽ sanh; đã
phát sanh liền tăng trưởng; hữu lậu, vô minh lậu chưa sanh
sẽ phát sanh; đã phát sanh liền tăng trưởng[6].
Nếu có chánh tư duy thì dục lạâu chưa sanh sẽ không sanh,
đã sanh liền tiêu diệt. Hữu lậu và vô minh lậu chưa sanh
sẽ không sanh; đã sanh liền tiêu diệt.
“Những
người phàm phu ngu si, không được nghe chánh pháp, không được
gặp bậc chơn tri thức, không biết thánh pháp, không điều
ngự thánh pháp[7] không biết
pháp như thật. Nếu không có chánh tư duy, dục lậu chưa sanh
sẽ phát sanh, đã phát sanh liền tăng trưởng; hữu lậu và
vô minh lậu chưa sanh sẽ phát sanh; đã phát sanh liền tăng
trưởng. Nếu có chánh tư duy, dục lậu chưa sanh sẽ không
phát sanh, đã phát sanh liền tiêu diệt; hữu lậu và vô minh
lậu chưa sanh sẽ không phát sanh; đã phát sanh liền tiêu diệt.
Vì không biết pháp như thật do đó pháp không nên niệm lại
niệm, pháp nên niệm lại không niệm. Vì pháp không nên niệm
lại niệâm, pháp nên niệm lại không niệm, nên dục lậu
chưa sanh sẽ phát sanh, đã sanh liền tăng trưởng; hữu lậu
và vô minh lậu chưa sanh liền phát sanh, đã sanh liền tăng
trưởng.
“Thánh
đệ tử đa văn được nghe Thánh pháp, được gặp bậc chơn
tri thức, được điều ngự theo Thánh pháp, biết pháp như
thật, nhưng nếu không có chánh tư duy, thì dục lậu chưa
sanh sẽ phát sanh, đã sanh liền tăng trưởng; hữu lậu và
vô minh lậu chưa sanh liền phát sanh, đã sanh liền tăng trưởng.
Nếu có chánh tư duy, dục lậu chưa sanh sẽ không sanh, đã
sanh liền tiêu diệt; hữu lậu và vô minh lậu chưa sanh sẽ
không phát sanh, đã sanh liền tiêu diệt. Sau khi biết pháp
như thật, pháp không nên niệm thì không niệm, pháp nên niệm
liền niệm. Vì không niệm pháp không nên niệm và pháp nên
niệm liền niệm, nên dục lậu chưa sanh sẽ không phát sanh,
đã sanh liền tiêu diệt; hữu lậu và vô minh lậu chưa sanh
sẽ không phát sanh, đã sanh liền tiêu diệt.
“Có
bảy sự đoạn trừ lậu, phiền não, pháp ưu sầu. Những
gì là bảy? Có lậu được đoạn do kiến, có lậu được
đoạn do hộ, có lậu được đoạn do ly, có lậu được đoạn
do dụng, có lậu được đoạn do nhẫn, có lậu được đoạn
do trừ, có lậu được đoạn do tư duy.
“Thế
nào là lậu được đoạn do kiến[8]?
Kẻ phàm phu không được nghe chánh pháp, không gặp bậc chơn
trí thức, không biết Thánh pháp, không điều ngự Thánh pháp,
không biết như thật về pháp, không có chánh tư duy nên suy
nghĩ thế này: ‘Ta có đời quá khứ?[9]
Ta không có đời quá khứ ? Do nhân duyên gì ta có đời quá
khứ? Đời quá khứ ta như thế nào? Ta có đời vị lai? Ta
không có đời vị lai? Do nhân duyên gì ta có đời vị lai?
Ta có đời vị lai như thế nào?’ Người ấy hoài nghi về
mình rằng[10]: “Thân ta là gì,
nó là thế nào?[11] Nay chúng sanh
này từ đâu đến, và sẽ đi về đâu? Trước kia do nhân
gì mà có, và sẽ do nhân gì mà có?’ Người kia khởi tư
duy không chánh như vậy rồi, trong sáu tà kiến, một tà kiến
khởi lên cho rằng ‘Quả thật có thần ngã[12]’.
Hoặc một tà kiến khởi lên cho rằng ‘Quả thật không có
thần ngã’. Hoặc một tà kiến khởi lên cho rằng ‘Thần
ngã thấy là thần ngã[13]’.
Hoặc một tà kiến khởi lên cho rằng ‘Thần ngã thấy là
phi thần ngã[14]’. Hoặc một
tà kiến khởi lên cho rằng ‘Chính thần ngã ấy có thể
thấy, có thể biết, có thể hành động, có thể sai khiến
hành động, có thể đứng dậy, có thể sai khiến đứng dậy,
sanh vào nơi này, nơi kia, thọ lãnh thiện báo, ác báo; quyết
không từ đâu đến, quyết không phải đã có, quyết không
phải sẽ có[15]’. Đó tệ của
kiến[16]; bị kiến lay động,
bị kết sử của kiến buộc chặt. Kẻ phàm phu ngu si vì thế
mà phải chịu cái khổ của sanh, lão, bệnh, tử.
