9.
KINH THẤT XA[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại thành Vương xá[2],
trong tinh xá Trúc lâm[3], cùng
an cư mùa mưa với chúng Đại Tỳ-kheo.
Tôn
giả Mãn Từ Tử[4] cũng an cư
mùa mưa tại sinh quán mình. Lúc bấy giờ các Tỳ-kheo địa
phương, sau khi đã trải qua ba tháng an cư mùa mưa[5],
khâu vá lại các y đã xong, xếp y, cầm bát từ sinh quán đi
về phía thành Vương xá. Lần lượt đi về phía trước, đến
thành Vương xá, trú ở tinh xá Trúc lâm, tại thành Vương
xá.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo địa phương tới trước Đức Thế Tôn,
cúi đầu lễ bái rồi ngồi sang một bên. Đức Thế Tôn hỏi
rằng:
“Các
Tỳ-kheo, các ngươi từ đâu đến đây? An cư mùa mưa ở đâu?”
Các
Tỳ-kheo địa phương ấy thưa rằng:
“Bạch
Thế Tôn, chúng con từ sinh quán tới đây và an cư mùa mưa
tại sinh quán”.
Thế
Tôn hỏi:
“Trong
các Tỳ-kheo địa phương, Tỳ-kheo nào được các Tỳ-kheo
khen ngợi rằng: ‘Tự mình thiểu dục, tri túc và khen ngợi
thiểu dục, tri túc[6]; tự mình
nhàn cư[7] và khen ngợi nhàn cư;
tự mình tinh tấn và khen ngợi tinh tấn; tự mình chánh niệm
và khen ngợi chánh niệm; tự mình nhất tâm và khen ngợi nhất
tâm; tự mình có trí tuệ và khen ngợi trí tuệ; tự mình
lậâu tận và khen ngợi lạâu tận; tự mình khuyến phát,
khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ[8]
và khen ngợi khuyến phát, khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ’
chăng?”
Các
Tỳ-kheo địa phương bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, Tôn giả Mãn Từ Tử ở nơi sinh quán của mình,
được các Tỳ-kheo khen ngợi rằng: ‘Tự mình thiểu dục,
tri túc và khen ngợi thiểu dục tri túc; tự mình nhàn cư và
khen ngợi nhàn cư; tự mình tinh tấn và khen ngợi tinh tấn;
tự mình chánh niệm và khen ngợi chánh niệm; tự mình nhất
tâm và khen ngợi nhất tâm; tự mình có trí tuệ và khen ngợi
trí tuệ; tự mình lâu tận và khen ngợi lâu tận; tự mình
khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ và khen ngợi
khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ’.”
Lúc
bấy giờ Tôn giả Xá-lê Tử[9]
đang ngồi giữa đại chúng. Tôn giả Xá-lê Tử suy nghĩ như
vầy: “Thế Tôn theo sự thật mà hỏi các Tỳ-kheo địa phương
kia. Các Tỳ-kheo địa phương vô cùng khen ngợi Hiền giả
Mãn Từ Tử, là người ‘Tự mình thiểu dục, tri túc và
khen ngợi thiểu dục, tri túc; tự mình nhàn cư và khen ngợi
nhàn cư; tự mình tinh tấn và khen ngợi tinh tấn; tự mình
chánh niệm và khen ngợi chánh niệm; tự mình nhất tâm và
khen ngợi nhất tâm; tự mình có trí tuệ và khen ngợi trí
tuệ; tự mình lậu tận và khen ngợi lậu tận; tự mình khuyến
phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ và khen ngợi khuyến
phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ’.”
Tôn
giả Xá-lê Tử lại suy nghĩ: “Biết lúc nào tôi mới gặp
Hiền giả Mãn Từ Tử để hỏi một vài nghĩa lý? Hiền giả
ấy hoặc có thể nghe và trả lời những điều tôi hỏi”.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn, sau khi trải qua ba tháng an cư mùa mưa
ở thành Vương xá, khâu vá y xong, Ngài xếp y, ôm bát, từ
thành Vương xá đi đến nước Xá-vệ, lần lượt tiến về
phía trước, đến nước Xá-vệ, trú trong rừng Thắng lâm,
vườn Cấp cô độc.
