3.
KINH THÀNH DỤ[1]
Tôi nghe như
vầy:
Một thời
Đức Phật du hành nước Xá-vệ, ở trong Thắng lâm vườn
Cấp cô độc.
Bấy giờ
Đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Như Vương
thành ở biên giới có bảy việc đầy đủ[2]
và bốn thứ lương thực sung túc dễ tìm không khó; do đó
Vương thành không bị ngoại địch đánh phá, ngoại trừ tự
phá hoại từ bên trong.
“Những
gì là bảy việc mà Vương thành có đầy đủ? Đó là Vương
thành ở biên giới xây cất vọng gác[3],
đắp đất cho chắc không thể phá vỡ, để bên trong được
an ổn, chế ngự oán địch bên ngoài. Đó là việc đầy đủ
thứ nhất của Vương thành.
“Lại nữa,
Vương thành ở biên giới, đào hào vét ao cho thật sâu rộng,
sửa sang cụ bị để có thể nương tựa, làm cho bên trong
được an ổn, chế ngự oán địch bên ngoài. Đó là việc
đầy đủ thứ hai của Vương thành.
“Lại nữa,
như đường giao thông chung quanh Vương thành ở biên giới
được dọn dẹp cho bằng phẳng, rộng rãi, để bên trong
được an ổn, chế ngự oán địch bên ngoài. Đó là việc
làm đầy đủ thứ ba của Vương thành.
“Lại nữa,
như ở Vương thành biên giới tập trung bốn binh quân: quân
voi, quân ngựa, quân xe, quân bộ, để bên trong được an ổn,
chế ngự oán địch bên ngoài, đó là việc làm đầy đủ
thứ tư của Vương thành.
“Lại nữa,
như Vương thành ở biên giới dự bị binh khí, cung, tên, mâu,
kích, để bên trong được an ổn, chế ngự oán địch ở
bên ngoài. Đó là việc làm đầy đủ thứ năm của Vương
thành.
“Lại
nữa, như Vương thành ở biên giới lập vị Đại tướng
trấn thủ, sáng suốt, thao lược, cơ trí, tháo vác, dũng mãnh,
cương nghị, giỏi mưu chước, người lành thì cho vào, kẻ
không lương thiện thì ngăn cấm, để bên trong được an ổn,
chế ngự oán địch bên ngoài. Đó là việc làm đầy đủ
thứ sáu của Vương thành.
“Lại nữa,
như Vương thành ở biên giới xây đắp tường cao cho thật
kiên cố, trét bùn, tô đất, để bên trong được an ổn,
chế ngự oán địch bên ngoài. Đó là việc làm đầy đủ
thứ bảy của Vương thành.
“Bốn thứ
lương thực[4]
dễ tìm không khó là gì? Đó là Vương thành ở biên giới
nước, cỏ, củi, gỗ có sẵn, có dự bị để bên trong được
an ổn và chế ngự oán địch bên ngoài. Đó là loại lương
thực thứ nhất sung túc, dễ tìm không khó ở Vương thành.
“Lại nữa,
như Vương thành ở biên giới thu nạp nhiều lúa gạo và chứa
cất lúa mạch, để bên trong được an ổn và chế ngự oán
địch ở bên ngoài. Đó là loại lương thực đầy đủ, dễ
kiếm không khó ở Vương thành.
“Lại nữa,
như Vương thành ở biên giới chứa nhiều đậu niêm, đại
đậu, tiểu đậu[5]
để bên trong được an ổn và chế ngự oán địch bên ngoài.
Đó là loại lương thực thứ ba sung túc, dễ tìm không khó
ở Vương thành.
“Lại nữa,
như Vương thành ở biên giới, chứa để dầu bơ, mật, mía
đường, cá, muối, thịt khô, tất cả đầy đủ, để bên
trong được an ổn và chế ngự oán địch bên ngoài. Đó là
loại lương thực thứ tư sung túc, dễ tìm không khó ở Vương
thành.
