8.
KINH THẤT NHẬT[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Bệ-xá-li[2],
trong rừng cây Nại thị[3].
Bấy
giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Tất
cả các hành đều vô thường, là pháp không vĩnh cửu, pháp
chóng đổi thay, pháp không thể nương tựa[4].
Các hành như vậy không nên tham đắm mà phải ghê sợ nhờm
tởm, nên tìm sự xả ly, nên tìm giải thoát. Vì sao thế,
vì có lúc không mưa[5].
Ngay khi không mưa ấy tất cả cây cối, trăm thứ lúa, thảy
đều khô héo, đổ nát, chết cả, không thể thường trụ.
Vì thế tất cả các hành đều vô thường, là pháp không
vĩnh cửu, pháp chóng đổi thay, pháp không thể nương tựa.
Các hành như vậy không nên tham đắm mà phải nhờm tởm,
ghê sợ, nên tìm sự xả ly, nên tìm giải thoát.
“Lại
nữa, có lúc hai mặt trời cùng xuất hiện. Khi hai mặt trời
xuất hiện, các rãnh ngòi, sông lạch, thảy đều khô cạn,
không thể thường trụ. Vì thế tất cả các hành đều vô
thường, là pháp không vĩnh cửu, pháp chóng thay đổi, pháp
không thể nương tựa. Các hành như vậy không nên tham đắm
mà phải nhờm tởm, ghê sợ, nên tìm sự xả ly, nên tìm giải
thoát.
“Lại
nữa, lúc có ba mặt trời cùng xuất hiện. Khi ba mặt trời
xuất hiện, tất cả dòng sông lớn[6]
đều khô cạn, không thể thường trụ. Do đó, tất cả các
hành đều vô thường, là pháp không vĩnh cửu, pháp chóng
đổi thay, pháp không thể nương tựa. Các hành như vậy không
nên tham đắm, mà phải nhờm tởm ghê sợ, nên tìm sự xả
ly, nên tìm sự giải thoát.
“Lại
nữa, có lúc bốn mặt trời cùng xuất hiện. Khi bốn mặt
trời xuất hiện, các dòng suối lớn, từ đó phát nguyên
năm con sông lớn của châu Diêm-phù: Một là Hằng-già; hai
là Dao-vưu-na; ba là Xá-lao-phu; bốn là A-di-la-bà-đề và năm
là Ma-xí[7],
các dòng cuối nguồn nước lớn ấy đều khô cạn cả, không
thể thường trụ. Do đó các hành đều vô thường, là pháp
không vĩnh cửu, pháp chóng đổi thay, pháp không thể nương
tựa, các hành như vậy không nên tham đắm, mà phải nhờm
tởm, ghê sợ, nên tìm sự xả ly, nên tìm giải thoát.
“Lại
nữa, có lúc năm mặt trời cùng xuất hiện. Khi năm mặt trời
cùng xuất hiện, nước trong biển lớn sụt xuống một trăm
do-diên[8];
sụt dần đến bảy trăm do-diên. Khi năm mặt trời xuất hiện
như vậy, biển có mực nước bảy trăm do-diên sụt dần đến
một trăm do-diên. Khi năm mặt trời cùng xuất hiện, nước
trong biển lớn sụt một cây Đa-la; sụt dần đến bảy cây
Đa-la[9].
Khi năm mặt trời cùng xuất hiện, những biển có mực nước
bảy cây Đa-la sụt dần cho đến một cây Đa-la. Khi năm mặt
trời cùng xuất hiện, nước biển giảm sụt đến mười
người[10];
sụt dần cho đến bảy người. Khi năm mặt trời cùng xuất
hiện, những biển có mực nước bảy người giảm dần đến
vai, đến lưng, đến háng, đến đầu gối, đến mắt cá;
cho đến lúc nước biển ráo hết không đủ chìm một ngón
chân. Cho nên, tất cả các hành đều vô thường, là pháp
không vĩnh cửu, pháp chóng thay đổi, pháp chẳng thể nương
tựa. Các hành như vậy không nên tham đắm, mà phải nhờm
tởm, ghê sợ, tìm sự xả ly, tìm sự giải thoát.
“Lại
nữa, có lúc sáu mặt trời xuất hiện. Khi sáu mặt trời
cùng xuất hiện, tất cả đại địa, núi chúa Tu di[11],
thảy đều bốc khói, tạo thành một đám khói. Ví như thợ
gốm lúc mới nhen bếp, tất cả đều bốc khói, tạo thành
một đám khói. Cho nên tất cả các hành đều vô thường,
là pháp không vĩnh cửu, pháp chóng thay đổi, pháp không thể
nương tựa. Các hành như vậy không nên tham đắm mà phải
nhờm tởm, ghê sợ, nên tìm sự xả ly, tìm sự giải thoát.