Tôn
giả Xá-lê Tử và các Tỳ-kheo địa phương cùng ở lại Vương
xá vài ngày, rồi xếp y, ôm bát, đi đến nước Xá-vệ, lần
lượt tiến về phía trước, đến nước Xá -vệ, cùng ở
tại rừng Thắng lâm, vườn Cấp cô độc.
Lúc
bấy giờ Tôn giả Mãn Từ Tử ở tại sinh quán mình, sau khi
đã trải qua ba tháng an cư mùa mưa, đã khâu vá lại các y,
rồi xếp y, ôm bát, từ quê quán mình đi đến nước Xá-vệ,
lần lượt tiến về phía trước, đến nước Xá-vệ, cùng
ở trong rừng Thắng lâm, vườn Cấp cô độc.
Tôn
giả Mãn Từ Tử đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu làm lễ, rồi
trải Ni-sư-đàn phía trước Như Lai mà ngồi kiết già.
Bấy
giờ Tôn giả Xá-lê Tử hỏi các Tỳ-kheo rằng:
“Này
chư Hiền, vị nào là Hiền giả Mãn Từ Tử?”
Các
Tỳ-kheo bạch Tôn giả Xá-lê Tử:
“Xin
thưa, vị ngồi trước Như Lai, trắng trẻo, mũi cao như mỏ
chim Oanh vũ, là vị ấy”.
Tôn
giả Xá-lê Tử đã biết đúng mặt Mãn Từ Tử, liền ghi
nhớ kỹ. Tôn giả Mãn Từ Tử sau khi qua đêm, trời hừng
sáng, xếp y, cầm bát, đi vào Xá-vệ để khất thực. Sau
khi ăn trưa xong lại, thâu dọn y bát, rửa tay chân, vắt Ni-sư-đàn
lên vai, đến rừng An-đà[10],
chỗ đi kinh hành. Tôn giả Xá-lê Tử cũng sau khi qua đêm,
trời hừng sáng, xếp y, cầm bát, đi vào Xá-vệ để khất
thực. Sau khi ăn trưa xong lại, thâu dọn y bát, rửa tay chân,
vắt Ni-sư-đàn lên vai, đến rừng An-đà, chỗ đi kinh hành.
Bấy
giờ Tôn giả Mãn Từ Tử đến rừng An-đà, trải Ni-sư-đàn
dưới một gốc cây, ngồi kiết già. Tôn giả Xá-lê Tử cũng
đến rừng An-đà, cách Tôn giả Mãn Từ Tử không xa, trải
Ni-sư-đàn dưới một gốc cây ngồi kiết già.
Tôn
giả Xá-lê Tử vào lúc xế chiều, rời chỗ thiền tọa, đi
đến chỗ Mãn Từ Tử, cùng chào hỏi nhau rồi ngồi sang một
bên, và hỏi Tôn giả Mãn Từ Tử rằng:
“Này
Hiền giả, phải chăng Hiền giả theo Sa-môn Cù-đàm tu phạm
hạnh?”
Đáp
rằng:
“Đúng
vậy”
“Này
Hiền giả, vì lý do gì, có phải vì giới thanh tịnh[11]
nên ngài theo Sa-môn Cù-đàm tu phạm hạnh chăng?”
Đáp
rằng:
“Thưa,
không phải vậy”.
“Vì
tâm thanh tịnh[12], vì kiến thanh
tịnh[13], vì nghi thanh tịnh[14],
vì phi đạo tri kiến thanh tịnh[15],
vì đạo tích tri kiến[16] thanh
tịnh, vì đạo tích đoạn trí thanh tịnh[17]
nên Hiền giả theo Sa-môn Cù-đàm tu phạm hạnh chăng?”
Đáp:
“Không phải vậy”
Lại
hỏi:
“Tôi
vừa hỏi Hiền giả rằng: ‘Phải chăng Hiền giả theo Sa-môn
Cù-đàm tu phạm hạnh?’ Hiền giả đáp: ‘Đúng vậy’.