“Đa
văn Thánh đệ tử được nghe Thánh pháp, gặp bậc chơn tri
thức, được chế ngự theo Thánh pháp, biết pháp như thật,
biết như thật về Khổ, biết Khổ tập, biết Khổ diệt
và biết như thật Khổ diệt đạo. Biết như thật như thế
rồi, ba kết tận trừ. Khi ba kết là thân kiến, giới thủ,
và nghi đã trừ hết, chứng quả Tu-đà-hoàn, không còn đọa
lạc ác pháp, chắc chắn thăng tiến đến chánh giác, thọ
sanh tối đa bảy đời trong thiên thượng và nhân gian. Sau
bảy lần qua lại liền chứng đắc Khổ đế. Nếu không có
tri kiến thì phát sanh phiền não, ưu sầu, có tri kiến thì
không phát sanh phiền não, ưu sầu. Đó là lậu được đoạn
trừ do kiến.
“Có
lậu được đoạn trừ do hộ[17]
là gì? Tỳ-kheo khi mắt thấy sắc, nếu có phòng hộ nhãn
căn thì sẽ do chánh tư duy mà quán bất tịnh vậy; nếu không
phòng hộ nhãn căn thì sẽ do không chánh tư duy mà quán là
tịnh. Nếu không phòng hộ thì sanh phiền não, ưu buồn. Nếu
có phòng hộ thì không sanh phiền não, ưu buồn. Cũng vậy,
tai, mũi, lưỡi, thân và ý biết pháp mà có phòng hộ ý căn,
thì sẽ do chánh tư duy mà quán bất tịnh, nếu không phòng
hộ ý căn thì sẽ do không chánh tư duy mà quán là tịnh. Nếu
không phòng hộ thì sanh phiền não, ưu buồn, nếu có phòng
hộ thì không sanh phiền não, ưu buồn. Đó là có lậu được
đoạn trừ do hộ.
“Có
lậu được đoạn trừ do ly[18]
là gì? Tỳ-kheo khi thấy voi dữ thì nên xa lánh, ngựa dữ,
trâu dữ, chó dữ, rắn độc, đường hiểm, nhà tiểu, hầm
hố, sông ngòi, suối sâu, vách núi, ác tri thức, ác bằng
hữu, ác dị đạo, chòm xóm xấu, nơi cư trú xấu, hoặc Tỳ-kheo
ở chung một chỗ với các người phạm hạnh, người không
nghi ngờ mà khiến nghi ngờ, là những trường hợp phải nên
xa lánh[19]. Hãy nên xa lánh tất
cả ác tri thức, ác bằng hữu, ác ngoại đạo, ác dị đạo,
chòm xóm xấu, nơi cư trú xấu, hoặc Tỳ-kheo ở chung một
chỗ với các người phạm hạnh, người không nghi ngờ mà
khiến nghi ngờ. Nếu không xa lánh thì khởi sanh phiền não,
ưu sầu. Nếu xa lánh thì không phát sanh phiền não, ưu sầu.
Đó là lậu được đoạn trừ do ly.
“Có
lậu được đoạn trừ do dụng[20]
là gì? Tỳ-kheo khi thọ dụng y phục, chẳng phải để cầu
lợi, chẳng phải để kiêu hãnh, chẳng phải để trang sức,
mà vì muỗi mòng, gió mưa, lạnh nóng và vì hổ thẹn. Khi
thọ dụng đồ ăn uống chẳng phải vì mưu lợi, chẳng phải
để trang sức, chẳng phải để mập béo mà vì để làm thân
thể ở đời lâu dài, trừ phiền não, ưu buồn, vì để thực
hành phạm hạnh, vì muốn để bệnh cũ tiêu trừ đừng sanh
bệnh mới, và vì để sống lâu, an ổn, không bệnh hoạn.
Khi thọ dụng nhà cửa, phòng xá, giường nệm, ngọa cụ,
không phải để kiêu hãnh, chẳng phải để trang sức, mà
vì để lúc mệt mỏi có nơi an nghỉ, để được tĩnh tọa.
Khi thọ dụng thuốc thang không phải để mưu lợi, không phải
để kiêu hãnh, không phải để mập béo, mà chỉ để trừ
bệnh hoạn, để điều hòa mạng căn, để an ổn không bệnh.
Nếu không thọ dụng những thứ ấy thì sẽ sanh phiền não,
sầu lo, còn thọ dụng thì không sanh phiền não sầu lo. Đó
là hữu lậu được đoạn trừ do dụng.
