|
.
TRONG ĐỘNG
TUYẾT SƠN
TENZIN
PALMO và CUỘC SUY TẦM CHÂN LÝ
Nguyên
tác : Cave in The Snow Tenzin Palmo and The Quest For Enlightenment
Tác
Giả: Vickie Mackenzie - Người Dịch: Thích Nữ Minh Tâm
CHƯƠNG
MƯỜI BA
THỰC
HỊÊN ƯỚC MƠ
Một
buổi sáng tháng 3 năm 1993 tại Dharamsala, trước kia là trụ
sở của Anh trên một ngọn đồi ở Himachal Pradesh, Bắc Ấn,
nay là chỗ cư ngụ của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 và chính
phủ lưu vong của Ngài, Tenzin Palmo được mời tham dự buổi
hội thảo Phật giáo Tây Phương đầu tiên với chủ đề
"Những vấn đề liên quan đến sự truyền bá Đạo Phật
sang phương Tây." Cùng tham dự với Tenzin có 21 vị đại diện
các tông phái Phật giáo chính thống ở Âu Châu và Mỹ Châu,
cũng như các vị Lạt Ma nổi tiếng của các dòng truyền thừa
Phật giáo Tây Tạng. Buổi thảo luận xoay chung quanh những
chủ đề như: "Vai trò của vị lãnh đạo tinh thần", "Những
khác biệt tâm lý giữa Đông Phương và Tây Phương", "Những
tiêu đề đạo đức", v.v... bỗng một nữ cư sĩ người Đức,
Sylvia Wetzel, phát biểu ý kiến về "Vai trò của phụ nữ trong
Phật giáo."
Khi
Sylvia Wetzel tung ra ngón đòn độc đáo này, cả hội trường
chợt nín lặng. Sylvia đứng lên mời Đức Đạt Lai Lạt Ma
và tất cả quan khách hãy cùng cô ta thử tưởng tượng như
thế này:
-
"Xin qúy vị hãy tưởng tượng mình là một người đàn ông
duy nhất đi vào một trung tâm Phật giáo. Qúy vị thấy bức
tranh của Nữ Bồ Tát Tara và 16 vị Nữ La Hán. Qúy vị cũng
thấy Nữ Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, hóa thân của 13 vị Nữ
Đạt Lai Lạt Ma trong quá khứ cũng đã lần lượt hóa thân
từ hình tướng một người nữ. Qúy vị bị vây bọc xung
quanh toàn là các vị "Nữ Lạt Ma Cao Cấp" xinh đẹp, khỏe
mạnh, và trí tuệ. Qúy vị lại thấy hàng lô các ni cô hoạt
bát, mẫn tiệp, đầy tự tin, và nổi bật. Và qúi vị lại
thấy những nam tu sĩ rụt rè, khép nép,e sợ, đi vào đằng
sau các ni cô. Qúi vị đã nghe, đã biết sự kế tục tuyền
thừa các vị Lạt Ma Nữ từ đời nữ Bồ Tát Tara truyền
xuống cho đến nay."
-
"Tại sao các biểu tượng Bồ Tát toàn là người nữ không
vậy?"
Sylva
giả bộ làm vị Nữ Lạt Ma trả lời:
-
"Ồ, đừng lo. Nam và Nữ đều bình đẳng; ồ, gần như vậy.
Chúng ta cũng có vài bộ kinh sách nói là "Sanh ra làm người
Nam thì vị trí thấp kém hơn và phải gặp nhiều khó khăn
hơn vì tất cả các vị lãnh đạo tinh thần, thể chất, và
chính trị đều là người nữ cả - nhưng không sao, trên giấy
trắng mực đen, chúng ta đều bình đẳng."
"Rồi
lại có một nam cư sĩ rất ngây thơ, đến hỏi một vi tu
sĩ thuộc tông phái Đại Thừa Phật giáo:
-
"Tôi là một người đàn ông, làm sao tôi có thể nhận diện
được tôi như thế nào khi xung quanh toàn là biểu tượng
Nữ thế này?"
Sylvia
lại giả bộ trả lời:
-
"Con cứ quan niệm về Chân Không. Trong Chân Không, không có
nam, không có nữ, không có hình tướng - không có gì cả thì
đâu có vấn đề gì phải lo, phải không?
"Rồi
qúi vị lại đi đến một vị tu sĩ Mật Tông và hỏi:" "Họ
là phụ nữ, còn tôi là đàn ông. Tôi không biết phải làm
sao để giao tiếp cư xử với họ?" và Sylvia lại trả lời:
"Ồ, các người nam xinh đẹp kia ơi, thật tốt làm sao khi
các vị sanh ra làm người nam để giúp người nữ chúng tôi
mau đắc thành Chánh Giác." v.v... và v.v...
