7.
KINH THẾ GIAN PHƯỚC[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật du hóa Câu-xá-di[2],
ở tại vườn Cù-sa-la[3].
Bấy
giờ vào lúc xế chiều[4],
Tôn giả Ma-ha Châu-na[5],
rời khỏi nơi tĩnh tọa[6]
đứng dậy, đi đến chỗ Phật; đến rồi đảnh lễ, lui
ngồi một bên, bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, có thể thi thiết thế gian phước được chăng?”
Thế
Tôn nói:
“Có
thể, này Châu-na, có bảy loại phước thế gian, có phước
hựu lớn, có quả báo lớn, có danh dự lớn, có công đức
lớn. Những gì là bảy?
“Này
Châu-na, có tộc tánh nam hay tộc tánh nữ[7]
có tín tâm cúng thí phòng xá, nhà gác cho đại chúng Tỳ-kheo.
Đó là loại phước thế gian thứ nhất, có phước hựu lớn,
có quả báo lớn, có danh dự lớn, có công đức lớn.
“Lại
nữa, Châu-na, có tộc tánh nam hay tộc tánh nữ có tín tâm,
ở trong các phòng xá, cúng thí giường nằm, đồ ngồi, đệm
lông, thảm dệt, chăn len, ngọa cụ trong các phòng xá. Châu-na,
đó là loại thế gian phước thứ hai, có phước hựu lớn,
có quả báo lớn, có danh dự lớn, có công đức lớn.
“Lại
nữa, Châu-na, có tộc tánh nam hay tộc tánh nữ có tín tâm,
ở trong các phòng xá, cúng thí y phục mới mẽ, sạch sẽ,
đẹp đẽ. Châu-na, đó là loại thế gian phước thứ ba, có
phước hựu lớn, có quả báo lớn, có danh dự lớn, có công
đức lớn.
“Lại
nữa, Châu-na, có tộc tánh nam hay tộc tánh nữ có tín tâm,
ở trong các phòng xá, thường xuyên cúng thí chúng tăng cháo
buổi sáng, thức ăn buổi trưa, lại cung cấp người làm vườn[8]
để sai bảo; hoặc gió, mưa, tuyết, lạnh, tự mình thân đến
khu vườn mà cúng thí chu cấp thêm. Các Tỳ-kheo sau khi ăn,
không lo gió, mưa, tuyết lạnh khiến y phục bị ướt át,
mà ngày đêm yên vui, tư duy thiền tọa vắng lặng[9].
Châu-na, đó là loại thế gian phước thứ bảy, có phước
hựu lớn, có quả báo lớn, có danh dự lớn, có công đức
lớn.
“Châu-na,
có tộc tánh nam hay tộc tánh nữ có tín tâm, nếu đã tạo
được bảy loại phước thế gian này rồi, hoặc đi, hoặc
đến, hoặc đứng, hoặc ngồi, hoặc ngủ, hoặc thức, hoặc
ngày, hoặc đêm, phước đức ấy thường xuyên phát sinh,
càng lúc càng thêm, càng lúc càng rộng.
“Châu-na,
ví như nước sông Hằng-già[10]
từ nguồn chảy ra, tuôn vào đại hải, ở vào khoảng giữa
càng lúc càng sâu, càng lúc càng rộng. Cũng vậy, Châu-na,
tộc tánh nam hay tộc tánh nữ có tín tâm ấy, đã tạo được
bảy loại phước thế gian này rồi thì hoặc đi, hoặc đến,
hoặc ngồi, hoặc ngủ, hoặc thức, hoặc ngày, hoặc đêm,
phước đức ấy càng sinh, càng lúc càng thêm, càng lúc càng
rộng”.
Bấy
giờ, Tôn giả Ma-ha Châu-na từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch
vai áo bên hữu, gối phải sát đất, quỳ dài, chắp tay, bạch
rằng:
“Bạch
Thế Tôn, có thể thi thiết phước xuất thế gian được chăng?
Thế
Tôn bảo rằng:
“Có
thể được Châu-na, lại có bảy loại phước xuất thế gian,
có phước hựu lớn, có quả báo lớn, có danh dự lớn, có
công đức lớn. Những gì là bảy? Châu-na, có tộc tánh nam
hay tộc tánh nữ có tín tâm, nghe Như Lai hoặc đệ tử Như
Lai đang trú ở nơi nào đó. Sau khi nghe, liền hoan hỷ, trong
lòng rất phấn khởi. Châu-na, đó là loại phước xuất thế
gian thứ nhất, có phước hựu lớn, có quả báo lớn, có
danh dự lớn, có công đức lớn.
“Lại
nữa, Châu-na, có tộc tánh nam hay tộc tánh nữ có tín tâm,
nghe Như Lai hoặc đệ tử Như Lai sẽ từ nơi kia đến đây,
nghe rồi vui vẻ, trong lòng rất phấn khởi. Châu-na, đó là
loại phước xuất thế gian thứ hai, có phước hựu lớn,
có quả báo lớn, có danh dự lớn, có công đức lớn.