“Có
lậu được đoạn trừ do nhẫn[21]
là gì? Tỳ-kheo tinh tấn đoạn trừ ác, bất thiện, tu tập
thiện pháp, nên luôn luôn có ý tưởng trỗi dậy[22],
chuyên tâm tinh tấn; thân thể, da, thịt, gân, xương, máu,
tủy, thà để khô kiệt tất cả chớ không bỏ tinh tấn.
Phải đạt được mục đích mong muốn mới xả sự tinh tấn.
Tỳ-kheo lại phải chịu đựng sự đói khát, lạnh nóng, muỗi
mòng, ruồi, bọ chét, chấy, dù gió hay nắng bức bách, bị
lời dữ, bị đánh đập, cũng đều có thể nhẫn chịu được.
Dù thân mạng bệnh tật rất là đau đớn đến nỗi gần
muốn tuyệt mạng, và những điều không thể ưa vui được,
tất cả đều chịu đựng được. Nếu không nhẫn chịu thì
sanh phiền não, ưu buồn, còn nhẫn chịu được thì không
sanh phiền não ưu buồn. Đó là lậu được đoạn trừ do
nhẫn.
“Có
lậu được đoạn trừ do trừ[23]
là gì? Tỳ-kheo nếu sanh khởi dục niệm mà không đoạn trừ,
hay xả ly; sanh nhuế niệm, hại niệm mà không đoạn trừ
xả ly. Nếu không trừ diệt thì sanh khởi phiền não, ưu buồn;
còn nếu trừ diệt thì không sanh phiền não, ưu buồn. Đó
là lậu được đoạn trừ do trừ.
“Có
lậu được đoạn trừ do tư duy[24]
là gì? Tỳ-kheo tư duy về giác chi thứ nhất là niệm, y viễn
ly, y vô dục, y diệt tận, thẳng đến xuất yếu; trạch pháp,
tinh tấn, hỷ, tức[25], định,
cho đến tư duy về giác chi thứ bảy là xả, y viễn ly, y
vô dục, y diệt tận, thẳng đến xuất yếu; nếu không tư
duy thì sanh phiền não, ưu sầu, còn có tư duy thì không sanh
phiền não ưu sầu. Đó là lậu được đoạn trừ do tư duy.
“Nếu
có Tỳ-kheo nào do kiến mà đoạn trừ các lậu được đoạn
trừ bởi kiến; do hộ mà đoạn trừ các lậu được đoạn
trừ bởi hộ; do ly mà đoạn trừ các lậu được đoạn trừ
bởi ly; do dụng mà đoạn trừ các lậu được đoạn trừ
bởi dụng; do nhẫn mà đoạn trừ các lậu được đoạn trừ
bởi nhẫn; do trừ mà đoạn trừ các lậu được đoạn trừ
bởi trừ; do tư duy mà đoạn trừ các lậu được đoạn trừ
bởi tư duy. Đó gọi là Tỳ-kheo đã đoạn trừ tất cả lậu,
đã giải trừ các kết phược, có thể bằng chánh trí mà
chứng đắc Khổ đế”.
Đức
Phật thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết,
hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Tương đương Pāli: M.2. Sabbāsava-sutta (kinh Nhất thiết lậu).
Biệt dịch: No.31. Phật Thuyết Nhất Thiết Lưu Nhiếp Thủ
Nhân Kinh, Hậu Hán, An Thế Cao dịch, Đại 1 tr.813; No.125(40.6)
Tăng Nhất “Thất Nhật Phẩm, kinh số 6”.
[2]
Câu-lâu-sấu 拘 樓 瘦, tức Pāli: Kurusu, giữa những người
(nước) Kuru. Nhưng, Pāli, M.2: Sāvatthiyaṃ viharati Jetavane...,
trú ở Xá-vệ, trong rừng Jeta... No.1 25 (40.6) cũng vậy, Xá-vệ
Kỳ thọ Cấp cô độc viên. No.31, Phật tại Câu-lưu, Tu hội
pháp nghị tư duy.
[3]
Kiếm-ma-sắt-đàm Câu-lâu đô ấp 劍 磨 瑟 曇 拘 樓 都 邑.
Pāli: Kammāsa-dhamma, thủ phủ của những người Kurū. Xem thêm
cht.2.
[4]
Dĩ tri, dĩ kiến cố 以 知 以見 故. Pāli: jānato... passato
āsavānaṃ khayaṃ vadāmi, “Ta nói sự diệt tận của các
lậu là do biết, do thấy”.
[5]
Chánh tư duy bất chánh tư duy 正 思 惟 不 正 思 惟. No.31.
