|
.
TRONG ĐỘNG
TUYẾT SƠN
TENZIN
PALMO và CUỘC SUY TẦM CHÂN LÝ
Nguyên
tác : Cave in The Snow Tenzin Palmo and The Quest For Enlightenment
Tác
Giả: Vickie Mackenzie - Người Dịch: Thích Nữ Minh Tâm
CHƯƠNG
MƯỜI BỐN
VỊ
ĐAO SƯ
Do
nhiều biến cố ngoài ý muốn, Tenzin bất đắc dĩ phải đảm
nhiệm vai trò giảng sư. Cô không hề vạch ra kế hoạch thay
đổi lạ lùng này, cũng không thích thú gì mấy trách nhiệm
lãnh đạo tinh thần đó; cô chỉ thích sống yên tịnh và
cô liêu để đạt mục tiêu thành đạo của cô; nhưng những
đòi hỏi cấp bách về tài chánh để thành lập một Ni viện
giúp cho các nữ tu khác bắt buộc Tenzin phải thay đổi kế
hoạch của riêng mình và đứng lên đảm trách công tác nặng
nề này.
Muốn
mua một mảnh đất gần Tashi Jong để xây tu viện phải cần
tới hàng 100.000 đô la để mua gạch, xi-măng, cát, đá, v.v...
; vì thế, Tenzin đã đi thuyết giảng hết trung tâm Phật giáo
này sang tu viện khác, giảng cho nhóm nghiên cứu này sang nhóm
tu học nọ, trao đổi, góp ý kinh nghiệm cá nhân về tâm linh
cũng như trí tuệ 30 năm tu học của cô để quyên góp tiền
bạc. Mặc dù công tác hoằng dương Phật pháp và lạc quyên
rất khó nhọc, và trải qua những tuần, những tháng, những
năm dài đi khắp mọi nơi trên thế giới để thuyết giảng,
Tenzin vẫn ôn hòa kiên nhẫn, bình tâm, và cư xử bình đẳng
trân trọng đối với mọi người (người cho 5 đô la hay người
cho 5000 đô la đều ngang hàng nhau, không thiên vị, phân biệt).
Tenzin
tâm sự:
-
"Các vị Lạt Ma cao cấp đã cầu nguyện và nói công tác xây
cất nữ tu viện này sẽ thành tựu. Tôi rất tin tưởng và
an tâm tiếp tục, không nản chí."
"Có
nhiều lúc tôi nghĩ làm sao tôi có thể đảm nhiệm trọng
trách này, tôi cũng không biết nữa. Nếu cách đây vài năm,
có người nói với tôi rằng nên đi thuyết giảng khắp thế
giới để quyên tiền, chắc tôi nghĩ là họ đã điên rồi.
Nhưng bây giờ, nếu tôi không làm thì
ai làm đây? Và đó cũng là cách báo ơn Sư Phụ của tôi."
Dòng
thời gian cứ lặng lẽ trôi
qua. Tenzin bắt đầu chương trình du thuyết của
cô tại Singapore năm 1994, một năm sau khi cô trình bày quan
điểm của cô về tình trạng Ni giới lên Đức Đạt Lai Lạt
Ma. Cô không chuẩn bị nên vừa đến Singapore, cô gặp trắc
trở liền. Không một ai biết Tenzin là ai, thế nào, và họ
cũng không biết là cô đã đến Singapore. Trong lúc bối rối
đó, cô bỗng gặp lại một người quen cũ, một người phụ
nữ Trung Hoa tên Wong Pee Lee. Thật là một sự gặp gỡ kỳ
thú, vì đêm trước Wong Pee Lee đã nằm mơ thấy Tenzin đứng
giữa các nữ thần Dakinis lộng lẫy với xiêm y lụa là đủ
mầu sắc. Trong giấc mơ, Wong Pee Lee nghe văng vẳng một giọng
nói vang lên: "Đã đến lúc nhà ngươi phải giúp đỡ các
phụ nữ khác !"
Tenzin
nói cho Wong Pee Lee biết về mục đích xây Ni viện của cô.