Sylvia
nêu ra một loạt các lời biện luận đối xử phân biệt
giữa Nam và Nữ với một thái độ duyên dáng, buồn cười
đến nỗi tất cả mọi người ngay cả Đức Đạt Lai Lạt
Ma phải bật cười ha hả.
Sylvia
đã nói lên tiếng nói của hàng triệu con tim phụ nữ từ
ngàn xưa tới nay. Họ đã kiên nhẫn chịu đựng, chấp nhận
một cách câm lặng từ hơn 2500 năm qua và nay, họ phải lật
đổ sự chèn ép phi lý của phái nam trên bản thân người
nữ.
Những
người khác hưởng ứng theo Sylvia. Một vị giảng sư và tác
giả Phật học, Ni Sư người Mỹ Thubten
Chodron, nói: "Chính bản thân tôi cũng đã bị đối xử
thiên lệch như vậy trong những khóa tu hay ở thiền viện,
mặc dù người ta khéo che giấu nhưng tôi vẫn nhận ra sự
thiên kiến trọng nam khinh nữ đó."
Một
vị thiền sư phát biểu:
-
"Đây quả đúng là một sự thách đố gay cấn thú vị cho
phái nam phải thấy rõ tiềm năng người nữ và chấp nhận
sự thật."
Một
vị tăng sĩ Phật giáo Tây Tạng người Mỹ, Thubten Pende cũng
bày tỏ ý kiến của ông: "Khi tôi dịch những kinh sách có
nói về luật xuất gia, tôi rất ngạc nhiên và sửng sốt
là giới ni bị áp đặt quá mức như: một vị Ni Trưởng
nhiều tuổi hạ vẫn phái đi sau một vị tăng sa di, mặc dù
tuổi đời, tuổi đạo của vị ni trưởng đó cao hơn, lớn
hơn; nhưng tại vì là nữ nên phải chấp nhận như vậy. Tôi
có nghe nói về điều này nhưng tôi chưa hề tìm ra chứng
cớ về điều luật đó. Trong một giới đàn, tôi phải đọc
lên điều luật đó và tôi cảm thấy bối rối lẫn xấu
hổ về sự phân chia cách biệt đó. Tôi đã tự hỏi: "Nếu
bị xếp đặt như vậy, tại sao vị ni sư đó không đứng
lên và rời khỏi? Nếu là trường hợp tôi, tôi sẽ không
tham dự nếu đối xử kỳ thị với tôi như vậy."
Một
vị tăng sĩ phái Nguyên Thủy người Anh, Thượng Tọa Ajah
Amaso cũng nói:
-
"Khi thấy giới ni không được nhận sự cung kính tôn trọng
như tăng sĩ, tôi cảm thấy đau lòng vô cùng; cũng giống như
ai đó cầm cái giáo, cái mác đâm vào ngực tôi vậy."
Và
giờ đến lượt Tenzin Palmo phát biểu:
-
"Khi tôi mới đến Ấn, tôi sống trong một tu viện có đến
cả trăm vị tăng. Tôi là vị ni cô duy nhất ở đó. Sự đối
xử kỳ thị của các tăng sĩ đã khiến tôi quyết định
rời bỏ tu viện để lên động tuyết ở. Các vị tăng rất
tử tế, tôi cũng chẳng hề bị gây rối tình dục hay bất
cứ một vấn đề nào khác, nhưng phải nói là tôi bị cư
xử khác biệt vì tôi là phái nữ. Họ thường nói với tôi
là họ luôn cầu nguyện cho tôi chuyển được thân nam vào
kiếp sau để tôi có thể gia nhập vào Tăng đòan và được
tu học như họ. Họ cũng không chống đối tôi quá mức vì
tôi là nữ, nhưng dù sao đi nữa, tôi vẫn
phải chấp nhận sự coi thường rẻ rúng đó trong tu
viện cũng như của các tín đồ."
"Các
vị Lạt Ma đã cạo đầu, làm lễ xuất gia cho giới ni, nhưng
họ đã phủi sạch tay và quăng bỏ các ni cô ra ngoài, không
dạy bảo, không chuẩn bị cho họ gì cả, không khuyến khích,
không nâng đỡ hay hướng dẫn - hơn nữa, các ni cô phải
tinh nghiêm giữ giới, nỗ lực tu hành và điều khiển các
tu viện. Thật là khó khăn và tôi rất ngạc nhiên là có nhiều
thiền viện Phật giáo Tây Phương được xây cất nhưng nhiều
ni cô đã hoàn tục. Họ đã vào tu với tấm lòng khao khát
tìm đạo, hăng say hướng thượng, niềm tin chân chánh và
sẵn sàng xả thân hy sinh vì đạo pháp, nhưng không có một
ai giúp đỡ họ cả.