Rồi tôi hỏi Hiền giả: ‘Có phải vì giới thanh tịnh nên
Hiền giả theo Sa-môn Cù-đàm tu phạm hạnh chăng?’ thì Hiền
giả đáp: ‘Không phải vậy’; ‘Có phải vì tâm thanh tịnh,
vì kiến thanh tịnh, vì nghi thanh tịnh, vì phi đạo tri kiến
thanh tịnh, vì đạo tích tri kiến thanh tịnh, vì đạo tích
đoạn trí thanh tịnh nên Hiền giả theo Sa-môn Cù-đàm tu phạm
hạnh chăng?’ thì Hiền giả cũng lại đáp rằng ‘Không
phải vậy’. Nhưng theo ý nghĩa nào[18]
mà Hiền giả theo Sa-môn Cù-đàm tu phạm hạnh?”
Đáp:
“Này Hiền giả, vì Vô dư Niết-bàn vậy[19]”.
Lại
hỏi:
“Thế
nào, này Hiền giả, có phải vì giới thanh tịnh nên Sa-môn
Cù-đàm thi thiết Vô dư Niết-bàn chăng?”
“Đáp:
“Không phải vậy”.
Lại
hỏi:
“Vì
vì tâm thanh tịnh, vì kiến thanh tịnh, vì nghi thanh tịnh,
vì đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh, vì đạo tích tri kiến
thanh tịnh, vì đạo tích đoạn trí thanh tịnh nên Hiền giả
theo Sa-môn Cù-đàm thi thiết Vô dư Niết-bàn chăng?”
“Đáp:
“Không phải vậy”.
Lại
hỏi:
“Tôi
vừa hỏi Hiền giả, ‘Thế nào, này Hiền giả, có phải
vì giới thanh tịnh nên Sa-môn Cù-đàm thi thiết Vô dư Niết-bàn
chăng[20]?’ Hiền giả đáp: ‘Không
phải vậy’. ‘Vì tâm thanh tịnh, vì kiến thanh tịnh, vì
nghi thanh tịnh, vì đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh, vì đạo
tích tri kiến thanh tịnh, vì đạo tích đoạn trí thanh tịnh
nên Sa-môn Cù-đàm thi thiết Vô dư Niết-bàn chăng?’ Vậy
những điều Hiền giả nói có ý nghĩa gì? Làm thế nào để
biết được?”
Đáp
rằng:
“Này
Hiền giả: Nếu vì giới thanh tịnh mà Thế Tôn, Sa-môn Cù-đàm
thi thiết Vô dư Niết-bàn, thì đó là lấy hữu dư mà gọi
vô dư. Nếu vì tâm thanh tịnh, vì tri kiến thanh tịnh, vì
nghi cái thanh tịnh, vì đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh,
vì đạo tích tri kiến thanh tịnh, vì đạo tích đoạn trí
thanh tịnh mà Đức Thế Tôn Sa-môn Cù-đàm thi thiết Vô dư
Niết-bàn, thì tức là lấy hữu dư mà gọi là vô dư[21].
“Này
Hiền giả, nếu lìa pháp đó[22]
mà Đức Thế Tôn thi thiết Vô dư Niết-bàn thì phàm phu cũng
sẽ Bát-niết-bàn, bởi vì phàm phu cũng lìa pháp đó[23].
“Này
Hiền giả, nhưng vì giới thanh tịnh, nên tâm thanh tịnh; vì
tâm thanh tịnh nên kiến thanh tịnh; vì kiến thanh tịnh nên
nghi cái thanh tịnh; vì nghi cái thanh tịnh nên đạo phi đạo
tri kiến thanh tịnh; vì đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh
nên đạo tích tri kiến thanh tịnh; vì đạo tích tri kiến
thanh tịnh nên đạo tích đoạn trí thanh tịnh, nên Đức Thế
Tôn Sa-môn Cù-đàm thi thiết Vô dư Niết-bàn.
“Hiền
giả, xin hãy nghe thêm. Xưa, vua xứ Câu-tát-la là Ba-tư-nặc[24]
ở nước Xá-vệ, có việc ở Sa-kê-đế[25].