Giấc mơ của Wong Pee Lee đã ứng nghiệm. Wong Pee Lee bắt tay
thực hiện và buổi thuyết trình đầu tiên của hàng trăm
buổi giảng khác về sau được tổ chức với sự giúp đỡ
ủng hộ của rất đông người. Từ Singapore, Tenzin du thuyết
xuyên qua Đông Nam Á, vòng quanh Mã Lai Á (Malaysia), Đài Loan
(Taiwan), Brunei, Hồng Kông, Sarawak, Nam Dương (Indonesia), Cao Miên
(Cambodia), Phi Luật Tân (The Philippines), rồi tới nước Anh,
Pháp, Hoa Kỳ qua các tiểu bang Washington, Seatle, Nữu Ước,
Maryland, Vermont, Hạ uy Di; và qua lại vùng biển California trước
khi trở về Á Châu và lại đi thuết giảng một vòng
khắp các nước khác. Mỗi lần tổ chức thuyết giảng đều
có người giúp Tenzin soạn thảo chương trình. Bất cứ nơi
nào cô đến đều đông đảo người nghe và họ rất quan
tâm đến những kinh nghiệm sống tâm linh của một nữ tu
sĩ ẩn cư 12 năm trong động tuyết. Họ khát khao được nghe
giáo pháp và náo nức xem Tenzin chuyển đạt kinh nghiệm tâm
linh của cô như thế nào. Họ đã không thất vọng. Tenzin
đã chứng tỏ cô là một giảng sư, một đạo sư xuất sắc.
Tenzin đã nói với tất cả sự chân thành tận đáy tâm
hồn cô, không cần giấy, không cần chuẩn bị,
và với lời nói cứ tuôn ra đều đặn trong suốt như pha
lê. Đại chúng đã uống từng lời nói của Tenzin và từng
vấn đề của họ đã được Tenzin giải đáp. Hơn thế nữa,
tất cả mọi người như cảm nhận được làn sóng tâm linh
của cô trong những năm dài ẩn cư thiền định. Tenzin không
nói vòng vo tam quốc mà trực thẳng vào trung tâm vấn đề
một cách chân thành, cởi mở, thực tiễn, thẳng thắn, và
đầy thông minh, sắc sảo. Tenzin khác hẳn với các triết
gia hay các giảng sư khác chứa đầy những kinh sách chữ nghiã
vay mượn; cô nói bằng chính sự chứng nghiệm cá nhân thực
thụ, bằng sự nỗ lực tinh cần tu tập bền lâu, bằng niềm
tin sắt đá vào Tam Bảo, và Trí Tuệ Từ Bi khai phóng tự
nhiên.
Đối
với các vị Lạt Ma Tây Tạng khác gặp nhiều khó khăn trong
công tác hoằng dương truyền bá Phật pháp qua Tây Phương
vì ngôn ngữ bất đồng, văn hóa sai biệt và trình độ Anh
ngữ của các sư còn quá kém, nhất là giáo lý Phật giáo
Mật Tông lại quá thâm sâu khó hiểu; Tenzin được thuận
duyên hơn khi giảng giải Phật giáo đến các ngườI Âu Mỹ,
vì tiếng Anh là ngôn ngữ mẹ đẻ của cô và dù sao đi nữa,
là ngườI bản xứ, Tenzin quen với phong tục tập quán Âu
Mỹ hơn các vị tu sĩ Tây Tạng. Cô đã đi từ trung tâm thiền
viện Phật giáo Tây Tạng này qua những nhóm thiền sinh khác,
giảng Thiền Minh Sát cho các tín đồ cộng đồng Thiên Chúa
Giáo, ngay cả những nhóm phi tôn giáo cũng chịu tu tập nghiên
cứu giáo lý; và càng hoạt động Phật sự, tiếng tăm Tenzin
càng nổi lên như cồn bởi đức hạnh và trí tuệ uyên bác
của cô.