Bổn quán, phi bổn quán 本 觀 非 本 觀, suy niệm đúng đắn
và suy niệm không đứng đắn. Pāli: yoniso ca manasikāraṃ ayoniso
ca manasikāraṃ, có như lý tác ý và không như lý tác ý (tư
niệm có phương pháp và không có phương pháp).
[6]
Ba lậu: Dục lậu 欲 漏 (Pāli: kāmāsava): Tất cả phiền não
ở cõi Dục, trừ vô minh. Hữu lậu 有 漏 (Pāli: bhavāsava):
Tất cả phiền não ở cõi Sắc trừ vô minh. Vô minh lậu 無
明 漏 (Pāli: avijjāsava): Vô minh trong ba cõi. Bản Pàli chỉ
nêu tổng quát: anuppannā c’eva āsavā... các lậu chưa sanh.
[7]
Hán: bất điều ngự Thánh pháp 不 調 御 聖 法, nghĩa là,
không được huấn luyện, hay điều phục theo Thánh pháp.
[8]
Lậu tùng kiến đoạn 漏 從 見 斷. Pāli: āsavā dassanā pahātabbā.
[9]
Pāli: ahosiṃ nu kho ahaṃ atītam addhānaṃ, “Ta đã hiện hữu
trong đời qua khứ?”
[10]
Hán: tự nghi 自 疑, ở đây, hoài nghi về sự hiện hữu của
mình trong đời hiện tại. Pāli: paccupānnaṃ addhānaṃ kathaṃkathī
hoti.
[11]
Hán: kỷ thân hà vị thị, vân hà thị 己 身 何 謂 是 云
何 是. Pāli: kin nu kho ‘smi, kathan nu kho ‘smi, “Tại sao ta
hiện hữu? Ta hiện hữu như thế nào?”
[12]
Hán: chân hữu thần 真 有 神, tự ngã được biết như là
linh hồn hay thần hồn. Pāli: atthi me attā ti, “Ta có tự ngã”.
[13]
Thần kiến thần 神 見 神. No.31: Tự kế thân thân kiến 自
計 身 身見. Pāli: attanā vā attānaṃ saṃjānāmīti, “do tự
mình, tôi biết có tự ngã”.
[14]
Hán: thần kiến phi thần 神 見 非 神. Pāli: attanā va anattānaṃ
saṃjānāmīti, “Không do tự mình, tôi biết có tự ngã.”
[15]
Hán: định vô sở tùng lai..., 定 無 所 從 來. Pāli: so kho
pana me ayaṃ attā nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo sassatisamaṃ
tath’eva ṭhassatīti, “Tự ngã của ta ấy thường trụ, kiên
cố, vĩnh hằng, không biến dịch, tồn tại vĩnh cửu”.
[16]
Hán: kiến chi tệ 見 之 弊... Pāli: Idaṃ vuccati... Diṭṭhigataṃ
diṭṭthigahanaṃ diṭṭhikantāraṃ diṭṭhivisūkaṃ diṭṭhivipphanditaṃ
diṭṭhisaṃyojanaṃ, “Đó được gọi là sở hành của tà
kiến, rừng rậm của tà kiến, đường hiểm của tà kiến,
tranh chấp của tà kiến, sự náo động của tà kiến, sự
trói buộc của tà kiến”.
[17]
Hán: lậu tùng hộ đoạn 漏 從 護 斷. Pāli: āsavā saṃvarā
pahātabbā, các lậu được đoạn trừ do phòng hộ.
[18]
Hán: lậu tùng ly đoạn 漏 漏 從 離 斷. Pāli: āsavā parivajjanā
pahātabbā, các lậu được đoạn trừ do bởi sự tránh xa.
[19]
Nghĩa là, tránh xa những Tỳ-kheo nào giao du bạn xấu, v.v...,
khiến các bạn đồng tu phải nghi ngờ.
[20]
Hán: lậu tùng dụng đoạn 漏 從 用 斷. Pāli: āsavā paṭisevanā
pahātabbā, các lậu được đoạn trừ do thọ dụng.
[21]
Hán: lậu tùng nhẫn đoạn 漏 從 忍 斷. Pāli: āsavā adhivāsanā
pahātabbā, các lậu được đoạn trừ do sức chịu đựng.
[22]
Hán: thường hữu khởi tưởng 常 有 起 想, luôn luôn có
ý tưởng tỉnh thức, không ham ngủ nghỉ.
[23]
Hán: lậu tùng trừ đoạn 漏 從 除 斷. Pāli: āsavā vinodā
pahātabbā.
[24]
Hán: lậu tùng tư duy đoạn 漏 從 思 惟 斷. Pāli: āsavā bhāvanā
pahātabbā, các lậu được đoạn trừ do tu tập.
[25]
Hán: tức 息, sự nghỉ ngơi; nhưng thường nói là khinh an.
Pāli: passaddhi.