6.
KINH THIỆN NHÂN VÃNG[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hành tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng
lâm, vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Ta
sẽ nói cho các ngươi biết về bảy nơi mà bậc thiện nhân
đi đến và Vô dư Niết-bàn[2].
Các ngươi hãy lắng nghe và hãy suy nghĩ kỹ”.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo vâng lời lắng nghe.
Phật
dạy:
“Những
gì là bảy? Tỳ-kheo nên thực hành như vầy: ‘Ta không có
ta, cũng không có cái của ta[3].
Trong tương lai không có ta, cũng không có cái của ta. Cái đã
có thì đoạn[4]’. Sau khi đoạn,
chứng đắc xả. Có lạc mà không nhiễm, hiệp hội mà không
đắm trước[5]. Thực hành như
thế, sẽ do tuệ mà thấy được đạo lộ tịch tĩnh vô thượng[6],
nhưng vẫn chưa được chứng ngộ[7].
Tỳ-kheo thực hành như thế sẽ đi đến đâu? Ví như đốt
trấu, vừa nhen đã tắt. Nên biết, Tỳ-kheo kia cũng thế,
chút ít mạn chưa trừ hết[8],
nhưng năm hạ phần kết[9] đã
đoạn hết, chứng Trung Bát-niết-bàn[10].
Đó là nơi đi đến của bậc thiện nhân thứ nhất, thế
gian quả thực có người như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo nên thực hành như vậy: ‘Ta không có ta, cũng
không có cái của ta. Trong tương lai không có ta, cũng không
có cái của ta. Cái đã có thì đoạn’. Sau khi đoạn, chứng
đắc xả. Có lạc mà không nhiễm, hiệp hội mà không đắm
trước. Thực hành như thế, sẽ do tuệ mà thấy được đạo
lộ tịch tĩnh vô thượng, nhưng vẫn chưa được chứng ngộ.
Tỳ-kheo thực hành như thế sẽ đi đến đâu? Ví như đem
sắt đốt cháy hừng hực rồi lấy búa đập, lửa đóm tung
lên không; vừa lên liền tắt. Nên biết, Tỳ-kheo kia cũng
lại như vậy; còn chút mạn chưa trừ hết, nhưng năm hạ
phần kết đã đoạn hết, chứng Trung Bát-niết-bàn. Đó là
chỗ đi đến của bậc thiện nhân thứ hai, thế gian quả
thực có người như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo nên thực hành như vầy: ‘Ta không có ta, cũng
không có cái của ta. Trong tương lai không có ta, cũng không
có cái của ta. Cái đã có thì đoạn’. Sau khi đoạn, chứng
đắc xả. Có lạc mà không nhiễm, hiệp hội mà không đắm
trước. Thực hành như thế, sẽ do tuệ mà thấy được đạo
lộ tịch tĩnh vô thượng, nhưng vẫn chưa được chứng ngộ.
Tỳ-kheo thực hành như thế sẽ đi đến đâu? Ví như đem
sắt đốt cháy hừng hực rồi lấy búa đập, lửa đóm tung
lên không, rồi từ không rơi trở lại; rơi chưa đến đất
liền tắt. Nên biết, Tỳ-kheo kia cũng giống như thế, còn
chút mạn chưa đoạn hết, nhưng năm hạ phần kết đã đoạn
hết, chứng Trung Bát-niết-bàn. Đó là chỗ đi đến của
bậc thiện nhân thứ ba, thế gian quả thực có người như
vậy.[11]
“Lại
nữa, Tỳ-kheo nên thực hành như vầy: ‘Ta không có ta, cũng
không có cái của ta. Trong tương lai không có ta, cũng không
có cái của ta. Cái đã có thì đoạn’. Sau khi đoạn, chứng
đắc xả. Có lạc mà không nhiễm, hiệp hội mà không đắm
trước. Thực hành như thế, sẽ do tuệ mà thấy được đạo
lộ tịch tĩnh vô thượng, nhưng vẫn chưa được chứng ngộ.
Tỳ-kheo thực hành như thế sẽ đi đến đâu? Ví như đem
sắt đốt cháy hừng hực rồi lấy búa đập, lửa đóm tung
lên không, rồi rơi xuống, tới đất thì tắt. Nên biết,
Tỳ-kheo kia cũng giống như thế, còn chút mạn chưa đoạn
hết, nhưng năm hạ phần kết đã đoạn hết, chứng Sanh Bát-niết-bàn[12].
Đó là chỗ đi đến của bậc thiện nhân thứ tư, thế gian
quả thực có người như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo nên thực hành như vầy: ‘Ta không có ta, cũng
không có cái của ta. Trong tương lai không có ta, cũng không
có cái của ta. Cái đã có thì đoạn’. Sau khi đoạn, chứng
đắc xả. Có lạc mà không nhiễm, hiệp hội mà không đắm
trước. Thực hành như thế, sẽ do tuệ mà thấy được đạo
lộ tịch tĩnh vô thượng, nhưng vẫn chưa được chứng ngộ.