Khi
giảng cho một nhóm nghiên cứ trị liệu pháp ở Seatle, Tenzin
đã nói:
-
"Đầu óc chúng ta như bãi chứa đồ phế thải. Cái gì chúng
ta cũng chất chứa vào cái bãi đó. Những buổi tranh luận,
hội thảo, hội họp báo chí, những trò chơi giải trí, v.v...
chúng ta đều chất chồng trong đầu óc chúng ta, và đó là
lý do vì sao chúng ta mệt mỏi quá. Chúng ta mệt mỏi vì chúng
ta ôm đồm quá, tham lam quá nên không chịu buông
bỏ gì hết.
"Tôi
rất hoan nghinh công việc các bạn đang làm. Các bạn chọn
công việc này không phải chỉ vì miếng ăn sự sống - nếu
chỉ là kiếm sống thì dễ quá - nhưng các bạn chọn công
việc này vì các bạn muốn giúp đỡ người khác. Các bạn
đã cho đi tất cả những gì các bạn có, và các bạn cũng
cần tiếp thu lại, nếu không, đầu óc các bạn sẽ giống
như những cái thùng rỗng tuếch. Chúng ta luôn luôn cho đi
và nhận lại, cho đi và nhận lại."
"Người
ta thường nghĩ rằng mỗi khi họ mệt, cần phải nghỉ ngơi
thì họ bật TV lên, hay ra ngoài dạo phố, hoặc uống vài
ly bia rượu, v.v... nhưng thực ra, những thức đó không
giúp được gì mà trái lại, còn nhồi nhét sự mỏi mệt
thêm vào đầu óc vốn đã căng thẳng vì bao công việc - ngay
cả giấc ngủ cũng chưa chắc đã là sự nghỉ ngơi thực
sự.
"Muốn
được yên nghỉ thực sự và hoàn toàn, chúng ta cần chuẩn
bị sẵn cho chúng ta một khoảng trống vắng, yên tịnh tâm
linh. Chúng ta cần dọn dẹp sạch sẽ đống rác trong cái bãi
chứa, và lắng đọng lại những tiếng động bên trong, và
phương cách thực hiện để tìm sự yên tịnh tâm hồn là
Thiền Quán trong Tỉnh Thức. Đó là phương cách hữu hiệu
nhất để giúp cho đầu óc chúng ta được nghỉ ngơi nhưng
nhậy bén. Chỉ cần 05 phút thôi, chúng ta sẽ cảm thấy con
người chúng ta tươi mát trở lại, tinh xảo trở lại, minh
mẫn trở lại, nhậy bén trở lại."
"Người
ta hay nói: "Tôi không có thì giờ để thiền, không có thì
giờ để nghỉ, không có thì giờ để làm cái này cái nọ,
v.v.." Điều đó không đúng. Chúng ta có thể thiền khi đi
dọc hành lang sở làm hay nhà, khi đợi máy vi tính thay đổi
những chương trình, hay khi chúng ta dừng xe ở đèn đỏ các
ngã tư, khi đứng xếp hàng, khi vào phòng tắm, hay cả khi
chải đầu. Chúng ta hãy tỉnh giác trong từng giây phút, ý
thức trong từng hành động. Chúng ta thử chọn một việc
làm nào đó trong ngày và tập trung hoàn toàn tư tưởng vào
nó, và rồi chúng ta sẽ thấy kết quả ngoài ý muốn - Một
sự thư giản và tỉnh thức thức trọn vẹn .
"Thiền
định không phải là chỉ ngồi yên trong hang động cả 12
năm, mà chính là phải tu tập từng phút, từng ngày. Chúng
ta thực tập hạnh bố thí, nhẫn nhục, tinh tấn ở đâu?
Pháp Phật không phải là những giáo điều nói suông, rỗng
tuếch - Pháp Phật vi diệu ở nơi thực hành để chuyển hóa
tâm thức; những sự chuyển hóa tâm thức đó sẽ không bao
giờ đạt được kết quả nếu chúng ta mê muội cho là chỉ
cần ngồi yên thiền định và không hiểu biết lý lẽ của
các pháp vốn biến chuyển sinh diệt từng giây phút trong dòng
sinh mệnh của con người. Lý do đơn giản là chúng ta đã
quên, đã đánh mất đi thực tại."
Chúng
ta nghĩ giác ngộ là một cái gì thật là to lớn, thật vĩ
đại, thật phi thường - nhưng chúng ta đã lầm.