“Như vậy,
Vương thành bảy việc đầy đủ, bốn thứ lương thực sung
túc, dễ tìm không khó, nên không bị ngoại địch đánh phá,
chỉ trừ bên trong tự phá hoại.
“Cũng vậy,
nếu Thánh đệ tử cũng được bảy thiện pháp và bốn tăng
thượng tâm[6],
dễ được không khó, vì thế Thánh đệ tử không bị ma vương
lung lạc[7]
cũng không theo pháp ác bất thiện, không bị ô nhiễm bởi
phiền não, không còn thọ sanh trở lại.
“Bảy thiện
pháp mà Thánh đệ tử có được là những gì? Đó là Thánh
đệ tử có tín kiên cố, tin sâu nơi Như Lai[8],
tín căn đã vững, trọn không tin theo Sa-môn, Phạm chí, ngoại
đạo, cũng như Thiên ma, Phạm thiên, và các hạng thế gian
khác. Đó là Thánh đệ tử được thiện pháp thứ nhất.
“Lại nữa,
Thánh đệ tử thường thực hành tàm sỉ[9],
điều đáng xấu hổ thì biết xấu hổ, xấu hổ pháp ác
bất thiện, phiền não ô ế, là thứ khiến thọ các ác báo,
gây nên gốc rễ sanh tử. Đó là thiện pháp thứ hai mà Thánh
đệ tử có được.
“Lại
nữa, Thánh đệ tử thường thực hành xấu thẹn[10],
điều đáng xấu thẹn biết xấu thẹn, xấu thẹn pháp ác
bất thiện, phiền não ô uế là thứ khiến thọ các ác báo,
tạo gốc sanh tử. Đó là thiện pháp thứ ba mà Thánh đệ
tử có được.
“Lại nữa,
Thánh đệ tử thường thực hành tinh tiến[11],
đoạn trừ các ác bất thiện pháp, tu các thiện pháp, luôn
gắng sức bền chí[12],
chuyên nhất kiên cố[13],
làm các điều thiện, không bỏ phương tiện[14].
Đó là thiện pháp thứ tư mà Thánh đệ tử có được.
“Lại nữa,
Thánh đệ tử học rộng nghe nhiều, ghi nhớ không quên, tích
lũy sự học rộng. Các pháp nào là toàn thiện ở khoảng
đầu, toàn thiện ở khoảng giữa, toàn thiện ở khoảng cuối,
có nghĩa có văn, thanh tịnh trọn đủ, phạm hạnh hiển hiện[15],
học rộng nghe nhiều các pháp như vậy; học đến cả ngàn
lần, chú ý chuyên tâm quán sát[16],
thấy rõ hiểu sâu[17].
Đó là thiện pháp thứ năm mà Thánh đệ tử có được.
“Lại nữa,
Thánh đệ tử thường thực hành nơi niệm, thành tựu chánh
niệm; những điều đã học tập từ lâu, đã từng nghe từ
lâu[18],
nhớ luôn không quên. Đó là thiện pháp thứ sáu mà Thánh
đệ tử có được.
“Lại nữa,
Thánh đệ tử tu hành trí tuệ, quán sát pháp hưng suy[19].
Do có trí như vậy, có thánh tuệ, có sự thấu hiểu, phân
biệt rõ ràng, mà diệt tận hoàn toàn sự khổ. Đó là thiện
pháp thứ bảy mà Thánh đệ tử có được.
“Những
gì là bốn tăng thượng tâm, dễ được không khó mà Thánh
đệ tử đạt được? Đó là Thánh đệ tử ly dục[20],
ly pháp ác bất thiện, có giác có quán, có hỷ và lạc phát
sinh do viễn ly, thành tựu và an trụ Sơ thiềân. Đó là tăng
thượng tâm thứ nhất dễ được không khó mà Thánh đệ
tử đạt đến.