Nhà vua suy nghĩ như vầy: ‘Dùng phương tiện gì để trong
một ngày đi từ Xá-vệ đến Sa-kê-đế được?’ Lại suy
nghĩ như vầy: ‘Nay ta nên từ Xá-vệ đến Sa-kê-đế, ở
giữa đường đó, bố trí bảy cỗ xe’. Rồi thì, từ Xá-vệ
đến Sa-kê-đế, ở giữa đường đó, vua bố trí bảy cỗ
xe. Bố trí bảy cỗ xe xong, từ Xá-vệ nhà vua đi đến cỗ
xe thứ nhất, ngồi trên cỗ xe thứ nhất đi đến cỗ xe thứ
hai. Rồi bỏ cỗ xe thứ nhất cỡi cỗ xe thứ hai đến xe
thứ ba; bỏ cỗ xe thứ hai ngồi trên cỗ xe thứ ba đến cỗ
xe thứ tư; bỏ cỗ xe thứ ba ngồi trên cỗ xe thứ tư đến
cỗ xe thứ năm; bỏ cỗ xe thứ tư ngồi trên cỗ xe thứ năm
đến cỗ xe thứ sáu; bỏ cỗ xe thứ năm ngồi trên cỗ xe
thứ sáu đến cỗ xe thứ bảy; bỏ cỗ xe thứ sáu ngồi trên
cỗ xe thứ bảy; trong một ngày là đến Sa-kê-đế.
“Sau
khi làm việc xong ở Sa-kê-đế, ngồi trong chánh điện của
nhà vua, với các đại thần vây quanh. Quần thần tâu rằng:
“Tâu
Thiên vương, phải chăng chỉ trong một ngày mà Thiên vương
đi từ Xá-vệ đến Sa-kê-đế?
“Vua
nói: Đúng vậy.
“Tâu
Thiên vương, có phải Thiên vương cỡi cỗ xe thứ nhất mà
trong một ngày đi từ Xá-vệ đến Sa-kê-đế?
“Vua
nói:
“Không
phải vậy.
“Có
phải Ngài cỡi cỗ xe thứ hai, cỗ xe thứ ba cho đến cỗ
xe thứ bảy từ Xá-vệ đến Sa-kê-đế?
“Không
phải vậy.
“Thế
nào, này Hiền giả, nếu quần thần lại hỏi nữa, Ba-tư-nặc
quốc vương xứ Câu-tát-la sẽ đáp thế nào? Có phải vua
trả lời cho quần thần rằng:
“Ta
ở Xá-vệ có việc ở Sa-kê-đế, ta nghĩ thế này: ‘Dùng
phương tiện gì để trong một ngày đi từ Xá-vệ đến Sa-kê-đế
được?’ Lại suy nghĩ như vầy: ‘Nay ta nên từ Xá-vệ đến
Sa-kê-đế, ở giữa đường đó, bố trí bảy cỗ xe’. Rồi
thì, từ Xá-vệ đến Sa-kê-đế, ở giữa đường đó, ta
bố trí bảy cỗ xe. Bố trí bảy cỗ xe xong, từ Xá-vệ ta
đi đến cỗ xe thứ nhất, ngồi trên cỗ xe thứ nhất đi
đến cỗ xe thứ hai. Rồi bỏ cỗ xe thứ nhất cỡi cỗ xe
thứ hai đến cỗ xe thứ ba; bỏ cỗ xe thứ hai ngồi trên
cỗ xe thứ ba đến cỗ xe thứ tư; bỏ cỗ xe thứ ba ngồi
trên cỗ xe thứ tư đến cỗ xe thứ năm; bỏ cỗ xe thứ tư
ngồi trên cỗ xe thứ năm đến cỗ xe thứ sáu; bỏ cỗ xe
thứ năm ngồi trên cỗ xe thứ sáu đến cỗ xe thứ bảy;
bỏ cỗ xe thứ sáu ngồi trên cỗ xe thứ bảy; trong một ngày
là đến Sa-kê-đế.
“Như
vậy! Thưa Hiền giả, Ba-tư-nặc, vua xứ Câu-tát-la, trả lời
câu hỏi của quần thần như vậy.