“Lại
nữa, có lúc bảy mặt trời xuất hiện. Khi bảy mặt trời
xuất hiện, tất cả đại địa, núi chúa Tu di thảy đều
phụt cháy bừng bừng, tạo thành một ngọn lửa rực rỡ.
Như vậy, khi bảy mặt trời cùng xuất hiện, thì tất cả
đại địa và núi chúa Tu di thảy đều phụt cháy bừng bừng
tạo thành một ngọn lửa. Gió thổi ngọn lửa ấy vươn cho
đến trời Phạm thiên[12].
Lúc đó các vị trời Hoảng dục[13]
vừa mới sanh lên cõi này, không rõ thành bại của thế gian.
Vì không biết sự thành bại của thế gian, khi thấy ngọn
lửa vĩ đại, đều sợ hãi dựng lông mà suy nghĩ như thế
này ‘Lửa không đến đây được chăng? Lửa không đến
đây được chăng?’ Các vị trời sinh trước đều biết
rõ sự thành bại của thế gian, đều đã thấy việc thành
bại của thế gian. Do biết sự thành bại của thế gian, khi
thấy ngọn lửa vĩ đại, liền an ủi các vị trời kia rằng:
‘Chớ nên sợ hãi. Lửa cháy chỉ ngang đó, không thể lên
đến đây được’.
“Khi
bảy mặt trời cùng xuất hiện, núi chúa Tu di sụp lở, tán
hoại, diệt tận, một trăm do-diên, hai trăm do-diên, ba trăm
do-diên, cho đến bảy trăm do-diên. Khi bảy mặt trời cùng
xuất hiện, núi chúa Tu di và đại địa này cháy tan, hủy
diệt, không còn tro than gì cả. Cũng như đốt dầu bơ, cháy
cho tiêu hết không còn khói đen[14].
Cũng vậy, khi bảy mặt trời cùng xuất hiện, núi chúa Tu
di và cõi đại địa này cháy không còn tro than. Cho nên, tất
cả các hành đều vô thường, là pháp không vĩnh cửu, pháp
chóng thay đổi, pháp không thể nương tựa. Các hành như vậy
không nên tham đắm mà phải nhờm tởm, ghê sợ, tìm sự xả
ly, tìm cầu giải thoát.
“Nay
Ta nói cho các ngươi biết, ai có thể tin được rằng: ‘Núi
chúa Tu di sẽ sụp đổ?’ Chỉ có những người thấy được
sự thật[15].
Nay Ta nói cho các ngươi biết, ai có thể tin được rằng:
‘Nước trong đại hải sẽ khô cạn tất cả?’ Chỉ có
những người đã thấy sự thật. Nay Ta nói cho các ngươi
biết ai có thể tin rằng: ‘Tất cả đại địa đều cháy
sạch?’ Chỉ có những người đã thấy sự thật. Vì sao
vậy?
“Này
các Tỳ-kheo, xưa có vị đại sư tên là Thiện Nhãn[16]
được các tiên nhân ngoại đạo tôn làm bậc thầy[17],
đã xả ly dục ái[18],
chứng như ý túc[19].
Đại sư Thiện Nhãn có vô lượng trăm ngàn đệ tử. Đại
sư Thiện Nhãn dạy Phạm thế pháp cho các đệ tử[20].
Khi đại sư Thiện Nhãn dạy Phạm thế pháp cho các đệ tử,
trong số các đệ tử có người phụng hành không đầy đủ
pháp ấy. Người ấy sau khi mạng chung hoặc sanh lên cõi trời
Tứ vương hoặc trời Tam thập tam, hoặc trời Diệm-ma, hoặc
trời Đâu-suất-đà hoặc sanh lên trời Tha hóa, hoặc sanh
lên trời Tha hóa lạc[21].
“Khi
đại sư Thiện Nhãn dạy Phạm thế pháp, nếu có người phụng
hành đầy đủ pháp ấy, người ấy tu bốn Phạm thất[22],
xả ly các dục, sau khi mạng chung người ấy sanh lên trời
Phạm thiên. Lúc ấy đại sư Thiện Nhãn nghĩ như vầy: ‘Ta
không nên cùng với các đệ tử cùng sanh chung một nơi nào
vào đời sau. Nay ta hãy tu thêm tăng thượng từ[23],
sau khi tu tăng thượng từ rồi, mạng chung sẽ được sanh
lên trời Hoảng dục[24]
’.