"Kính
bạch Đức Đạt Lai Lạt Ma, đó là một sự thật chưa từng
xảy ra trong lịch sử Phật giáo ngày xưa."
"Trong
quá khứ, Tăng đòan được tổ chức rất chặt chẽ, được
Phật tử cúng dường và bảo vệ. Nhưng ở phương Tây thì
không được như vậy. Tôi thực sự không hiểu tại sao. Có
rất ít tu viện Phật giáo ở phương Tây, và hầu hết là
theo truyền thống Nguyên Thủy Phật giáo. Như qúi vị đã
biết, các ni cô tu theo Phật giáo Nguyên Thủy thì kể như
không có tiếng nói hay vị trí gì cả. Sự phân biệt kỳ
thị rõ ràng đó là một sự thật không thể chối cãi được."
"Tận
cùng thâm tâm, tôi luôn cầu nguyện rằng sự trong sáng thanh
cao của đời sống xuất gia và chánh pháp sẽ không bao giờ
bị chôn vùi trong đống bùn lãnh đạm và khinh miệt phi lý
giữa người và người, giữa nam và nữ như vậy."
Tenzin
Palmo đã thống thiết chân thành nói lên tất cả cảm nghĩ
của mình khiến cử tọa đều xúc động; ngay Đức Đạt
Lai Lạt Ma cũng đỏ hoe đôi mắt. Ngài chậm rãi lau kính,
nói nhẹ nhàng: "Cô thật can đảm."
Bài
diễn văn ngắn gọn của Tenzin đã đánh dấu bước đầu
thực hiện ước mơ thành lập nữ tu viện của cô. Cô đã
dám can đảm phê bình hệ thống cũ rích của Tăng đoàn,
nhưng nói là một lẽ, còn cần phải hành động
nữa; và ai sẽ là người đứng lên đảm nhiệm trọng trách
cải tổ hệ thống Tăng đòan?
Những
kinh nghiệm rút tỉa được trong sự cô độc và đối xử
kỳ thị phân biệt ở Dalhousie nay lại giúp Tenzin làm tròn
vai trò lãnh đạo của mình. Cô đã chờ đợi gần 30 năm
mới có cơ hội để bày tỏ ý kiến cá nhân, phản đối
lại hệ thống cũ mòn của Giáo hội, nhưng chậm vẫn còn
hơn không. "Thời điểm giải phóng phụ nữ đã đến rồi
!". Tenzin biết rất rõ con đường trí tuệ mà giới nữ đang
bước tới sẽ gặp nhiều gập ghềnh khó khăn. Cô đã đau
khổ, đã chịu đựng, nhưng chắc chắn cô phải vượt qua
và giúp giới Nữ tu khắc phục khó khăn. Tenzin bắt đầu
giúp các ni cô Tây Phương ở Bồ Đề Đạo Tràng tổ chức
một cuộc hội thảo để trao đổi quan niệm và giải quyết
một số vấn đề về tài chánh và cộng đồng. Sau đó, cô
lại ủng hộ một nhóm phụ nữ khác đòi hỏi quyền lợi
được thọ giới Tỳ Khưu Ni. Tenzin cũng định sẽ nhập thất
trở lại nhưng một công tác Phật sự tối cần thiết hơn
chờ đợi Tenzin - đó là thành lập một nữ tu viện theo tông
phái Drukpa Kargyu của cô. Ý định này đã được Tenzin ấp
ủ từ lâu theo kế hoạch của Sư Phụ là ngài Khamtrul Rinpoche.
Khamtrul Rinpoche đã chỉ một mảnh đất vùng thung lũng Kangra,
nơi ngài đã xây lại tu viện Tashi Jong, và nói : "Sau này,
con có thể xây dựng một nữ tu viện tại đây." Lúc đó,
Tenzin chưa nghĩ tới việc thành lập một nữ tu viện, vì
có vẻ xa vời quá. Nhưng nay, cô đã già hơn, chững chạc
hơn, và đã xong thời hạn 12 năm ẩn cư ở động tuyết,
và nhập thế trở lại. Cô nghĩ bây giờ là phải lúc để
thực hiện Phật sự quan trọng này vì các ni cô người Tây
Tạng đang cần sự giúp đỡ của Tenzin hơn ni chúng Tây Phương.
Cũng như tình trạng bên ni giới Tây Phương, giới nữ tu Tây
Tạng không có nơi chốn nhất định để ở hay để đi, bởi
vì họ đã bị người ta bỏ quên qua một bên để gấp rút
xây tu viện cho Tăng chúng tị nạn khỏi Tây Tạng. Ni chúng
còn bị giảm bớt đi trong số các người nấu
cơm cho Tăng chúng hay là bắt buộc phải
về gia đình lại để tiết kiệm ngân khoản của chùa.
Điều đó khiến Tenzin đau buồn vô cùng.

|