“Lại
nữa, Châu-na, có tộc tánh nam hay tộc tánh nữ có tín tâm,
nghe Như Lai hoặc đệ tử Như Lai sẽ từ nơi kia đến đây,
nghe rồi vui vẻ, trong lòng rất phấn khởi. Với tâm thanh
tịnh, đích thân tới thăm viếng, lễ kính, cúng dường. Sau
khi cúng dường, thọ pháp ba tự quy, đối với Phật, Pháp
và Chúng Tỳ-kheo mà thọ giới cấm[11].
Châu-na, đó là loại phước xuất thế gian thứ bảy, có phước
hựu lớn, có quả báo lớn, có danh dự lớn, có công đức
lớn.
“Châu-na,
tộc tánh nam hay tộc tánh nữ có tín tâm, nếu tạo được
bảy loại phước thế gian này và lại có bảy loại phước
xuất thế gian, thì phước của người kia không thế tính
được, có chừng ấy phước, có chừng ấy kết quả của
phước, có chừng ấy phước báo. Chỉ có thể nói là không
thể hạn, không thể lượng, và không thể biết được con
số đại phước.
“Châu-na,
ví như từ châu Diêm-phù có năm con sông: Một là Hằng-già,
hai là Dao-vưu-a, ba là Xá-lao-phù, bốn là A-di-la-bà-đề và
năm là Ma-xí[12],
đều chảy về đại hải. Ở khoảng giữa của chúng, không
thể tính được số nước của bao nhiêu thăng hộc. Chỉ
có thể nói là số nước nhiều không thể hạn, không thể
lượng, và không thể biết được.
“Cũng
vậy, Châu-na, tộc tánh nam hay tộc tánh nữ có tín tâm, nếu
tạo được bảy loại phước thế gian này và lại có bảy
loại phước xuất thế gian, thì phước của người kia không
thế tính được, có chừng ấy phước, có chừng ấy kết
quả của phước, có chừng ấy phước báo. Chỉ có thể nói
là không thể hạn, không thể lượng, và không thể biết
được con số đại phước”.
Bấy
giờ Thế Tôn nói bài tụng rằng:
Con sông
Hằng-già
Trong sạch,
dễ qua.
Biển nhiều
báu quý,
Là vua
các sông.
Cũng như
nước sông,
Người
đời kính phụng;
Mọi nơi
chảy về,
Tuôn về
biển cả.
Cũng vậy,
người nào
Cúng y,
thực phẩm,
Giường
chõng, đệm chăn,
Và những
tọa cụ;
Phước
báo không lường,
Đưa đến
cõi lành,
Cũng như
nước sông
Tuôn về
biển rộng.
Phật
thuyết như vậy. Tôn giả Ma-ha Châu-na và các Tỳ-kheo sau khi
nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Chú thích
[1]
Không thấy tương đương
với Pāli.
Biệt dịch, No.125(40.7) Tăng
Nhất 34, “Thất Nhật Phẩm, kinh số 7” (Đại
2, tr.741).
[2]
Câu-xá-di 拘舍彌hoặc
phiên âm là Kiều-thưởng-di憍
賞 彌. Pāli:
Kosambī.
[3]
Cù-sa-la viên瞿
沙 羅 khu vườn do Trưởng giả
Cù-sa-la cúng dường Phật. Pāli:
Ghositārāma.
[4]
Hán: bô thời晡時theo
cách tính giờ cổ của Trung quốc, vào khoảng giờ thân.
[5]
Ma-ha Châu-na摩
訶 周 那 tên Tỳ-kheo. Pāli:
Mahācunda.
[6]
Hán: yển tọa宴坐ngồi
nghỉ ngơi một mình và tập thiền; thiền tọa độc
cư. Pāli:
paṭisallāna.
[7]
Hán: tộc tánh nam, tộc tánh nữ族
姓 男 族 姓 女 thường nói là
thiện gia nam tử/ nữ nhân, hoặc thiện nam tử, thiện nữ
nhân善
男 子 善 女 人 những người
sinh vào một trong bốn giai cấp. Pāli:
kulaputta, kuladuhitā.
[8]
Hán: viên dân園
民.
[9]Đoạn
này kể chung có bốn thứ: hai bữa ăn,
người làm vườn, và chu cấp khi mưa gió.
[10]
Hằng-già恒
伽 thường nói là sông Hằng.
Pāli:
Gaṃgā.āāa
[11]Đoạn
này kể chung cả năm
thứ: thăm
viếng, lễ bái, cúng dường, thọ tam quy, thọ ngũ giới.
[12]
Ngũ hà lưu五
河 流 Hằng-già恒
伽 (Pāli:
Gaṃga), Dao-vưu-na揺
尤 那
(Pāli:
Yamunā),
Xá-lao-phu舍
勞 浮 (Pāli:
Sarabhū),
A-di-la-bà-đề阿
夷 羅 婆 提(Pāli:Aciravatī)
Ma-xí 摩企(Pāli:
Mahī).