“Cũng
vậy, thưa Hiền giả, vì giới thanh tịnh mà tâm thanh tịnh,
vì tâm thanh tịnh nên tri kiến thanh tịnh, vì tri kiến thanh
tịnh nên nghi cái thanh tịnh, vì nghi cái thanh tịnh, nên đạo
phi đạo tri kiến thanh tịnh, vì đạo phi đạo tri kiến thanh
tịnh nên đạo tri kiến thanh tịnh, vì đạo tích tri kiến
thanh tịnh nên đạo tích đoạn trí thanh tịnh, vì đạo tích
đoạn trí thanh tịnh nên Thế Tôn thi thiết Vô dư Niết-bàn”.
Bấy
giờ Tôn giả Xá-lê Tử hỏi Tôn giả Mãn Từ Tử:
“Hiền
giả tên là gì? Các vị phạm hạnh[26]
gọi Hiền giả như thế nào?”
Tôn
giả Mãn Từ Tử trả lời rằng:
“Hiền
giả, tôi hiệu[27] là Mãn. Thân
mẫu tôi tên Từ, do đó các vị phạm hạnh gọi tôi là Mãn
Từ Tử”.
Tôn
giả Xá-lê Tử tán thán rằng:
“Lành
thay! Lành thay! Tôn giả Mãn Từ Tử! Là đệ tử của Đức
Như Lai, trí biện hoàn hảo[28],
thông minh, quyết định, an lạc vô úy, thành tựu sự chế
ngự, đạt đến đại biện tài, được phướn cam lồ[29],
ở trong cam lồ giới[30] tự mình
đã chứng ngộ, thành tựu và an trụ. Vì khi hỏi Hiền giả
những ý nghĩa vô cùng sâu xa thảy đều được trả lời.
Hiền giả Mãn Từ Tử, những người phạm hạnh sẽ được
nhiều lợi ích, nếu gặp được Tôn giả Mãn Từ Tử, tùy
thời mà thăm viếng, tùy thời mà lễ bái. Nay tôi cũng được
lợi ích, tùy thời mà thăm viếng, tùy thời mà lễ bái. Những
người phạm hạnh nên quấn y trên đầu để đội Hiền giả
Mãn Từ Tử, vì để được nhiều lợi ích. Nay tôi cũng được
nhiều lợi ích, tùy thời mà thăm viếng, tùy thời mà lễ
bái”.
Tôn
giả Mãn Từ Tử hỏi Tôn giả Xá-lê Tử:
“Hiền
giả tên gọi là gì? Các vị phạm hạnh gọi Hiền giả như
thế nào?”
Tôn
giả Xá-lê Tử trả lời rằng:
“Tôi
tự là Ưu-ba-đề-xá[31]. Thân
mẫu tôi là Xá-lê[32], nên những
người phạm hạnh gọi tôi là Xá-lê Tử”.
Hiền
giả Mãn Từ Tử tán thán rằng:
“Hôm
nay tôi đã bàn luận với vị đệ tử ngang hàng Đức Thế
Tôn[33] mà không biết, cùng với
bậc Đệ nhị tôn[34] luận bàn
mà không biết, cùng với bậc Đệ nhị tôn[35]
luận bàn mà không biết, cùng luận bàn với vị đệ tử
tiếp tục vận chuyển pháp luân đã được vận chuyển[36]
mà không biết. Nếu tôi biết ngài là Xá-lê Tử thì tôi đã
không trả lời nổi một câu, huống chi lại luận bàn sâu
xa như thế. Lành thay! Lành thay! Tôn giả Xá-lê Tử, là đệ
tử của Đức Như Lai, trí biện hoàn hảo, thông minh, quyết
định, an lạc vô úy, thành tựu sự chế ngự, đạt đến
đại biện tài, được phướn cam lồ, ở trong cam lồ giới
tự mình đã chứng ngộ, thành tựu và an trụ. Vì Hiền giả
đã hỏi những ý nghĩa vô cùng sâu xa. Hiền giả Xá-lê Tử,
những người phạm hạnh sẽ được nhiều lợi ích, nếu
gặp được Tôn giả Xá-lê Tử, tùy thời mà thăm viếng,
tùy thời mà lễ bái. Nay tôi cũng được lợi ích, tùy thời
mà thăm viếng, tùy thời mà lễ bái. Những người phạm hạnh
nên quấn y trên đầu để đội Hiền giả Xá-lê Tử, vì
để được nhiều lợi ích. Nay tôi cũng được nhiều lợi
ích, tùy thời mà thăm viếng, tùy thời mà lễ bái”.