Tỳ-kheo thực hành như thế sẽ đi đến đâu? Ví như đem
sắt đốt cháy hừng hực rồi lấy búa đập, lửa đóm tung
lên không, rồi rơi xuống trên nhúm cỏ, liền bốc khói hoặc
phụt cháy; cháy hết mới tắt. Nên biết, Tỳ-kheo kia cũng
giống như thế, còn chút mạn chưa đoạn hết, nhưng năm hạ
phần kết đã đoạn hết, chứng Hành Bát-niết-bàn[13].
Đó là chỗ đi đến của bậc thiện nhân thứ năm, thế gian
quả thực có người như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo nên thực hành như vầy: ‘Ta không có ta, cũng
không có cái của ta. Trong tương lai không có ta, cũng không
có cái của ta. Cái đã có thì đoạn’. Sau khi đoạn, chứng
đắc xả. Có lạc mà không nhiễm, hiệp hội mà không đắm
trước. Thực hành như thế, sẽ do tuệ mà thấy được đạo
lộ tịch tĩnh vô thượng, nhưng vẫn chưa được chứng ngộ.
Tỳ-kheo thực hành như thế sẽ đi đến đâu? Ví như đem
sắt đốt cháy hừng hực rồi lấy búa đập, lửa đóm tung
lên không, rồi rơi xuống trên nhiều đám cỏ, liền bốc
khói hoặc phụt cháy, cháy hết mới tắt. Nên biết, Tỳ-kheo
kia cũng giống như thế, còn chút mạn chưa đoạn hết, nhưng
năm hạ phần kiết đã đoạn hết, chứng Vô hành Bát-niết-bàn[14].
Đó là chỗ đi đến của bậc thiện nhân thứ sáu, thế gian
quả thực có người như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo nên thực hành như vầy: ‘Ta không có ta, cũng
không có cái của ta. Trong tương lai không có ta, cũng không
có cái của ta. Cái đã có thì đoạn’. Sau khi đoạn, chứng
đắc xả. Có lạc mà không nhiễm, hiệp hội mà không đắm
trước. Thực hành như thế, sẽ do tuệ mà thấy được đạo
lộ tịch tĩnh vô thượng, nhưng vẫn chưa được chứng ngộ.
Tỳ-kheo thực hành như thế sẽ đi đến đâu? Ví như đem
sắt đốt cháy hừng hực rồi lấy búa đập, lửa đóm tung
lên không, rồi rơi xuống trên nhiều đám cỏ, liền bốc
khói hoặc phụt cháy, cháy luôn cả thôn ấp, thành quách,
rừng núi, đồng nội, hoặc đến đường đi, hoặc mé nước,
cho đến đất bằng thì tắt. Nên biết, Tỳ-kheo kia cũng giống
như thế, còn chút mạn chưa đoạn hết, nhưng năm hạ phần
kết đã đoạn hết, chứng Thượng lưu A-ca-nị-trá Niết-bàn[15].
Đó là chỗ đi đến của bậc thiện nhân thứ bảy, thế
gian quả thực có người như vậy.
“Vô
dư Niết-bàn là gì? Tỳ-kheo nên thực hành như vầy: ‘Ta
không có ta, cũng không có cái của ta. Trong tương lai không
có ta, cũng không có cái của ta. Cái đã có thì đoạn’.
Sau khi đoạn, chứng đắc xả. Có lạc mà không nhiễm, hiệp
hội mà không đắm trước. Thực hành như thế, sẽ do tuệ
mà thấy được đạo lộ tịch tĩnh vô thượng, và đã được
chứng ngộ. Ta nói rằng Tỳ-kheo kia không đi đến phía Đông,
không đi đến phía Tây, Nam, Bắc, tứ duy hay thượng, hạ,
mà ngay trong đời này[16] chứng
được đạo lộ tịch tĩnh, diệt độ[17].
“Ta
đã nói về nơi đi đến của bảy bậc thiện nhân và Vô
dư Niết-bàn xong. Nhân đó mà nói”.
Phật
thuyết như thế. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan
hỷ phụng hành.
Chú
thích
Bản Hán, bắt đầu
quyển 2. Tương đương
Pāli:
A. VII.52 Purisagati. Đề
kinh theo Tống-Nguyên-Minh: “Thiện Nhân Vãng Lai Kinh” Câu-xá
24 (Đại
29, tr.124b, 125a): thiện sĩ thú善
士 趣.
Vô dư Niết-bàn, hoặc dịch là Vô dư y Niết-bàn無
餘 衣 涅 槃. (Pāli:
anupādisesa-nibbāna),
trái với Hữu dư y Niết-bàn là sự chứng Niết-bàn với
sự tồn tại của ngũ uẩn.