“Lại nữa,
Thánh đệ tử giác và quán đã dứt, nội tâm tịch tịnh,
không giác không quán, có hỷ lạc do định sanh thành tựu
và an trụ Nhị thiền. Đó là tăng thượng tâm thứ hai dễ
được không khó mà Thánh đệ tử đạt đến.
“Lại
nữa, Thánh đệ tử lìa hỷ dục, an trụ xả, vô cầu, chánh
niệm chánh trí, thân cảm giác lạc, điều mà Thánh gọi là
được xả bởi Thánh, có niệm và lạc, an trụ không, thành
tựu an trụ tâm. Đó là tăng thượng tâm thứ ba dễ được
không khó mà Thánh đệ tử đạt đến.
“Lại nữa,
Thánh đệ tử diệt lạc, diệt khổ; ưu và hỷ từ trước
cũng đã diệt, không khổ không lạc, xả và niệm thanh tịnh
thành tựu an trụ Tứ thiền. Đó là tăng thượng tâm thứ
tư dễ được không khó mà Thánh đệ tử đạt đến.
“Như
vậy, Thánh đệ tử được bảy thiện pháp, đạt đến bốn
tâm tăng thượng dễ được không khó, không bị ma vương
lung lạc, cũng không theo pháp ác bất thiện, không bị nhiễm
bởi nhiễm ô, không còn thọ sanh trở lại.
“Như
Vương thành ở biên giới xây cất vọng gác, đắp đất cho
chắc không thể phá vỡ, để bên trong được an ổn và chế
ngự oán địch bên ngoài. Cũng vậy, Thánh đệ tử có tín
kiên cố, tin sâu nơi Như Lai, tín căn đã lập, trọn không
theo Sa-môn, Phạm chí, Ngoại đạo, cũng như Thiên ma, Phạm
thiên và các hạng thế gian khác. Đó là Thánh đệ tử có
vọng gác tín tâm để trừ ác và bất thiện, tu các thiện
pháp.
“Như Vương
thành ở biên giới đào hào vét ao thật sâu rộng, sửa sang
thật vững chắc, để có thể nương tựa, làm cho bên trong
được an ổn, và chế ngự oán địch bên ngoài. Cũng thế,
Thánh đệ tử thực hành tàm sỉ, điều đáng xấu hổ biết
xấu hổ, xấu hổ pháp ác, bất thiện, phiền não ô uế,
là thứ khiến thọ các ác báo, tạo gốc rễ sanh tử. Đó
là Thánh đệ tử có hồ ao tàm sỉ, trừ ác và bất thiện,
tu các thiện pháp.
“Như Vương
thành ở biên giới dọn dẹp những con đường nối liền
chung quanh cho bằng thẳng rộng rãi để bên trong được an
ổn và chế ngự oán địch bên ngoài. Cũng vậy, Thánh đệ
tử thực hành xấu thẹn điều đáng thẹn biết thẹn, thẹn
pháp ác, bất thiện, phiền não ô uế là thứ khiến thọ
các ác báo, tạo gốc rễ sanh tử. Đó là Thánh đệ tử có
con đường bằng thẳng hổ thẹn để trừ ác và bất thiện,
tu các thiện pháp.
“Như
Vương thành ở biên giới tập trung bốn binh chủng: tượng
quân, mã quân, xa quân, bộ quân, để bên trong được an ổn
và chế ngự địch quân ở bên ngoài. Cũng vậy, Thánh đệ
tử thường thực hành hạnh tinh tấn, đoạn trừ ác bất
thiện, tu các thiện pháp, luôn gắng sức bền chí, chuyên
nhất kiên cố, làm các điều thiện, không bỏ phương tiện
đoạn trừ ác bất thiện tu các thiện pháp, luôn tự khởi
ý, chuyên nhất, kiên cố, làm các gốc rễ thiện, không bỏ
phương tiện. Đó là Thánh đệ tử có quân lực tinh tấn
để trừ ác và bất thiện, tu các thiện pháp.