"Giác
ngộ chân lý thật ra vô cùng đơn giản, nó ở ngay trước
mắt chúng ta, ngay trong phút giây hiện tại và bây giờ. Và
một khi chúng ta ý thức được hiện tại, chúng ta giác ngộ
được chân lý.
"Tiếng
Sanskrit gọi là Tâm Thức là "Smriti", tiếng Pali gọi nó là
"Sati", và tiếng Tây Tạng là "Drenpa". Nói chung, tất cả đều
có nghiã là "Hồi tưởng, Nhớ lại". Khái niệm đó quả không
dễ hiểu. Nếu Tâm Thức còn có một nghiã "Hồi Tưởng, Nhớ"
thì kẻ thù của nó là "Quên Lãng". Chúng ta chỉ tỉnh thức
trong chốc lát và rồi chúng ta lại quên. Quên rồi nhớ, nhớ
rồi quên. Vấn đề rắc rối là ở chỗ đó, vì sao? Bởi
vì chúng ta không có thói quen nhớ nên cứ hay quên.
Cái
đau khổ nhất của con người là họ luôn nhìn sự vật qua
lăng kính khái niệm, phán xét, hay suy diễn. Thí dụ như khi
chúng ta nhìn một người nào đó, chúng ta không nhìn đúng
người đó đang là, mà chúng ta nhìn người đó qua sự liên
hệ giữa ta và người đó, qua tình cảm cá nhân chúng ta thích
hay không thích họ, hay người đó gợi cho chúng ta nhớ lại
kỷ niệm gì, hình bóng nào, hoặc là người đó có những
đức tính hay cá tánh gì hợp vớI chúng ta - Đối với tất
cả sự vật, chúng ta đều đánh giá qua
những giác quan thấy, nghe, nếm, ngửi, sờ mó, cộng
thêm suy tưởng và kinh nghiệm của chúng ta. Và rồi, ý thức
và kinh nghiệm đó đã đánh lừa chúng ta và biến chúng ta
thành những con người máy móc, điều kiện. Hễ ai bấm nút
thì người máy đó cử động, nói năng."
"Có
người sẽ nghĩ rằng "Vậy thì đã sao đâu? Có gì quan trọng
đâu?" Nhưng rồi chúng ta sẽ dần dần tách rời thực tại,
quên lãng kinh nghiệm, và chúng ta đánh mất luôn con người
thật của chính chúng ta.
"Những
gì chúng ta cần làm là đem tất cả sự vật trở về lại
nguyên vẹn hình hài, bản thể của chúng, và nhìn vạn vật
"y như chúng "đang là"; giống như cái nhìn trong sáng, hồn
nhiên của đứa bé con không đốI đãi, không phân biệt. Đứa
bé con nhìn mầu sắc và các hình dáng không qua một lăng kính
phán xét nào, đánh giá nào; tâm hồn đứa bé thật tươi
mát, trong trắng làm sao ! Đó, trạng thái hồn nhiên tự tại
đó chính là cái mà chúng ta phải có trở lại, phải áp dụng
trở vào lại đời sống hàng ngày của chúng ta. Nếu chúng
ta có thể tập làm được như vậy, tự nhiên chúng ta sẽ
chuyển hóa được chính mình và ngoại cảnh."
"Ngài
Milarepa đã từng nói: "Càng nhiều sóng gió, càng thêm hưng
phấn", bởi vì ngài đã cưỡi lên được đầu ngọn sóng
phiền não và lèo lái ngọn sóng đó một cách khéo léo và
thăng bằng.
"Đứng
ở một lập trường quan điểm trí tuệ, chúng ta cũng nên
thích ứng trở thành một con cọp hơn là một chú thỏ con
hiền lành. Những chú thỏ thì rất dễ thương, mũm mĩm, nhưng
chúng nó không có đủ năng lực để vượt qua trở ngại.
Trái lại, những con cọp dù hung dữ, nhưng với năng lực
mạnh mẽ sẵn có, nếu biết sử dụng khéo léo, thì năng
lực đó chính là sự cần thiết quan trọng nhất để đối
địch chốn rừng sâu của loài cọp.

|