Hán: ngã giả vô ngã, diệc vô ngã sở我
者 無 我 亦 無 我 所. Pāli:
no cassa no ca me siyā,
“nó không hiện hữu, và nó không phải là của ta”. Bản
Hán hiểu no là đại
từ ngôi thứ nhất.
Hán: dĩ hữu tiện đoạn已
有 便 斷. Pāli:
yadatthi yaṃ bhūtaṃ
taṃ pahajāmi,
“Với cái gì đã
hiện hữu, ta đoạn
trừ cái đó”.
Hán: hữu lạc bất nhiễm, hiệp hội bất trước有
樂 不 染 合 會 不 著. Pāli:
so bhave na rajjati, sambahave na rajjati, “vị ấy không đắm
trước hữu (không hoan lạc trong cái đang
hiện hữu), không đắm
trước sinh (không hoan lạc trong cái đang
xuất sinh)”.
Hán: vô thượng tức tích無
上 息 跡. Pāli:
atthuttariṃ padaṃ santaṃ sammapaññāyapassati,
“bằng chánh trí, vị ấy thấy con đường
tịch tĩnh dẫn đến
mục đích
tối thượng”.
Pāli:
taṃ ca khvassa padaṃ na sabbena sabbaṃ sacchikataṃ hoti, “Nhưng
không hoàn toàn thực chứng đạo
lộ ấy”.
Hán: thiểu mạn vị tận少慢未盡.
Pāli:
na sabbena sabbaṃ mānānusayo
pahīno
hoti, na sabbena sabbaṃ bhavarāgānusayo
pahīno
hoti, na sabbena sabbaṃ avijjānusayo
pahīno
hoti, “chưa hoàn toàn đoạn
trừ mạn tùy miên; chưa hoàn toàn đoạn
trừ hữu ái tùy miên; chưa hoàn toàn đoạn
trừ vô minh tùy miên”.
Hán: ngũ hạ phần kiết五
下 分 結. Pāli:
pañca orambhāgiya
saṃyojana.
Trung Bát-niết-bàn中
般 涅 槃 trường hợp Thánh giả
A-na-hàm, sau khi chết ở Dục giới, trước khi tái sinh Sắc
giới, nhập Niết-bàn ở khoảng trung gian. Xem Câu-xá
quyển 24 (Đại
29, tr.124b). Pāli:
antarā-parinibbāna.
Ba ví dụ trên tương ứng với ba cấp Trung Bát-niết-bàn:
tốc, phi tốc và kinh cửu (nhanh, không nhanh và
lâu); xem Câu-xá 24 (Đại
29, tr.125a).
Sanh Bát-niết-bàn生
般 涅 槃 vị A-na-hàm sau khi tái
sanh Sắc giới một thời gian không lâu liền nhập Vô dư y
Niết-bàn. Xem Tập dị 14 (Đại
26, tr.426a); Câu-xá 24 (Đại
29, tr.124b). Pāli:
upahacca-parinibbāna,
nhập Niết-bàn do rút ngắn tuổi thọ sau khi sanh Sắc giới.
Từ Pāli
upahacca có nghĩa là “làm tổn hại”. Bản Hán, theo từ gốc
Skt. là upapadya (Pāli:
upapajja) có nghĩa là “sanh”.
Hành Bát-niết-bàn, hay Hữu hành Bát-niết-bàn 有行般涅槃vị
A-na-hàm sau khi sanh Sắc giới, trải qua một thời gian nỗ
lực tu tập nữa rồi mới nhập Niết-bàn. Pāli:
sasaṃkhāra-parinibbāna.
Câu-xá 24 (Đại
29, tr.124b), Tập dị 14 (Đại
26, tr.426b).
Vô hành Bát-niết-bàn無
行 般 涅 槃 sau khi tái sanh Sắc
giới, không do nỗ lực tu tập mà nhập Niết-bàn. Câu-xá
24 (Đại
26, tr.124b) cho rằng, trong Kinh tạng, Vô hành được
kể trước Hữu hành, như vậy hợp lý hơn. Xem thêm Tập
dị 14 (Đại
26, tr.426b). Pāli
cũng kể Vô hành trước Hữu hành. Pāli:
asaṃkhāra-parinibbāna.
Thượng lưu A-ca-nị-trá Niết-bàn上
流 阿 迦 吒 涅 槃 hay thượng
lưu sắc cứu cánh Niết-bàn上
流 色 究 竟 涅 槃 lần lượt
tái sanh (trôi lên) từ các cõi Sơ thiền, cho đến
cao nhất của Tứ thiền, rồi nhập Niết-bàn trong trạng thái đó.
Câu-xá 24 (Đại
29, tr.124c), Tập dị 14 (Đại
26, tr.416b). Pāli:
uddhaṃsoto akaniṭṭhagāmin.
Hán: ư hiện pháp trung於
現 法 中. Pāli:
diṭṭtheva dhamme.
Hán: tức tích diệt độ息
跡 滅 度.