Hai
vị Hiền giả khen ngợi nhau như vậy. Cùng khen ngợi nhau như
vậy rồi, hoan hỷ phụng hành, liền từ chỗ ngồi đứng
dậy, trở về chỗ nghỉ của mình.
Chú
thích
[1]
Tương đương
Pāli:
M.24 Rathavinīta-suttam.
Biệt dịch, No.125 (39.10) Tăng
Nhất 33 “Đẳng
Pháp Phẩm, kinh số 10” (Đại
2, tr.733).
[2]
Vương xá thành 王舍城.
Pāli:
Rājagaha.
Phiên âm: La-duyệt (-kỳ) 羅閱衹,
thủ phủ của nước Magadha (Ma-kiệt-đà).
[3]
Trúc lâm tinh xá竹
林 精 舍. Pāli:
Veluvana; khu vườn gần Vương xá (Rājagaha),
mà vua Bimbisara (Tần-bà-sa-la) cúng dường cho Phật, lần đầu
tiên khi Ngài đến
thăm
vua, sau khi vừa đắc đạo.
Ngài Xá-lợi và Mục-kiền-liên xuất gia vào lúc này. Chi tiết
trong bản Pāli:
Rājagahe
viharati Veluvane Kalandakanivāpe,
“trú ở Vương xá, trong Trúc viên, chỗ nuôi sóc (Hán thường
nói: Ca-lan-đà
Trúc viên)”.
[4]
Mãn Từ Tử滿
慈 子. Pāli:
Puṇṇa Mantāṇiputta.
[5]
Pāli:
sambahulā
jātibhūmakā
bhikkhū
jātibhūmiyaṃ
vassaṃ vutthā,
“số đông
các Tỳ-kheo địa
phương sau khi trải qua mùa an cư tại địa
phương”.
[6]
Pāli:
attanā
appiccho appicchakathañ ca bhikkūnaṃ
kattā,
“tự mình ít ham muốn, và giảng cho các Tỳ-kheo về sự
ít ham muốn...”
[7]
Hán: nhàn cư閑居.
Pāli:
pavivitta, (sống) độc
cư, ẩn dật.
[8]Hán:
tự khuyến phát, khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ 自勸發渴仰成就歡喜. Pāli:
ovādako
viññāpako
sandassako samādapako
samuttejako sampahaṃsako sabrahmacārīnan:
vị giáo giới, vị giáo thọ, vị khai thị, vị khích kệ
(sách tấn), vị làm cho các đồng
phạm hạnh hoan hỷ.
[9]
Tôn giả Xá-lê Tử 尊者舍梨子,
tức Tôn giả Xá-lợi-phất 尊者舍利弗.
Pāli:
Sāriputta.
[10]
An-đà
lâm安
陀 林.
Pāli:
Andhavana.
[11]
Hán: giới tịnh cố戒
淨 故. Pāli:
sīlavisuddhattham:
mục đích
là sự thanh tịnh của giới đức.
[12]
Hán: tâm tịnh心
淨.
Pāli:
cittavisuddha.
[13]
Hán: kiến tịnh見
淨.
Pāli:
diṭṭhivisuddha.
[14]
Hán: nghi cái tịnh疑
蓋 淨.
Pāli:
kaṅkhāvitaraṇavisuddha,
trừ nghi tịnh: “thanh tịnh do vượt qua sự hoài nghi”. Bản
Hán đọc
là kaṅkhāvaraṇavisuddha,
“thanh tịnh đối
với sự bao trùm của hoài nghi”.
[15]
Hán: đạo
phi đạo
tri kiến tịnh 道非道知見淨.