“Như Vương
thành ở biên giới, chuẩn bị binh khí, cung tên, mâu kích,
để bên trong được an ổn, và chế ngự oán địch bên ngoài.
Cũng vậy, Thánh đệ tử học rộng nghe nhiều, ghi nhớ không
quên, tích lũy sự nghe rộng. Các pháp nào là toàn thiện ở
khoảng đầu, toàn thiện ở khoảng giữa, toàn thiện ở khoảng
cuối, có nghĩa có văn, thanh tịnh trọn đủ, phạm hạnh hiển
hiện, học rộng nghe nhiều các pháp như vậy; học đến cả
ngàn lần, chú ý chuyên tâm quán sát, thấy rõ hiểu sâu. Đó
là Thánh đệ tử có binh khí đa văn, để trừ ác và bất
thiện, tu các thiện pháp.
“Như Vương
thành ở biên giới lập vị Đại tướng trấn thủ sáng suốt,
thao lược, cơ trí, tháo vác, dũng mãnh, cương nghị, giỏi
mưu chước, người hiền thì cho vào, kẻ bất lương thì ngăn
cấm, để bên trong được an ổn và chế ngự oán địch bên
ngoài. Cũng vậy, Thánh đệ tử thường thực hành nơi niệm,
thành tựu chánh niệm, những gì đã từng thực tập từ lâu,
đã từng nghe từ lâu, nhớ luôn không quên. Đó là Thánh đệ
tử có Đại tướng trấn thủ niệm để trừ ác và bất
thiện, tu các thiện pháp.
“Như Vương
thành ở biên giới xây đắp tường cao cho thật kiên cố,
trét bùn tô đất, để bên trong được an ổn, và chế ngự
oán địch bên ngoài. Cũng vậy Thánh đệ tử tu hành trí tuệ,
quán pháp hưng suy. Nhờ đó Thánh tuệ có thể thấu hiểu,
phân biệt rõ ràng mà hoàn toàn diệt tận khổ. Đó là Thánh
đệ tử có bức tường trí tuệ, để trừ ác và bất thiện,
tu các thiện pháp.
“Như Vương
thành ở biên giới có chuẩn bị sẵn nước, cỏ, củi, gỗ,
để bên trong được an ổn và chế ngự oán địch bên ngoài.
Cũng vậy, Thánh đệ tử ly dục và ác bất thiện pháp, có
giác có quán, có hỷ lạc do viễn ly, thành tựu an trụ Sơ
thiền, lạc trụ không thiếu thốn, an ổn khoái lạc, tự
mình đi đến Niết-bàn.
“Như Vương
thành ở biên giới thu nạp nhiều lúa gạo và chứa nhiều
cây lúa mạch, để bên trong được an ổn và chế ngự oán
địch bên ngoài. Cũng vậy, Thánh đệ tử đã dứt giác quán,
nội tỉnh nhất tâm, không giác không quán, hỷ lạc do định
sanh, thành tựu an trụ Nhị thiền, lạc trụ không thiếu thốn,
an ổn, khoái lạc, tự mình đi đến Niết-bàn.
“Như Vương
thành ở biên giới chứa nhiều niêm đậu, đại đậu, và
tiểu đậu, để bên trong dược an ổn và chế ngự oán địch
bên ngoài. Cũng vậy, Thánh đệ tử lìa hỷ dục, an trụ xả,
vô cầu[21],
chánh niệm chánh trí, thân cảm giác lạc, điều mà bậc Thánh
gọi là được xả bởi Thánh, có niệm và lạc, an trụ không,
thành tựu an trụ Tam thiền, lạc trụ không thiếu thốn, an
ổn khoái lạc, tự mình đi đến Niết-bàn.