“Đại
sư Thiện Nhãn liền sau đó tu thêm tăng thượng từ. Sau khi
tu tăng thượng từ, mạng chung sanh lên trời Hoảng dục. Đại
sư Thiện Nhãn và các đệ tử học đạo không uổng công,
đạt được quả báo lớn.
“Này
các Tỳ-kheo, các ngươi nghĩ sao? Xưa kia đại sư Thiện Nhãn
được hàng tiên nhân ngoại đạo tôn kính là bậc thầy,
xả ly dục ái, chứng như ý túc, các ngươi cho là người
nào khác chăng? Chớ nghĩ như vậy. Nên biết, đó là Ta vậy.
Vào thời đó, Ta là Thiện Nhãn đại sư, được tiên nhân
ngoại đạo tôn kính là bậc thầy, xả ly dục ái, chứng
như ý túc; lúc đó ta có vô lượng trăm ngàn đệ tử. Ta
dạy Phạm thế pháp cho các đệ tử. Khi Ta dạy Phạm thế
pháp, trong số các đệ tử có người phụng hành không đầy
đủ pháp ấy. Người ấy sau khi mạng chung hoặc sanh lên cõi
trời Tứ vương hoặc trời Tam thập tam, hoặc trời Diệm-ma,
hoặc trời Đâu-suất-đà, hoặc sanh lên trời Tha hóa. Khi
Ta dạy Phạm thế pháp, nếu có người phụng hành đầy đủ
pháp ấy, người ấy tu bốn Phạm thất, xả ly các dục, sau
khi mạng chung người ấy sanh lên trời Phạm thiên. Lúc đó
Ta nghĩ như vầy: ‘Ta không nên cùng với các đệ tử cùng
sanh chung một nơi nào vào đời sau. Nay ta hãy tu thêm tăng
thượng từ. Sau khi tu tăng thượng từ, mạng chung sẽ được
sanh lên trời Hoảng dục’. Sau đó, Ta lại tu thêm tăng thượng.
Sau khi tu tăng thượng từ, mạng chung được sanh lên trời
Hoảng dục. Thời ấy Ta và các đệ tử học đạo không hư
uổng, được quả báo lớn.
“Thời
ấy Ta thân hành đạo này để lợi ích cho mình và lợi ích
kẻ khác, làm lợi ích cho mọi người, cảm thương thế gian,
vì trời và người mà tìm cầu nghĩa, và sự lợi ích, tìm
sự an ổn và khoái lạc. Lúc bấy giờ Ta nói pháp chưa đến
chỗ rốt ráo; không rốt ráo bạch tịnh, không rốt ráo phạm
hạnh. Vì không rốt ráo phạm hạnh, nên bấy giờ Ta không
xa lìa được, sanh, lão, bệnh, tử, than khóc, buồn rầu; cũng
chưa thể thoát được tất cả khổ não.
“Này
các Tỳ-kheo, Ta nay xuất hiện ở đời, là Như Lai, Bậc Vô
Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiên Thệ, Thế
Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự[25],
Thiên Nhân Sư, gọi là Phật, là Đấng Chúng Hựu[26].
“Ta
nay đã làm lợi ích cho chính mình, cũng làm lợi ích cho kẻ
khác, làm lợi cho mọi người, cảm thương thế gian, vì trời
và người mà tìm nghĩa và sự lợi ích, tìm sự an ổn khoái
lạc. Nay Ta thuyết pháp đã đạt được chỗ rốt ráo, rốt
ráo bạch tịnh, rốt ráo phạm hạnh. Do rốt ráo phạm hạnh,
ta nay đã lìa khỏi sanh, lão, bệnh, tử, khóc than, buồn rầu.
Nay Ta đã được giải thoát mọi khổ não”.
Đức
Phật thuyết giảng như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật
thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]<![endif]>
Về bảy mặt trời xuất hiện. Tương đương
Pāli:
A. VII. 62 Suriya (Satta-suriya). Biệt dịch, No.30 Phật Thuyết
Tát-bát-đa
tô-rị-du-nại-dã Kinh, Tống, Pháp hiền dịch (Đại
1, tr.811); No.125 (40.1) Tăng
Nhất 34, “Thất Nhật Phẩm, kinh số 1".
[2]
Bệ-xá-li; Pāli:
Vesali. Thủ phủ của bộ tộc Licchava.
[3]
Nại thị thọ viên 柰氏樹園,
vườn cây của họ Nại, tức vườn xoài. Pāli:
Ambapālivāna,
do kỹ nữ Ambapāli
cúng dường Phật.
[4]
Hán: vô thường無
常, bất
cửu trụ pháp不久住法,
tốc
biến dịch pháp速變易法,
bất
khả ỷ pháp 不可依法.
Pāli:
anicca, adhuva, anassāsika.