Pāli:
maggāmaggañāṇa-dassanavisuḍha,
thanh tịnh do thấy và biết về đạo
và phi đạo.
[16]
Hán: đạo
tích tri kiến tịnh道
跡 知 見 淨.
Pāli:
paṭipadāñāṇadassanavisuddha,
thanh tịnh do tri kiến về phương pháp hành trì (đạo
tích).
[17]
Hán: đạo
tích đoạn
trí tịnh道跡斷智淨,
sự thanh tịnh do nhận thức toàn diện về đường
lối hành trì. Pāli:
ñāṇadassanavisuddha,
thanh tịnh do tri kiến.
[18]
Hán: dĩ hà nghĩa 以何義.
Pāli:
kim attham, có mục đich
gì?
[19]
Hán: Vô dư Niết-bàn無
餘 涅 槃.
Pāli:
anupādā
nparinibbāna,
Niết-bàn không còn chấp thủ.
[20]
Bản Hán nhảy một đoạn
so với bản Pāli:
kin nu kho āvuso
sīlavisuddhi
anupādā
parinibbānan
ti, “Này Hiền giả, phải chăng
giới thanh tịnh là Niết-bàn không thủ trước (Vô dư Niết-bàn)?”
[21]
So sánh bản Pāli:
sīlavisuddhiñ
ce āvuso
Bhagavā
anupādā
parinibbānaṃ
paññāpessa,
sa-upādānaṃ
yeva samānaṃ
anupādā
parinibbānaṃ
paññāpessa,
... “Nếu Thế Tôn thiết lập (thi thiết) giới thanh
tịnh là Vô dư Niết-bàn thì Ngài cũng thiết lập Vô dư Niết-bàn
bình đẳng
với Hữu dư...”
[22]
Tức ngoài những pháp đã
kể: giới tịnh, cho đến,
tri kiến tịnh.
[23]
Nghĩa là, phàm phu không có giới tịnh, cho đến,
tri kiến tịnh.
[24]
Câu-tát-la vương Ba-tư-nặc拘
薩 羅 王 婆 斯 匿. Pāli:
rajā
Pasenadi Kosalo.
[25]
Sa-kê-đế娑
雞 帝; các
bản Hán đều
viết Bà-kê-đế婆
雞 帝. Nay
theo âm Pāli
tương đương
sửa lại. Pāli:
Sakēta,
một thành phố ở phía Bắc Kosala.
[26]
Hán: phạm hạnh nhân梵
行 人. Pāli:
Sabrahmacarī, đồng
phạm hạnh, bạn đồng
tu.
[27]
Hán: ngã hiệu我
號, bản
Tống: ngã phụ hiệu我
父 號,
tên cha. Pāli:
Puṇṇo... me... Nāmaṃ,
tên tôi là Puṇṇa.
[28]
Hán: sở tác trí biện 所作智辯.
[29]
Hán: cam lộ tràng甘
露 幢.
Pāli:
amataketu (?); từ điển
Pāli
không có từ này.
[30]
Hán: cam lộ giới甘
露 界,
chỉ cõi bất tử; đồng
nghĩa với Niết-bàn giới. Pāli:
amatadhātu.
[31]
Ưu-ba-đề-xá優
波 鞮 舍.
Pāli:
Upatissa.
[32]
Xá-lê舍
梨.
Pāli:
Sāri.
[33]
Các bản Tống-Nguyên-Minh đều
in: Thế Tôn đẳng đệ
tử世
尊 等 弟 子.
Pāli:
satthukappena vata kira bho sāvakena,
(cùng với) vị đệ
tử được
xem là ngang hàng với Đạo
Sư.
[34]Đệ
nhị tôn 弟二尊.
Nói như vậy, vì Ngài Xá-lợi-phất được
kính trọng dưới Đức
Phật chỉ một bậc.
[35]
Pháp tướng法
將,
vị tướng quân của Chánh pháp. Pāli:
dhammasnapāti.
[36]
Hán: chuyển pháp luân phục chuyển đệ
tử 轉法輪復轉弟子,
nghĩa là hỗ trợ Phật chuyển pháp luân.