“Như Vương
thành ở biên giới chứa cất bơ, dầu, mía, đường, cá,
muối, thịt khô, tất cả đầy đủ. Để bên trong được
an ổn và chế ngự oán địch bên ngoài. Cũng vậy, Thánh đệ
tử diệt lạc, diệt khổ; ưu và hỷ từ trước cũng đã
diệt, không khổ không lạc, xả và niệm thanh tịnh, thành
tựu an trụ Tứ thiền, lạc trụ không thiếu thốn, an ổn
khoái lạc, tự mình đi đến Niết-bàn”.
Phật
thuyết như vậy. Các Thầy Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết,
hoan hỷ phụng hành.
Chú thích
Tương đương
Pāli:
A. VII.6 43, Nagara-sutta. Biệt dịch, No.125 ( 39.4) Tăng
Nhất 33 “Đẳng
Pháp Phẩm” (Đại
2, tr.730).
Hán: thất sự cụ túc七
事 具 足. Pāli:
sattehi nagaraparikkārehi,
với bảy tư cụ bảo vệ thành trì.
Hán: lâu lỗ樓
櫓. Pāli:
esika, cột trụ bằng đá,
thạch trụ.
Hán: thực食. Pāli: āhāra.
Các bản Tống, Nguyên, Minh: sự事.
Hán: niêm đậu, đại
tiểu đậu黏
豆 大 小 豆.Pāli:
tila-mugga-māsāparaṇaṃ,
mè (vừng), đậu đỏ,
và các loại đậu
khác.
Bảy thiện pháp và bốn tăng
thượng tâm七
善 法 四 曾 上 心. Pāli:
satta-saḍhamma (bảy pháp vi diệu), và catu-jhāna-abhicetasika
(bốn Thiền tăng
thượng tâm).
Hán: bất vi Ma vương chi sở đắc
tiện不
為 魔 王 之 所 得 便. Pāli:
akaraṇīyo
marassa, không bị Ma vương chinh phục.
Hán: thâm trước Như Lai深
著 如 來. Pāli:
saddahati Tathāgatassa
bodhiṃ, tin tưởng sâu sắc sự giác ngộ của Như Lai.
Hán: tàm sỉ慚
恥 tức tàm, hổ thẹn. Pāli:
hirīmā.
Hán: tu quỷ羞
愧. Pāli:
ottappī.
Pāli: āraddha-viriya,
nỗ lực tinh cần.
Hán: hằng tự khởi ý恒
自 起 意. Pāli:
thāmavā,
có sức mạnh.
Hán: chuyên nhất kiên cố. Pāli:
dalhaparakamma, năng
lực bền bĩ.
Pāli:
anikkhittadhuro kusalesu dhammesu, không từ bỏ gánh nặng trong
các thiện pháp.
Hán: cụ túc thanh tịnh, hiển hiện phạm hạnh具
足 淸 淨 顯 現 梵 行. Pāli:
kevalaparipuṇṇaṃ parisuddhaṃ brahacariyau abhivadanti, (các pháp
ấy) tán thán phạm hạnh viên mãn và thanh tịnh.
Hán: ý sở duy quán意
所 性 觀. Pāli:
manasānupekkhatā, được
quán sát một cách có ý thức.
Hán: minh kiến, thâm đạt明
見 深 達. Pāli:
diṭṭhiyā
suppaṭiviḍhā,
lãnh hội bằng kiến giải.
Hán: cửu sở tằng tập, cửu sở tằng văn久所曾習久所曾聞.
Pāli:
cirakataṃ pi cirabhāsitaṃ,
những điều được
làm từ lâu, được
nói từ lâu.
Hán: quán hưng suy pháp觀
興 吹 法. Pāli:
udayatthagātaminiyā
paññāya
samannāgato,
thành tựu trí tuệ về sự sinh khởi và hoại diệt (của
các pháp).
Về bốn Thiền, xem các cht. 8-14 (kinh Thành Dụ) trên.
Hán: ly ư hỷ dục, xả, vô cầu du離
於 喜 欲 捨 無 求 遊. Pāli:
pītiyā
ca virāgā
ca uppekkako ca viharati: vị ấy sống (an trú) trong trạng thái
xả, không còn hỷ.