[5]
Hán: hữu thời bất vũ有時不雨, đây
chỉ đại
hạn vào lúc tận thế. Pāli:
hoti kho so, bhikkhave, samayo yaṃ kadāci
karahaci dīghassa
addhuno accayena bahūni
vassāni
bahūni
vassatāni
bahūni
vassasahassāni
bahūni
vassasatasahassāni
devo na vassati, “Này các Tỳ-kheo, có một thời gian nhiều
năm,
nhiều trăm
năm,
nhiều nghìn năm,
trời không mưa”.
[6]
Bản Pāli
liệt kê bốn sông lớn: Gaṃgā,
Yamunā,
Aciravatī,
Sarabhū.
[7]
Diêm-phù châu ngũ hà閻浮洲五河.
Hằng-già 恒伽(Pāli:
Gaṃga), Dao-vưu-na搖
尤 那 (Pāli:
Yamunā),
Xá-lao-phù 舍勞浮(Pāli:
Sarabhū),
A-di-la-bà-đề 阿夷羅婆提(Pāli:
Aciravatī)
Ma-xí 摩企(Pāli:
Mahī).
Bản Pāli
liệt kê các hồ lớn, phát nguyên của các sông lớn. Các
hồ lớn: Anotattā,
Sihapapātā,
Rathakārā,
Kannamunda, Kunalā,
Chaḍantā,
Mandakinī.
[8]
Hán: do-diên由延cũng
nói là do-tuần由
旬. Pāli:
yojana, dài khoảng bảy dặm Anh.
[9]
Hán: đa-la
thọ多羅樹.
Cùng loại cây thốt nốt hay cây cọ, dùng làm đơn
vị đo
chiều cao.
[10]
Các bản Tống-Nguyên-Minh: thập nhân 十忍;
bản Cao-ly: nhất nhân一
人.
Nghĩa là bằng chiều cao một người trung bình.
[11]
Hán: Tu di sơn vương須彌山王.
Pāli:
Sineru pabbatarājā.
[12]
Hán: Phạm thiên梵
天,
tầng thứ nhất thuộc Sơ thiền. Pāli:
Brāhma-loka,
Phạm thiên giới. No.30: Lửa đốt
cháy cả cõi trời sơ thiền, ngọn lửa ngang đến
cõi trời Nhị thiền.
[13]
Hán: Hoảng dục chư thiên晃
昱 諸 天, cũng
gọi là Quang âm thiên光
音 天,
hay Cực quang thiên極光天.
Tầng thứ ba thuộc Nhị thiền. Pāli: Ābhassarā.
[14]
Hán: yên mặc熛
墨. Các
bản Tống-Nguyên-Minh: yên diệm 煙焰.
No.30: Đốt đèn
bằng dầu tô (bơ), cháy đến
hết; đèn
tắt thì dầu cũng cạn sạch.
[15]
Hán: duy kiến đế
giả. Pāli:
aññatra diṭṭhapadehi, ngoại trừ những người nhìn thấy
tận mắt.
[16]
Thiện Nhãn善
眼.
Pāli:
Sunetta.
[17]
Pāli:
satthā...
titthakaro, vị Đạo
sư thuộc ngoại đạo.
[18]
Pāli:
kāmesu
vītarāgo,
không còn ham muốn trong các tình dục.
[19]
Tức có phép thần thông. Pāli
không có chi tiết này.
[20]
Pāli:
Brahmalokasahavyatāya
dhammaṃ desesi, “giảng dạy pháp về sự cộng trú với Phạm
thiên giới”.
[21]
Tứ vương thiên 四王天(Pāli:
Cātummahārājikā
devā),
Tam thập tam thiên 三十三天(Tāvatiṃsa),
Diệm-ma thiên 閻摩天(Pāli:
Yāma), Đâu-suất-đà
thiên 兜率多天(Tusita),
Tha hóa thiên 他化天.
(Nimmānarati),
Tha hóa lạc thiên 他化樂天.
(Paranimmita-vasavatin).
[22]
Hán: (tứ) Phạm thất 梵室,
cũng gọi là Phạm trụ 梵住hay
Phạm đường 梵堂,
tức bốn vô lượng tâm: từ, bi, hỷ và xả. Pāli:
Brahmavihāra.
[23]
Hán: tăng
thượng từ增上慈.
Pāli:
uttari mettā,
từ cao hơn.
[24]
Xem cht.13.
[25]
Hán: Đạo
Pháp Ngự 道法御,thường
nói là “Điều
Ngự Trượng Phu"調御丈夫.
Pāli:
purisadammasārathi.
[26]
Hán: Chúng Hựu眾佑,
tức Thế Tôn. Pāli:
Bhagavant.